Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Vận dụng tư tưởng sư phạm tích hợp trong dạy học một số kiến thức về “chất khí” và “cơ sở của nhiệt động lực học”(vật lý 10 – cơ bản) nhằm phát triển hứng thú và năng lực vậ .pdf

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
THAI NGUYEN UNIVERSITY
COLLEGE OF EDUCATION




DINH XUAN GIANG

APPLYING INTEGRAL PEDAGOGY IN TEACHING SOME KNOWLEDGE
ABOUT "GAS" AND "THE BASIS OF THERMODYNAMICS” (PHYSICS 10
- BASIC) TO DEVELOP STUDENT’S INTEREST AND CAPABILITY TO
USE KNOWLEDGE




MASTER THESIS IN EDUCATION

Speciality: Theory and Methods of teaching Physics
Code of speciality: 60.14.10


Scientìfic Instructor: Assoc. Prof. Dr NGUYEN VAN KHAI






Thai Nguyen - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
1
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các Thày, cô giáo trong khoa Sau
đại học, khoa vật lý trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo
những điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứu tại khoa. Tôi xin chân thành cảm ơn Thày giáo hướng dẫn PGS.TS
Nguyễn Văn Khải - Đại học sư phạm Thái nguyên đã tận tình chỉ dẫn và đóng
góp những ý kiến quý báu giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cảm ơn sâu sắc tới lãnh đạo Sở GD&ĐT Thái nguyên, Ban giám hiệu,
các thày cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp ở các trường dạy thực nghiệm sư
phạm đã tạo điều kiện và nhiệt tình đóng góp ý kiến giúp đỡ tôi trong quá
trình thực nghiệm và hoàn thành khoá học.


Thái nguyên, tháng … Năm 2009



Đinh Xuân Giang








Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2
MỤC LỤC
Mục lục …………………………………………………………………… 2
Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn ……………………………… 5
Danh mục các bảng, biểu và đồ thị ……………………………………… 6
Mở đầu ……………………………………………………………………. 7
Chương I : Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng tư tưởng
sư phạm tích hợp để phát triển hứng thú và năng lực vận dụng kiến thức
của học sinh
1.1. Tổng quan ………………………………………………………… 11
1.1.1. Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp………………… 11
1.1.2.Tình hình nghiên cứu và vận dụng dạy học tích hợp………………. 12
1.2. Mục tiêu và các khái niệm cơ bản của dạy học tích hợp …… 17
1.2.1.Mục tiêu của dạy học tích hợp ……………………………… 17
1.2.2. Các đặc trưng cơ bản của dạy học tích hợp………………… 18
1.2.3. Các khái niệm cơ bản của dạy học tích hợp ……………… 18
1.3. Dạy học tích hợp với việc phát triển hứng thú và năng lực vận dụng
kiến thức của học sinh……………………………………………………. 23
1.3.1. Hứng thú và hứng thú học tập ở người học ……………………… 23
1.3.2. Năng lực và năng lực vận dụng kiến thức của học sinh …………… 25
1.3.3. Hứng thú và năng lực vận dụng kiến thức của học sinh đối với
chất lượng dạy học………………………………………………… 26
1.3.4. Phát triển hứng thú và năng lực vận dụng kiến thức của học sinh 27
1.3.5. Dạy học tích hợp và việc phát triển hứng thú, năng lực vận dụng
kiến thức của học sinh trong dạy học vật lý………… 29
1.3.6. Các biện pháp vận dụng dạy học tích hợp để phát triển hứng thú
Và năng lực vận dụng kiến thức vật lý của học sinh ……………………. 31
1.4. Thực trạng dạy học các kiến thức về “ Chất khí” và “ Cơ sở của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
3
nhiệt động lực học” ở trường phổ thông ………………………………… 39
1.4.1.Mục đích và Phương pháp điều tra ………………… 39
1.4.2. Thực trạng học các kiến thức về “ Chất khí” và “ Cơ sở của nhiệt
động lực học” của học sinh ……………………………………………… . 40
1.4.3. Thực trạng dạy các kiến thức về “ Chất khí” và “ Cơ sở của nhiệt
động lực học” - Vật lý 10 cơ bản ………………………………………… 42
Kết luận chương I ……………………………………………………… 45

Chương II : Xây dựng tiến trình dạy học tích hợp một số bài về “ Chất khí”
và “ Cơ sở của nhiệt động lực học” nhằm phát triển hứng thú và năng
lực vận dụng kiến thức của học sinh
2.1. Chương trình, SGK vật lý 10 – cơ bản và nội dung kiến thức chương
“ Chất khí” và “ Cơ sở của nhiệt động lực học” ……………………… 47
2.1.1. Chương trình SGK vật lý 10 – cơ bản …………………………… 47
2.1.2.Vị trí, vai trò kiến thức về “Chất khí” và “Cơ sở của nhiệt
động lực học” …………………………………………………………… 49
2.1.3. Nội dung kiến thức cơ bản chương “ Chất khí” và “ Cơ sở của
nhiệt động lực học” sách giáo khoa vật lý 10 cơ bản …………………… 51
2.2. Xây dựng tiến trình dạy học tích hợp một số bài học chương “ Chất khí”
và “ Cơ sở của nhiệt động lực học”……………………………………… 51
2.2.1. Xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp cho một bài học cụ thể 51
2.2.2. Xây dựng tiến trình dạy học tích hợp cho một số bài học chương
“ Chất khí” và “ Cơ sở của nhiệt động lực học” …………………. …… 56
Bài 1: Cấu tạo chất. Thuyết động học phân tử chất khí ………………… 56
Bài 2: Nội năng và sự biến đổi nội năng ………………………………… 64
Bài 3 : Các nguyên lý của nhiệt động lực học ……………………………. 72
Kết luận chương II ……………………………………………………… 85
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
4
Chương III. Thực nghiệm sư phạm
3.1. Mục đích, nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm……………………… 86
3.2. Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm………………… 87
3.3.Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm ………………. 89
3.4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm …………………………………… 90
3.5. Kết quả và xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm ……………………. 95
3.6. Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm ………………………… 107
Kết luận chương III …………………………………………………… 109
Kết luận chung ……………………………………………………… 110
Tài liệu tham khảo …………………………………………………… 112
Phụ lục ………………………………………………………………… 115
















Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Dạy học tích cực ………………………………………… DHTC
Dạy học tích hợp ………………………………………… DHTH
Công nghệ thông tin ……………………………………….CNTT
Đối chứng ………………………………………………….ĐC
Giáo dục kỹ thuật tổng hợp ……………………………….GDKTTH
Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp……………. GDKTTH&HN
Giáo dục hướng nghiệp ……………………………………GDHN
Giáo dục môi trường ………………………………………GDMT
Giáo dục tư tưởng ……………………………………… GDTT
Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng …………… GDTGQVBC
Giáo viên ………………………………………………….GV
Học sinh ………………………………………………… HS
Kỹ thuật tổng hợp …………………………………………KTTH
Nhà xuất bản ………………………………………………NXB
Khoa sư phạm tích hợp ……………………………………KSPTH
Phương pháp dạy học …………………………………… PPDH
Phương tiện dạy học ………………………………………PTDH
Sách giáo khoa …………………………………………….SGK
Sư phạm tích hợp ………………………………………….SPTH
Tư tưởng sư phạm tích hợp ……………………………….TTSPTH
Trung học phổ thông ………………………………………THPT
Thực nghiệm ………………………………………………TN
Thực nghiệm sư phạm …………………………………….TNSP


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
6
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU VÀ ĐỒ THỊ

Bảng 1.1. Hứng thú và mức độ tích cực của học sinh ………………… 40
Bảng 1.2 . Cách thức học tập, khả năng nhận thức của học sinh …… 41
Bảng 1.3. Phương pháp và phương tiện dạy học ……………………… 43
Bảng 3.1. Đặc điểm chất lượng học tập bộ môn của lớp TN , ĐC … 87
Bảng 3.2. Hứng thú và mức độ tích cực của HS sau khi TNSP … 97
Bảng 3.3. Cách thức học tập, khả năng nhận thức của HS sau TNSP 97
Bảng 3.4. Kết quả kiểm tra lần 1 ……………………………………… 98
Bảng 3.5. Xếp loại bài kiểm tra số 1 ………………………………… 99
Biểu đồ xếp loại bài kiểm tra số 1 ………………………………… 99
Bảng 3.6. Phân phối tần suất kết quả bài kiểm tra số 1…………… 100
Đồ thị đường phân phối tần suất bài kiểm tra số 1 ………………… 100
Bảng 3.7. Kết quả kiểm tra lần 2 …………………………………… 101
Bảng 3.8. Xếp loại bài kiểm tra số 2 ………………………………… 102
Biểu đồ xếp loại bài kiểm tra số 2 ………………………………… 102
Bảng 3.9. Phân phối tần suất kết quả bài kiểm tra số 2………… 103
Đồ thị đường phân phối tần suất bài kiểm tra số 2 ……………… 103
Bảng 3.10. Kết quả kiểm tra lần 3 ………………………………… 104
Bảng 3.11. Xếp loại bài kiểm tra số 3 ……………………………… 105
Biểu đồ xếp loại bài kiểm tra số 3 …………………………………… 105
Bảng 3.12. Phân phối tần suất kết quả bài kiểm tra số 3………… 106
Đồ thị đường phân phối tần suất bài kiểm tra số 3 ……………… 106
Bảng 3.13. Thống kê kết quả của 3 lần kiểm tra ………………… 107



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
7
MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, việc đổi mới công tác giáo dục diễn ra rất sôi
động trên thế giới và ở nước ta. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước ta đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới đồng bộ cả mục đích, nội dung,
phương pháp và phương tiện dạy học. Trên cơ sở phát huy thành tựu của nền
giáo dục trong nước và tiếp thu những thành tựu mới của khoa học giáo dục
thế giới, phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta sao cho có tính hiệu quả và
khả thi.
Định hướng trên được đưa ra trong Luật giáo dục năm 2005 là [1] “ Mục tiêu
của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,
tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt nam Xã hội
chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân…” .
Các hoạt động dạy- học ở nhà trường phổ thông hiện nay chiếm vị trí đặc
biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của
học sinh - những người lao động mới xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Hệ thống
các môn học, các hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông hiện nay rất
phong phú và đa dạng. Nâng cao chất lượng dạy học là nhiệm vụ trọng tâm
của các nhà trường hiện nay, để nâng cao chất lượng dạy học thì việc phát
triển ở HS hứng thú và năng lực vận dụng kiến thức là vô cùng cần
thiết.Trong luật giáo dục đã chỉ rõ [1]:
“ …Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ; tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh…”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
8
Chúng ta đều biết kiến thức của HS là kết quả của quá trình nhận thức, là tiền
đề của hoạt động sáng tạo trong quá trình tìm hiểu và cải tạo thế giới của
họ.Việc nắm vững kiến thức của HS thông qua các dấu hiệu: Tính chính xác,
hệ thống, khái quát, bền vững và tính áp dụng và khả năng vận dụng chúng .
Tính áp dụng được của kiến thức và khả năng vận dụng chúng là dấu hiệu bản
chất của chất lượng lĩnh hội kiến thức, là cơ sở phát triển năng lực tư duy
sáng tạo, kỹ năng và thói quen vận dụng kiến thức vật lý vào thực tiễn đời
sống sản xuất. Hiện nay chương trình, SGK được biên soạn theo hướng giáo
dục HS toàn diện về kiến thức, kỹ năng, thái độ tình cảm, GDKTTH. Tuy
nhiên việc hình thành kiến thức vật lý cho HS phần lớn do quyết định của GV
và mục đích của việc học tập là nhằm áp dụng vốn kiến thức vào hoạt động
thực tiễn để hiểu thế giới và có khả năng biến đổi nó vì lợi ích của cộng
đồng.Vậy làm thế nào để phát triển hứng thú và năng lực vận dụng kiến thức
của HS trong các bài học vật lý? Chính tư tưởng sư phạm tích hợp đã gợi ý
cho tôi hướng nghiên cứu của đề tài. Vì vậy tôi chọn đề tài “ Vận dụng tƣ
tƣởng sƣ phạm tích hợp vào dạy học một số kiến thức về “Chất khí” và
“Cơ sở của nhiệt động lực học” ( vật lý 10 – cơ bản ) nhằm phát triển
hứng thú và năng lực vận dụng kiến thức của học sinh ”.

II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu vận dụng dạy học tích hợp nhằm phát triển hứng thú và năng
lực vận dụng kiến thức của HS trong quá trình dạy học vật lý.

III. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Hoạt động dạy và học vật lý ở các THPT.
- Quá trình dạy học một số bài học chương “Chất khí” và “ Cơ sở của
nhiệt động lực học” chương trình lớp 10 THPT.

Du lịch đối với dân tộc thiểu số ở huyện Sapa, tỉnh Lào Cai .doc

Các ý kiến đợc nêu trong báo cáo này chỉ là của các tác giả, không nhất thiết phản ánh
quan điểm của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế tại Việt Nam hay của Dự án Du lịch
Bền vững.


Giới thiệu chung
Du lịch là một trong những ngành "hết sức phụ thuộc vào môi trờng thiên nhiên cũng nh
vào các đặc trng văn hoá và xã hội của c dân bản địa". Việt Nam đang trong quá trình
chuyển đổi cơ cấu kinh tế và xã hội. Du lịch Việt Nam là một ngành công nghiệp non trẻ,
đầy tiềm năng và hứa hẹn, nhng nó cũng có thể tiềm ẩn những hậu quả tiêu cực trên nhiều
phơng diện mà cần đợc chú ý khắc phục kịp thời vì sự phát triển của nó nói riêng và của
Kinh tế và Xã hội Việt Nam nói chung. Nếu nh tiềm năng thiên nhiên của du lịch cũng
nh tác động của du lịch đối với việc bảo vệ các tài nguyên tự nhiên đã đợc quan tâm và
biết đến khá nhiều, thì các tiềm năng văn hoá, xã hội cũng nh sự quan tâm về những tác
động của du lịch đối với dân c và các tài nguyên văn hoá, đặc biệt, đối với việc bảo tồn
các di sản văn hoá truyền thống, độc đáo của các dân tộc thiểu số vẫn còn là những điều
vô cùng mới mẻ ở Việt Nam.
Dự án "Xây dựng năng lực phục vụ các sáng kiến về du lịch bền vững" tiến hành trong 2
năm (1997-1999) do Tổ Chức Bảo Tồn Thiên Nhiên Quốc Tế (IUCN) thực hiện đã đặt
một trong những nhiệm vụ trọng tâm là xác định và nâng cao nhận thức đối với các tác
động về kinh tế - xã hội, văn hoá và sinh thái của du lịch, đóng góp vào việc phát triển các
mô hình du lịch bền vững dựa vào cộng đồng để có thể tạo thu nhập lâu bền cho một số
các cộng đồng bị thiệt thòi và nghèo nhất của đất nớc, đồng thời giúp duy trì sự đa dạng
cả về sinh học lẫn văn hoá của Việt Nam. Một trong những nguyên nhân thúc đẩy sự hình
thành dự án chính là sự lo ngại ngày càng gia tăng của nhiều tổ chức phi chính phủ
(NGO) đối với những tác động hữu hình và ngày càng lớn của du lịch đối với các nhóm
dân tộc thiểu số ở Sa Pa.
Trong một số các nghiên cứu gần đây nhất, các nhà nghiên cứu phơng Tây đã đề cập khá
nhiều đến những tác động này, trong đó đặc biệt có thể nhắc tới nghiên cứu "Sự tăng tr-
ởng và ảnh hởng của du lịch ở Sa Pa" của Michael Dirgegorio và những ngời khác, năm
1996, và "Nghiên cứu ban đầu về Du lịch trong và vùng xung quanh thị trấn Sa Pa" của
Mark E.Grindley, thuộc tổ chức Frontier - Việt Nam,1997.
Trong nghiên cứu của mình và đồng sự, Michael Digregorio cho rằng du lịch có thể làm
tổn hại đến dân tộc thiểu số nhiều hơn so với những lợi ích mà nó mang lại; họ thờng
đứng ở mắt xích cuối trong dây chuyền chuyển tải các tài nguyên thiên nhiên của Sa Pa
phục vụ du lịch, có nghĩa là dân tộc thiểu số là ngời trực tiếp thu lợm và cung cấp các sản
phẩm rừng phục vụ du lịch thông qua các khâu trung gian nh nhà hàng, khách sạn, cửa
hàng của ngời Kinh ở Sa Pa, bởi vậy sẽ chịu tác động đầu tiên khi môi trờng và tài
nguyên rừng bị cạn kiệt, trong khi đó việc tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch
nh biểu diễn văn hoá truyền thống, cho khách thăm quan làng, thăm nhà hay trú ngụ qua
đêm lại không mang lại lợi ích đáng kể cho họ. Từ đó ông cho rằng khi du lịch ngày càng
chiếm vị trí lớn hơn trong kinh tế Sa Pa thì vấn đề công bằng xã hội (thể hiện trong phân
công lao động cũng nh phân chia lợi ích giữa dân tộc thiểu số và ngời Kinh đa số) càng
trở nên nghiêm trọng hơn và ông đã đề xuất cần phải có cơ chế để điều tiết trở lại các
nguồn lợi thu từ du lịch cho việc cải thiện kinh tế - xã hội và môi trờng, ngời dân tộc thiểu
số phải đợc quyền kiểm soát việc tham gia vào du lịch của họ, kiểm soát việc khách du
lịch vào thăm làng, thăm cuộc sống và các nghi lễ của họ. Michael Digregorio cho rằng
cùng với sự phát triển của du lịch văn hoá thì việc thơng mại hoá một số yếu tố văn hoá
của dân tộc thiểu số là điều không tránh khỏi và điều này sẽ làm giảm tính hấp dẫn đối
với du khách, đặc biệt đối với những khách nớc ngoài trẻ tuổi, thích phiêu lu và a tìm
những điều mới lạ, hiện đang là loại khách nớc ngoài chủ yếu của Sa Pa. Thay vào đó sẽ
là những khách nớc ngoài ít phiêu lu hơn tuy giàu có hơn và loại khách trong nớc ít quan
tâm đến đời sống thực của dân tộc thiểu số hơn. Ông cũng dự báo xu thế phát triển của Sa
Pa sẽ từ một điểm du lịch đợc hấp dẫn bởi những điều độc đáo, đặc biệt trở thành một khu
du lịch nghỉ ngơi giải trí.
Mark E.Grindley cũng báo động về sự khó phục hồi của các tác động tiêu cực của du lịch,
tuy trớc mắt có thể cha nhìn thấy ngay. Ông cho rằng du lịch cha mang lại lợi ích cho dân
tộc thiểu số - những ngời gây áp lực chủ yếu lên tài nguyên rừng, cũng nh cha trực tiếp
đóng góp trở lại cho việc bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng - là yếu tố hấp dẫn khách
du lịch mang tính lâu bền hơn. Mark Grindley đã đề xuất một số biện pháp tổ chức du
lịch ở Sa Pa nhằm mang lại lợi ích nhiều hơn cho dân tộc thiểu số góp phần giảm áp lực
lên tài nguyên rừng, tổ chức các tour tốt hơn từ Sa Pa sao cho du khách có thể ở lại lâu
hơn, đặc biệt chú ý tới việc thăm thắng cảnh, khu bảo tồn thiên nhiên, leo núi
Nghiên cứu của Dr. Trish Nicholson tháng 11/1997 cũng cho rằng du lịch hiện nay ở Sa
Pa mang lại rất ít lợi ích cho dân tộc thiểu số. ông đặc biệt nhấn mạnh rằng sự không tơng
xứng giữa công lao động bỏ ra để làm các hàng thổ cẩm với giá trị mà chúng đợc bán trên
thị trờng nh các đồ lu niệm đã góp phần làm tăng thêm gánh nặng công việc vốn đã nặng
nề của những ngời phụ nữ dân tộc ở đây.
Nghiên cứu của Dr. Jean Michaud vừa thực hiện tháng 5 năm 1998 đã đa ra bức tranh
sáng sủa hơn về sự tham gia vào du lịch của các dân tộc thiểu số ở Sa Pa, tuy ông cũng
cho rằng dân tộc thiểu số khó có thể cạnh tranh và kiểm soát đợc các hoạt động mang lại
thu nhập từ du lịch, họ chỉ có thể là những ngời buôn bán rất nhỏ và là các chủ nhà khách
rất rẻ tiền. Tuy nhiên, theo Jean Michaud thì các tác động gây xáo trộn hệ thống tái sản
xuất kinh tế và văn hoá của dân tộc thiểu số là không đáng kể, thậm chí ông còn cho rằng
sự lo ngại về việc các trẻ em gái lang thang ở thị trấn bỏ học và có nguy cơ rơi vào cạm
bẫy của nạn mại dâm là không có tính thuyết phục
Một loạt các phát hiện cũng nh các ý kiến, quan điểm giống và khác nhau về những tác
động của du lịch đối với các dân tộc thiểu số ở Sa Pa trong những nghiên cứu kể trên cho
thấy, cần thiết phải làm sáng tỏ hơn nữa mức độ của các tác động, kể cả tích cực và tiêu
cực, của du lịch đối với các dân tộc thiểu số ở Sa Pa, và, điều quan trọng hơn là tìm hiểu
sự đánh giá và nhìn nhận của chính họ đối với những tác động này. Chúng tôi hy vọng
cách đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu của IUCN trong dự án này sẽ có thể đóng góp
phần nào vào cuộc Hội thảo sắp tới nhằm tập hợp lực lợng và kinh nghiệm để xây dựng
một kế họach hành động phát triển du lịch bền vững ở Sa Pa, có nghĩa là một kế hoạch
phát triển mà ở đó các hoạt động du lịch hiện tại không làm ảnh hởng đến khả năng của
các thế hệ mai sau trong việc đáp ứng các nh cầu của chúng, hay nói cách khác, làm sao
để sự phát triển du lịch không làm tổn hại hay phá huỷ các tài nguyên của chính nó, kể cả
tự nhiên và văn hoá, nhân văn, nhằm làm cho du lịch phát triển đợc dài lâu, không ngừng
hấp dẫn du khách, cũng nh làm cho cuộc sống của cộng đồng các dân tộc sở tại ngày
càng phát triển và phồn vinh hơn.
Nhằm những mục tiêu này, IUCN nói riêng và các tổ chức quốc tế nói chung mong muốn
đóng góp vào sự phát triển của một du lịch bền vững dựa vào cộng đồng, nghĩa là dựa
trên những suy nghĩ và mong muốn của cộng đồng về du lịch và đối với sự tham gia của
họ vào du lịch để từ đó tiến tới việc thực hiện kế hoạch hoá sự phát triển của du lịch Sa
Pa với sự tham gia của chính ngời dân nơi đây, mà trớc hết là các dân tộc thiểu số -
những ngời chiếm tỉ lệ đa số trong tổng số c dân của huyện.

I/ Phơng pháp nghiên cứu
Ngoài thị trấn Sa Pa là nơi tập trung chủ yếu các hoạt động du lịch, 4 xã đã đợc chọn để
nghiên cứu trên cơ sở khoảng cách tới thị trấn Sa Pa, thành phần dân tộc thiểu số và nằm
trong hoặc gần khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Sơn. Các xã đợc chọn ban đầu là Sán
Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van và Bản Hồ với khoảng cách xa dần thị trấn Sa Pa. Song một vài
kết quả nghiên cứu sơ bộ cho thấy tuy Bản Hồ có thêm dân tộc Tày là dân tộc không có ở
3 xã trên, nhng ảnh hởng của du lịch tới xã này hầu nh không đáng kể và đại đa số c dân
của nó không có hoạt động gì liên quan tới du lịch. Bởi vậy, Tả Phìn đã đợc chọn thay cho
Bản Hồ. Có thể nói, 4 xã đợc chọn này là các xã có nhiều hoạt động liên quan tới du lịch
nhất cũng nh chịu tác động của du lịch nhiều nhất (trong huyện Sa Pa, không kể thị trấn)
nên hoàn toàn phù hợp với mục tiêu đặt ra
- Phơng pháp đợc dùng chủ yếu là phơng pháp "Đánh giá nhanh nông thôn" (RRA) nhằm
để phát hiện các vấn đề của du lịch và tìm hiểu những suy nghĩ, cảm nhận cũng nh quan
niệm của ngời dân về những vấn đề đó cùng với các giải pháp đề xuất của họ. Các cuộc
phỏng vấn, thảo luận chính thức và không chính thức đã đợc tiến hành với đại diện các
cấp chính quyền (tỉnh, huyện, xã), các ban ngành (Sở Thơng mại - du lịch Lào Cai, Công
ty du lịch Lào Cai, phòng du lịch thuộc Sở Thơng mại-Du lịch Lào Cai, Công an huyện Sa
Pa, huyện Hội phụ nữ Sa Pa), các trởng bản, trởng tộc, già làng cũng nh đại diện các đoàn
thể phụ nữ, thanh niên, hội nông dân của các xã đợc nghiên cứu. Đặc biệt, các cuộc thảo
luận đã đợc tiến hành với các nhóm xã hội khác nhau nh nhóm các trởng bản, trởng tộc,
già làng; nhóm lãnh đạo địa phơng, nhóm phụ nữ, nhóm thanh niên hay nhóm khách du
lịch trong nớc và nớc ngoài. Các cuộc thảo luận với chính quyền cấp xã thờng có mặt từ 2
- 4 ngời (ví dụ cuộc gặp ở xã Lao Chải đã có 4 ngời tham dự: Ông Phó Chủ Tịch UBND
xã, cán bộ Địa chính xã, Ông Xã Đội Trởng và Ông Chủ Tịch Hội nông dân xã). Nhóm
các trởng tộc, già làng có từ 2 -5 ngời (có 2 Ông Trởng Tộc và 3 Già Làng có mặt trong
cuộc gặp tại xã Tả Van). Nhóm phụ nữ cũng dao động từ 2 tới 16 ngời (tại xã Tả Phìn có
16 và xã San Sả Hồ có 12 phụ nữ đã tham gia thảo luận nhóm tại xã).
- Phơng pháp phỏng vấn và điều tra bằng bảng hỏi đợc sử dụng nhằm lợng hoá các kết
quả sơ bộ hay những phát hiện đã xác định. Đã tiến hành phỏng vấn và điều tra bằng bảng
hỏi 10% số hộ gia đình ở 4 xã đợc nghiên cứu (do ngòi địa phơng biết tiếng dân tộc và
thông thạo địa bàn điều tra) với mẫu điều tra tổng số gồm 110 hộ gia đình, trong đó có 78
hộ ngời Mông, 17 hộ ngời Dao và 15 hộ ngời Giáy, tơng ứng tỉ lệ 10% thành phần từng
dân tộc của mỗi xã. Tơng tự, đã điều tra và phỏng vấn 29 đối tợng tham gia kinh doanh du
lịch ở Sa Pa, 27 ngời bán hàng rong, 26 trẻ em lang thang, 28 khách du lịch nớc ngoài và
26 khách du lịch trong nớc. Việc chọn mẫu hộ và các đối tợng trên để phỏng vấn đợc kết
hợp dựa vào phơng pháp chọn mẫu ngẫu nhiên lẫn việc điều chỉnh sao cho nó đủ thành
phần đại diện nhất.

II/ Khái quát về kinh tế của huyện
Sa Pa là huyện miền núi với 9 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất là ngời Mông
(53%), Dao (24%) và ngời Kinh (13,7%), sau đó là ngời Tày (5,7%), Giáy (1,5%) và ngời
Xa Phó (1,2%). Sa Pa có nền kinh tế phát triển thấp với cơ cấu ngành nghề khá đơn giản,
chủ yếu dựa vào nông - lâm nghiệp. Đất canh tác chỉ chiếm 4,4% tổng diện tích đất đai
của huyện, trong đó 45% là đất trồng lúa nớc và 39% là đất nơng mà chủ yếu là nơng
ngô. Do khí hậu về mùa đông khắc nghiệt, lạnh, nên lơng thực chủ yếu chỉ trồng đợc 1 vụ,
do vậy lơng thực bình quân chỉ đủ cung cấp từ 6 đến 10 tháng cho các hộ nông dân ở đây.
Những tháng còn lại, họ phải dựa chủ yếu vào các sản phẩm rừng nh gỗ, nấm, măng, các
loại cây dợc liệu, cây cảnh, mật ong, củi, thịt thú rừng Chính vì vậy, tài nguyên rừng ở
Sa Pa bị giảm sút rất nhanh chóng. Hiện nay, do chính sách đóng cửa rừng của Nhà nớc,
do các sản phẩm rừng đã bị cạn kiệt một cách đáng kể cộng thêm với việc cấm trồng và
buôn bán thuốc phiện, đời sống của ngời nông dân Sa Pa gặp rất nhiều khó khăn.
Nhà nớc và chính quyền địa phơng đã cố gắng tìm nhiều biện pháp giúp dân xoá đói giảm
nghèo, ổn định đời sống và nâng cao thu nhập. Nhiều dự án đầu t của các chơng trình
định canh định c, chơng trình trồng rừng và phát triển lâm nghiệp, chơng trình khuyến
nông của Nhà nớc cũng nh của một số tổ chức phi chính phủ hay các tổ chức quốc tế đã
và đang đợc thực hiện ở nhiều địa phơng trong huyện.
Bên cạnh việc phát triển trồng trọt một số loại cây hàng hóa nh khoai tây, các loại rau
xanh, đào, mận, hồng và chăn nuôi lợn, gà, dê việc trồng thảo quả dới tán rừng (mặc
dù có ảnh hởng tới đa dạng sinh học của rừng vì làm mất hết các lớp thực vật nằm thấp
hơn) đang là một trong những nguồn thu nhập bổ sung hết sức quan trọng của nhiều gia
đình, đặc biệt là của ngời Mông (ví dụ xã San Sả Hồ có tới gần 90% số hộ, xã Lao Chải -
30%, ở xã Tả Van rất nhiều gia đình Mông có trồng thảo quả).
Trong số 110 hộ đợc điều tra có tới 86 hộ (chiếm 78,2%) trả lời là bán thảo quả là một
trong những nguồn thu nhập quan trọng mỗi khi gia đình bị thiếu ăn. Tuy nhiên, theo
thống kê của chính quyền các xã đợc nghiên cứu thì trung bình hiện có tới 40 - 60% số hộ
thuộc diện đói nghèo trong đó ngời Mông chiếm tỷ lệ cao nhất. Bởi vậy, việc tạo điều
kiện và giúp ngời dân Sa Pa có thêm các nguồn thu nhập mới là vô cùng quan trọng và
bức xúc, nó không chỉ góp phần xoá đói giảm nghèo mà còn giúp giảm áp lực lên tài
nguyên rừng, nhằm bảo vệ và khôi phục vốn rừng quý hiếm có giá trị tầm cỡ quốc tế ở
đây. Trong bối cảnh đó, việc phát triển du lịch ở Sa Pa trong những năm gần đây có tầm
quan trọng đặc biệt.

III/ Tiềm năng du lịch Sa Pa
Với vị trí nằm trên độ cao 1500 - 1600 m, Sa Pa có điều kiện tự nhiên, đặc biệt là khí hậu,
thu hút du khách tới nghỉ ngơi. Từ những năm đầu của thế kỷ 20, ngời Pháp đã phát hiện
ra mảnh đất nhiều tiềm năng này và đã xây dựng hơn 200 biệt thự để tới nghỉ trong những
ngày hè nóng nực ở đồng bằng. Sau khi Pháp rút đi, Sa Pa đã là nơi nghỉ của một số cán
bộ cao cấp của Đảng và Nhà nớc. Năm 1979, chiến tranh biên giới đã phá huỷ hầu hết các
biệt thự ở Sa Pa, chỉ còn 10 công trình giữ đợc nguyên vẹn. Từ năm 1992 - 1993, khi xuất
hiện các nhà nghỉ của một số Bộ, Ban ngành cùng khách nghỉ, chủ yếu là những cán bộ
của các cơ quan Nhà nớc và sự quay trở lại của một số ngời Pháp (cả các nhà nghiên cứu
lẫn khách tham quan du lịch) và sau đó là khách du lịch từ nhiều nớc khác, Sa Pa mới
thực sự trở thành điểm thu hút khách du lịch. Số lợng khách du lịch đến Sa Pa ngày một
gia tăng nhanh chóng. Theo số liệu của Sở Thơng Mại - Du lịch thì từ năm 1995 tới năm
1997, lợng khách du lịch tới Sa Pa đã tăng gần gấp đôi (từ 15.800 lên 30.800), trong đó
khách nớc ngoài tăng gấp hơn hai lần (từ 4.000 lên 9.000).
Các sản phẩm du lịch là những thứ mà khách du lịch lấy làm mục đích hay lý do cho các
chuyến du lịch của mình. Kết quả điều tra của nghiên cứu này một lần nữa lại khẳng định
về sự đa dạng, phong phú của các tài nguyên du lịch của Sa Pa có thể thoả mãn những nhu
cầu thể chất văn hoá tinh thần rất khác nhau của khách. Không những vậy, Sa Pa còn nh
gợi mở cho khách khám phá thêm nhiều điều mới lạ về sự hấp dẫn kỳ thú của nó, nhiều
hơn so với những gì mà trớc khi tới, ngời khách đã đặt mục đích cho mình hay kỳ vọng
cho chuyến đi.
Kết quả điều tra của nghiên cứu này cho thấy có một số nguyên nhân chính áp đảo, vì
chúng mà khách du lịch đã đến Sa Pa. Khí hậu vùng núi mát mẻ, văn hoá dân tộc thiểu số
và phong cảnh thiên nhiên đẹp là những nguyên nhân quan trọng nhất quyết định hành vi
du lịch của phần lớn khách. Trong tổng số 54 khách (gồm 26 ngời Việt Nam và 28 ngời
nớc ngoài) đợc phỏng vấn thì có 37 ngời (68.5%) chọn lý do tận hởng khí hậu mát mẻ, 35
ngời (64,8%) chọn yếu tố tham quan văn hoá dân tộc thiểu số, 34 (62,9%) đến vì phong
cảnh đẹp của tự nhiên.
Những ngời đến Sa Pa với từ 4 đến 6 lý do khác nhau chiếm đa số lợng khách đợc hỏi
(30/54 ngời, bằng 55,6%).
Bảng 1: Lý do chính đến Sa Pa
Value Label Khách trong nớc Khách nớc ngoài

Frequency Percent Frequency Percent
1. Để hởng khí hậu mát 22 84,6 15 53.6
2. Để tham quan VH DT 16 61,5 19 67.9
3. Để thăm quan chợ tình 13 50,0 3 10.7
4. Để chiêm ngỡng cảnh đẹp 11 42,3 23 82.1
5. Hởng môi trờng trong lành, sạch 10 38,5 6 21.4
6. Để gần gũi với thiên nhiên 9 34,6 8 28.6
7. Để th giãn 6 23,0 10 35.7
8. Trốn cuộc sống đô thị 6 23,0 8 28.6
9. Nghiên cứu đời sống DTTS 5 19,2 14 50.0
10. Mua sản phẩm dân tộc thiểu số 3 11,5 2 7.1
11. Để tập luyện dạo chơi 2 7,7 17 60.7
12. Đi bộ đờng dài và leo núi 1 3,8 5 17.9
13. Mua sản phẩm kỳ lạ 1 3,8 2 7.1
14, Nghiên cứu sinh thái môi trờng 1 3,8 1 3.6
15. Kết bạn

3 10.7
16. Khác

1 3.6
Total 26 100,0 28 100,0
Sự khác biệt về mục đích đến Sa Pa giữa ngời Việt Nam và khách du lịch nớc ngoài đợc
một nửa số khách khẳng định (27/54 hay 50%), trong đó tỷ lệ khách nớc ngoài nhận biết
điều này là 15/28 (53,6%), cao hơn ở ngời Việt Nam (12/26 hay 46.1%). Trong số khách
Việt Nam thì những ngời đến Sa Pa lần đầu ít nhận thấy sự khác biệt này hơn (3/14 hay
21,4% ngời đến lần đầu) so với những ngời đến không phải lần đầu ( 9/12 hay 75% ngời
đến nhiều lần đã nhận thấy điều này). Đa số những ngời kinh doanh du lịch ở Sa Pa
(79,3% số đợc phỏng vấn) đã khẳng định có sự khác biệt về lý do đến Sa Pa giữa 2 loại
khách du lịch trong và ngoài nớc. (Bảng 2)
Bảng 2: Công nhận có sự khác biệt về lý do đến Sapa
giữa ngời Việt Nam và khách nớc ngoài
Đối tợng phỏng vấn Số lợng
phỏng
vấn
Không có sự khác biệt Có sự khác biệt
Số lợng % Số lợng %
Khách Việt nam
Trong đó:
26

14

53,8

12

46,2

- Đến lần thứ 1:
- Đến lần thứ 2 hoặc nhiều
hơn:
14
12
11
3
78,6
25,0
3
9
21,4
75,0
Khách nớc ngoàI 28 13 46,4 15 53,6
Những ngời kinh doanh 29 3 10,3 23 79,3
Nhìn chung những nhận định về sự khác biệt trong lý do đến Sa Pa giữa khách Việt Nam
và ngời nớc ngoài của cả 3 nhóm ngời đợc phỏng vấn là tơng đối đồng nhất. Tất cả họ đều
khẳng định điều khác biệt lớn nhất về lý do giữa 2 nhóm khách này là khách Việt Nam
đến Sa Pa chủ yếu là vì khí hậu mát mẻ của vùng miền núi, trong khi nhiều khách nớc
ngoài đến là vì bản sắc văn hoá của dân tộc thiểu số. Cả khách trong nớc, nớc ngoài và
những ngời kinh doanh ở Sa Pa đều chỉ ra rằng một số ngời nớc ngoài đến Sa Pa vì phong
cảnh, để đi bộ tập luyện hoặc leo núi và thởng thức sự trong lành, sạch của môi trờng tự
nhiên, trong khi đó ngời Việt Nam đến là để nghỉ ngơi, th giãn, tránh cái nóng ở vùng
đồng bằng và cuộc sống ồn ào đô thị, có ngời đến để mua bán sản phẩm dân tộc. Từ
những nhận định này có thể thấy rằng bản chất mục đích đến Sa Pa của ngời Việt Nam và
khách nớc ngoài khác nhau về cơ bản: khách Việt Nam đến Sa Pa có xu hớng thoả mãn
nhu cầu về sinh lý sức khoẻ nhiều hơn, trong khi khách nớc ngoài đặt những mục đích
thoả mãn những nhu cầu về văn hoá tinh thần, muốn tìm hiểu về các dân tộc khác và về
những vùng tự nhiên mới lạ hoặc tiến hành loại hình du lịch thể thao nh đi bộ, leo núi.
Cần phải nói thêm rằng mặc dù mặc dù dân tộc thiểu số là một trong các yếu tố quan
trọng hàng đầu có sức thu hút khách và trên địa bàn huyện Sa Pa có 5 nhóm dân tộc thiểu
số chính sinh sống, song trên thực tế, khách du lịch nớc ngoài quan tâm chủ yếu đến các
nhóm dân tộc Mông, Dao và Xa Phó là những nhóm dân nghèo khổ nhất, đặc biệt là ngời
Mông, vì những nhóm này, do những đặc điểm c trú riêng, cũng nh do các hoạt động kinh
tế, đời sống xã hội của họ gần nh tách biệt với thế giới bên ngoài, mà đến nay vẫn còn giữ
đợc nhiều vẻ hoang sơ cổ xa với bản sắc dân tộc rất độc đáo, đối lập với những gì mà con
ngời của xã hội văn minh thờng gặp. Sa Pa lại là nơi mà những nhóm ngời này sống tập
trung chiếm thành phần đa số trong số dân của toàn huyện. Trong khi đó có khách du lịch
ngời Kinh trớc khi đến Sa Pa đã không dự tính tới đặc điểm dân tộc, song một khi đã tới
nơi lại đánh giá cao yếu tố thu hút khách của các dân tộc thiểu số này.
Từ năm 1993 - 1994, trong Nghị quyết của tỉnh uỷ Lào Cai đã nêu về việc phát triển du
lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh và đã có chủ trơng khuyến khích mọi thành
phần kinh tế đầu t phát triển du lịch ở tỉnh nói chung và Sa Pa nói riêng. Hiện nay, tỉnh
đang tích cực xây dựng các phơng án quy hoạch và phát triển du lịch, trong đó Sa Pa là
một trong những điểm du lịch quan trọng hàng đầu. Chính quyền huyện Sa Pa cũng đang
cố gắng có những phơng án đa du lịch phát triển theo hớng ngày càng đáp ứng các nhu
cầu của khách du lịch hơn, trong đó vai trò của các dân tộc thiểu số cùng truyền thống và
bản sắc dân tộc của họ có một tầm quan trọng đặc biệt.

IV/ Phạm vi không gian ảnh hởng của du lịch trên địa bàn
huyện Sapa
Mặc dù tốc độ tăng trởng của du lịch Sa Pa đạt mức cao và rất cao trong vòng 5 năm trở
lại đây, song có thể thấy rằng phạm vi không gian và cờng độ ảnh hởng của du lịch trên
địa bàn huyện là tơng đối hạn chế và tập trung chủ yếu ở khu vực trung tâm thị trấn, nơi
tập trung hầu hết các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, cửa hiệu, các cơ sở dịch vụ văn hoá
tinh thần và hoạt động kinh doanh liên quan đến du lịch, và hầu hết chúng nằm trong tay
ngời Kinh. Chính vì vậy mà phần lớn các chi tiêu của khách du lịch đợc chi trả trên địa
bàn thị trấn, cho những ngời Kinh, trong khi nhiều hoạt động du lịch của khách lại chủ
yếu diễn ra ở vùng ngoại vi, tại các làng bản của ngời dân tộc, với những ngời dân tộc,
hay trong thiên nhiên, tại những vùng có cảnh quan danh thắng tự nhiên, văn hoá độc đáo.
ảnh hởng hay tác động của du lịch ra vùng ngoại vi tới địa bàn của các dân tộc thiểu số
chủ yếu diễn ra theo các tuyến du lịch: Sa Pa - Cát Cát - Phanxipan, Sa Pa - Lao Chải - Tả
Van - Bản Hồ, Sa Pa - Tả Phìn, Sa Pa - Thác Bạc Nhìn chung mức độ tơng tác của du
lịch với lãnh thổ và cộng đồng c dân bản địa có xu hớng giảm từ thị trấn ra ngoại vi.
Khoảng cách tới thị trấn và vị trí địa lý thuận lợi trên các trục giao thông các xã lân cận
thị trấn đã góp phần tạo thêm lợi thế của chúng trong việc cung cấp sản phẩm, thoả mãn
các nhu cầu du lịch đa dạng của khách. San Sả Hồ, Lao Chải và Tả Phìn hầu nh tuần nào
cũng có khách ghé thăm thôn bản. Theo lời của các cán bộ xã và những ngời dân địa ph-
ơng thì vào mùa du lịch (mùa đông đối với khách nớc ngoài và mùa nóng với cả khách
trong nớc lẫn nớc ngoài), ngày nào cũng có khách đến thôn bản và vào thăm các hộ gia
đình, những khách này đã kết hợp du lịch thể thao, thực hiện các cuộc du lịch giao tiếp
với c dân địa phơng, du lịch sinh thái, vãn cảnh thiên nhiên.
Giáp với xã Lao Chải về phía Đông, Đông Nam và Nam, trên tuyến du lịch thiên nhiên -
văn hoá dọc thung lũng sông Hoa Hồ là các xã Tả Van, Hầu Thào, đợc nối tiếp bởi Sử
Pán. ở đây, khách có thể tiếp tục cuộc đi bộ đờng dài của mình và du ngoạn vãn cảnh
thung lũng sông với những cảnh sắc núi rừng thay đổi của thảm thực vật tự nhiên đang đ-
ợc phục hồi, xen lẫn những bản làng dân tộc có vờn, ruộng bậc thang. Khu vc giáp ranh
giữa Tả Van, Hầu Thào của ngời Mông có bãi đá cổ trải dọc sờn núi với những bút tích
mà đến nay các nhà khoa học còn cha xác định đợc niên đại cũng nh chủ nhân của chúng.
Điều này vẫn đang là câu hỏi mở đối với các nhà nghiên cứu và đây cũng là yếu tố kích
thích sự tò mò của khách viễn du. Bổ sung cho danh mục dân tộc thuần nhất Mông của
Lao Chải là xã Tả Van. ở đây có bản ngời Dao với cầu Mây cắt ngang thung lũng sông
Hoa Hồ là điểm du lịch quan trọng trên tuyến, thờng xuyên có khách đến thăm. Nửa Tây
Nam của Tả Van là các thôn ngời Mông nằm trong khu vực rừng bảo tồn Hoàng Liên Sơn
và là một trong những tuyến đờng khách có thể hành trình tới đỉnh Phanxipăng. Tuy vậy,
theo lời của c dân địa phơng, ở thôn này một năm khách chỉ tới và ghé thăm chừng 3 đến
4 lần, ngời dân cũng không có gì để bán và cũng không có dịch vụ gì để có thể thu lợi từ
khách.
Mặc dù thôn của ngời Giáy có vị trí thuận lợi hơn so với các thôn khác trong xã Tả Van
nhng khách nớc ngoài thờng chỉ đi qua bản mà ít ghé vào thăm các hộ ở đây. Nguyên
nhân chính là vì ngời Giáy tuy chiếm một tỷ lệ nhỏ của dân số nhng thực ra họ thuộc
nhóm các dân tộc văn minh có nguồn gốc từ Trung Quốc có trình độ phát triển và dân trí
cao hơn vì thế ít đợc khách nớc ngoài quan tâm. Song họ lại có thể thu hút sự tò mò hiểu
biết của khách du lịch trong nớc.
Cũng tơng tự ngời Giáy, dân tộc Tày, Nùng không thu hút sự chú ý đặc biệt của khách
đến Sa Pa. Vì thế, các xã nằm xa trung tâm nh Thanh Kim, Thanh Phú, Nậm Sài, Bản
Hồ ít có những gì độc đáo, khác với những xã thợng huyện nói trên để có thể gây sức
hấp dẫn đặc biệt đối với khách. Khoảng cách xa tới trung tâm (trên 15km) đã làm tăng
thêm sự hạn chế của số lợt khách đến thăm. Theo cán bộ chính quyền xã Bản Hồ, hàng
năm chỉ có khoảng 6 -7 đoàn khách đến bản, với số lợng mỗi đoàn từ 2 đến 10 ngời, chủ
yếu là đi qua xã để đến Nậm Cang, nơi có ngời Xa Phó. Những năm trớc, khi cha có chủ
trơng quản lý nghiêm ngặt việc khách ở lại qua đêm thì đôi lúc những đoàn khách này có
thể dừng chân nghỉ đêm trong xã, nhng thờng thì chỉ nghỉ lại ở vài nhà cố định, là những
hộ có những mối quan hệ đã đợc thiết lập với những ngời dẫn đờng. Phần lớn dân c còn
lại trong xã hầu nh ít có ý niệm gì về du lịch cũng nh về ảnh hởng và tác động của chúng.
Do ảnh hởng của du lịch, nguy cơ thơng mại hoá các nét văn hoá truyền thống đang diễn
ra ở các cộng đồng dân tộc của các xã xung quanh khu vực thị trấn đã khiến khách du lịch
nớc ngoài có xu hớng thực hiện những cuộc hành trình xa hơn để tới những nơi mà bản
sắc còn hoang sơ hơn, vì vậy, tác động không gian của du lịch đang đợc lan truyền kiểu
sóng trên bề mặt lãnh thổ của huyện.
Nửa phần phía bắc huyện từ thị trấn Sa Pa, chịu ảnh hởng không đáng kể của hoạt động
du lịch. ở đây, ngoài Tả Phìn là tuyến du lịch quan trọng đã có bề dày lịch sử, chỉ có Thác
Bạc nằm ở cạnh quốc lộ 4D, thuận tiện về giao thông, có sức hấp dẫn đối với khách, mà
chủ yếu là thu hút khách trong nớc. Song tỷ lệ khách đến tham quan so với lợng khách
chung không phải là cao, vả lại ít khi khách dừng chân vào thăm thôn bản và các hộ gia
đình nh ở các tuyến khác.
Sa Pả, Trung Chải và Tả Giàng Phình do không có gì đặc biệt có thể bổ sung cho danh
mục sản phẩm kỳ thú gây sức hút đối với khách, một khi thời gian lu trú của họ tại Sa Pa
là khá ngắn mà việc tham quan trên các tuyến chính, quen thuộc thì lại đã lấp đầy chỗ
trống cho những kỳ vọng của các chuyến viễn du ngắn hạn này. Vả lại, ngoài trục xa Sa
Pa, khoảng cách khá xa tới thị trấn và sự không quen thuộc đối với nhóm hớng dẫn viên
du lịch càng khơi sâu sự cách trở của địa phận phía Bắc nói chung trong hiểu biết và nhận
thức của khách du lịch Sa Pa. Một mặt, do sự tiếp xúc trực tiếp với khách còn là hạn chế
và mặt khác do sự quản lý cộng đồng tốt nên ngoại trừ một số ít ỏi các bà hay có khi các
phụ nữ đi bán hàng rong cho khách du lịch tại thị trấn, thì ở các xã này cha thấy hiện tợng
có trẻ em dân tộc lang thang ngoài thị trấn nh các xã nằm trên các tuyến du lịch chính.
Sự tiếp xúc thờng xuyên với khách ở những vùng lân cận Sa Pa có thể là nguyên nhân
chính giải thích cho việc những xã này là những nơi có số lợng những ngời dân thiểu sổ
Mông và Dao tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch nh bán hàng rong hoặc trẻ lang
thang ngoài thị trấn là lớn nhất, trớc hết là Lao Chải, Tả Phìn, sau đến San Sả hồ rồi Hầu
Thào, Tả Van
Có thể nói lợi ích lớn nhất mà ngành du lịch đem lại là lợi ích kinh tế. Lợi ích này đã đợc
phân phối một cách rất chênh lệch giữa các khu vực lãnh thổ và cũng nh giữa các nhóm
dân tộc khác nhau. Điều này phù hợp với nhận định chung của chính quyền huyện, xã,
của những ngời đứng đầu các cộng đồng thôn, xã cũng nh của ngời dân thuộc các thành
phần xã hội hay thuộc các nhóm dân tộc khác nhau. Hầu hết họ đều cho rằng thị trấn và
ngời Kinh ở thị trấn là nơi thu đợc lợi nhiều nhất từ du lịch. Số ngời tuyệt đối và tỷ lệ tơng
đối của những ngời thiểu số tham gia trực tiếp và đợc hởng lợi từ du lịch rất nhỏ bé so với
ngời Kinh thị trấn và càng nhỏ nếu đem so với địa bàn chung và tổng số c dân của huyện,
hầu nh chỉ liên quan tới ngời Mông và ngời Dao, phần nào đó là ngời Giáy. Các nhóm dân
tộc khác nh Tày, Xa Phó gần nh cha chịu ảnh hởng gì. Một cách tơng đối, tơng ứng với
những địa bàn diễn ra các hoạt động du lịch, tiêu thụ các sản phẩm du lịch, có thể nói, các
xã nh Lao Chải, Tả Phìn, San Sả Hồ là những xã chịu tác động nhiều nhất nhng cũng đợc
hởng lợi nhiều nhất, có nhiều ngời tham gia vào du lịch nhất. Sau đó là các xã Hầu Thào,
Tả Van, Sử Pán. Tiếp đó nữa là các xã nh Bản Hồ, Bản Khoang, Nậm Sài. Các xã còn lại
rất hãn hữu có khách và hầu nh ảnh hởng của du lịch còn cha chạm tới những nơi này,
ngoại trừ một số ngời đến Sa Pa vào những ngày cuối tuần để bán một số sản phẩm của
mình. (xem bản đồ 1)

V/ Những tác động tích cực hay lợi ích của du lịch
A. Khu vực thị trấn và những ngời Kinh kinh doanh:
Những lợi ích mà du lịch đem lại cho thị trấn Sa Pa và những c dân của nó ít có gì khác
biệt so với những gì ta đã biết và quá quen thuộc với công nghiệp du lịch. Sự phát triển
của ngành du lịch ở Sa Pa, mà yếu tố then chốt là sự tăng nhanh số lợng khách du lịch
đến, đã thúc đẩy đầu t, kéo theo sự bùng nổ của các khách sạn, nhà hàng, các cơ sở dịch
vụ, hạ tầng kỹ thuật, xã hội. Kết quả là bộ mặt của thị trấn, chỉ trong vòng vài năm, đã
thay đổi một cách mau chóng. Đôi lúc, đôi nơi còn khó có thể nhận ra những cảnh quan
đô thị cũ đã tồn tại ở đây hàng chục năm. Sự tập trung lợi nhuận thu đợc trên địa bàn thị
trấn và sự gia tăng nhanh chóng của lợng khách tới Sa Pa dờng nh đã tạo nên cảm giác về
viễn cảnh đầy hứa hẹn đối với các nhà đầu t. Không chỉ những ngời địa phơng mà cả
những nhà kinh doanh t nhân cùng các cơ quan từ các vùng khác đã đổ xô tới Sa Pa đầu t
xây dựng và tiến hành các hoạt động kinh doanh buôn bán hay dịch vụ khác nhau phục vụ
du lịch. Cuộc sống của Sa Pa trở nên sôi động, hoà nhập chung vào quá trình phát triển và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của đất nớc. Hàng hoá ở đây trở nên phong phú hơn.
Do điều kiện cung cầu đợc cải thiện mà các hàng hoá từ nơi khác tới Sa Pa trở nên rẻ hơn,
dễ mua hơn. Phần lớn những ngời dân cũ của thị trấn không muốn bỏ lỡ cơ hội khai thác
lợi ích từ du lịch. Bằng cách này hay cách khác, họ đã nỗ lực để tham gia trực tiếp hay
gián tiếp vào ngành công nghiệp đầy béo bở này. Theo số liệu thống kê của tỉnh, thì số l-
ợng t thơng và dịch vụ t nhân của cả huyện Sa Pa đã tăng từ 102 hộ trong năm 1991 lên
346 hộ trong năm 1995 hay gần 3,4 lần trong vòng 4 năm

. Có thể nói hầu hết sự thay đổi
này đã xảy ra trên địa bàn thị trấn.
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành du lịch và cũng để tạo khả năng khai thác nguồn
lợi từ du lịch, chính quyền địa phơng đã có những nỗ lực trong định hớng qui hoạch, đầu
t phát triển các cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật, hệ thống đờng xá giao thông cho thị trấn
và các tuyến du lịch chính, xây dựng một số dự án đầu t phát triển các điểm du lịch. Việc
cấp điện, dịch vụ thông tin bu điện đã đợc cải thiện cơ bản. Các vấn đề cấp thoát nớc và
thu gom rác thải đang trong giai đoạn tiến hành đầu t. Một số cơ sở dịch vụ văn hoá và

Hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán do Công ty TNHH kiểm toán An Phú thực hiện

Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khoa Kế toán
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trung bình 18
Thấp 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Sơ đồ 1.3: Phương pháp đánh giá từ đỉnh đến đáy 22
Sơ đồ 1.4: Khái quát việc nghiên cứu HTKSNB và quy trình
đánh giá rủi ro kiểm soát 29
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty TNHH Kiểm toán An Phú 40
Sơ đồ 2.2: Quy trình kiểm toán tại Công ty TNHH Kiểm toán An phú 44
Vũ Thị Phương Liên Kiểm toán 46B
iii

Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khoa Kế toán
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến nay, các doanh nghiệp lớn nhỏ ở Việt
Nam ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Cùng với sự
đòi hỏi tính minh bạch của báo cáo tài chính thì nhu cầu sử dụng các dịch vụ
kiểm toán của các công ty và các doanh nghiệp càng cao. Hiện nay, xã hội đã
từng bước nhận thức được tầm quan trọng của kiểm toán độc lập gắn liền với
sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Từ đó, đã tạo ra một môi trường rất
thuận lợi cho các Công ty kiểm toán phát triển, mở rộng tầm hoạt động. Mặt
khác, nó cũng đặt ra một thách thức lớn đối với các Công ty kiểm toán. Chất
lượng kiểm toán phải không ngừng được nâng cao. Chất lượng cuộc kiểm
toán phải có được thông qua việc kiểm toán viên tuân thủ chuẩn mực kiểm
toán, hiểu biết đầy đủ về khách hàng, đánh giá rủi ro tổng thể và chi tiết. Vì
vậy để có được một cuộc kiểm toán hữu hiệu và hiệu quả thì cần thiết phải
tiếp cận kiểm toán dựa trên rủi ro. Việc thực hiện đánh giá rủi ro được thực
hiện xuyên suốt trong quá trình kiểm toán. Trong đó quan trọng nhất là giai
đoạn lập kế hoạch kiểm toán. Công ty TNHH Kiểm toán An Phú là một Công
ty kiểm toán trong nước, mới được thành lập trong thời gian chưa lâu nên việc
xây dựng một quy trình chuẩn để đánh giá rủi ro vẫn còn nhiều hạn chế.
Chính vì nhận thấy tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro trong giai
đoạn lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính nên Em đã chọn Đề tài Khóa
luận tốt nghiệp của mình là: "Hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro trong giai
đoạn lập kế hoạch kiểm toán do Công ty TNHH kiểm toán An Phú thực
hiện".
2. Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài
Thông qua việc hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn, đi sâu
vào khía cạnh đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán do Công
Vũ Thị Phương Liên Kiểm toán 46B
Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khoa Kế toán
ty TNHH kiểm toán An Phú thực hiện, đề tài hướng tới đề xuất những giải
pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập
kế hoạch kiểm toán do Công ty thực hiện.
3. Nội dung của Đề tài
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, nội dung Khóa luận tốt nghiệp của Em
gồm có ba nội dung chính sau:
Chương I: Lý luận chung về đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn
lập kế hoạch kiểm toán BCTC;
Chương II: Thực trạng đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán do Công ty TNHH kiểm toán An Phú thực hiện;
Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình
đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch trong kiểm toán BCTC do Công
ty TNHH kiểm toán An Phú thực hiện.
4. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng phép biện chứng của chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở
phương pháp luận và sử dụng các phương pháp của các môn khoa học khác.
Ngoài ra kết hợp với quan sát thực tế tại Công ty để thực hiện đề tài.
5. Hướng đóng góp của Khóa luận
Trong quá trình thực tập tại Công ty TNHH kiểm toán An Phú, thông
qua nghiên cứu về quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán, em hệ thống hóa lí luận và vận dụng phân tích thực trạng quy trình đánh
góa rủi ro kiểm toán. Từ đó đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn
thiện hơn nữa quy trình đánh giá rủi ro do Công ty thực hiện. Do thời gian và
kiến thức còn nhiều hạn chế nên Khóa luận của Em không thể tránh được
những sai sót nhất định. Em rất mong các thầy cô giáo và các bạn đóng góp ý
kiến để Khóa luận của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn
Thầy Nguyễn Quang Quynh, cùng các anh chị tại Công ty TNHH kiểm toán
An Phú đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành Khóa luận này.
Vũ Thị Phương Liên Kiểm toán 46B
Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khoa Kế toán
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO
KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 Lý luận cơ bản về rủi ro kiểm toán
1.1.1 Kiểm toán với rủi ro
Kiểm toán là một quá trình một người độc lập có nghiệp vụ tập hợp và
đánh giá các bằng chứng về thông tin có thể lượng hóa được, có liên quan tới
một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ
phù hợp giữa thông tin có thể lượng hóa được và những tiêu chuẩn đã được
thiết lập. Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán bởi
nó chứa đựng đầy đủ các sắc thái kiểm toán ngay từ khi ra đời cũng như trong
quá trình phát triển. Kiểm toán tài chính là quá trình sử dụng các phương
pháp kĩ thuật nghiệp vụ và các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập các bằng
chứng kiểm toán cần thiết làm cơ sở cho việc xác minh và bày tỏ ý kiến về
tính trung thực và hợp lí của các bảng khai tài chính đã lập so với những
chuẩn mực chung được chấp nhận. Đối tượng trực tiếp của kiểm toán tài
chính là bảng khai tài chính. Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 700 đoạn
07: “Ý kiến của kiểm toán viên đưa ra trên báo cáo kiểm toán một sự đảm báo
chắc chắn rằng báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các
khía cạnh trọng yếu; Nhưng không đảm bảo tuyệt đối rằng không có bất kì một
sai sót nào trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán. Kiểm toán viên chỉ quan
tâm đến các yếu tố trọng yếu của các báo cáo tài chính”.
(3)

Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc
kiểm toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị
làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của
số liệu trên báo cáo tài chính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy
Vũ Thị Phương Liên Kiểm toán 46B
Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khoa Kế toán
trình gồm ba giai đoạn như sau: lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp
kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, hoàn thành cuộc kiểm toán và công
bố báo cáo kiểm toán. Trong đó lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên
mà các kiểm toán viên cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra
các điều kiện pháp lí cũng như những điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán.
Lập kế hoạch kiểm toán có vai trò quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu
quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán. Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt
Nam Số 300: “Lập kế hoạch kiểm toán phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán.
Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát
hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán, phát hiện gian lận, rủi ro và
những vấn đề tiềm ẩn; và đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành đúng thời
hạn”
(3)
. Kế hoạch kiểm toán trợ giúp KTV phân công công việc cho trợ lí
kiểm toán và phối hợp với KTV và chuyên gia khác về công việc kiểm toán.
Như vậy trên mức độ trọng yếu được xác định cho toàn bộ BCTC và phân bổ
cho từng khoản mục, KTV cần đánh giá khả năng xảy ra sai sót trọng yếu ở
toàn bộ BCTC cũng như từng khoản mục để phục vụ cho việc thiết kế các thủ
tục kiểm toán và xây dựng chương trình cho từng khoản mục. Công việc này
được gọi là đánh giá rủi ro kiểm toán. Đánh giá rủi ro là vấn đề hết sức quan
trọng và có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của mọi cuộc kiểm toán. Để tìm
hiểu về quy trình đánh giá rủi ro ta cần phải hiểu thế nào là rủi ro và việc nhận
diện từng loại rủi ro.
Đã có rất nhiều các quan điểm khác nhau về rủi ro. Có quan điểm cho
rằng rủi ro chỉ liên quan đến các thiệt hại đã thực tế xảy ra (rủi ro không đối
xứng). Có quan điểm lại cho rằng rủi ro không chỉ liên quan đến các thiệt hại
đã thực tế xảy ra mà còn liên quan đến may mắn (rủi ro đối xứng). Theo một
cách chung nhất thì rủi ro chỉ những sự kiện có thể xảy ra nằm ngoài ý muốn
và khi xảy ra sẽ mang lại kết quả không có lợi. Rủi ro còn được hiểu là sự sai
Vũ Thị Phương Liên Kiểm toán 46B
Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khoa Kế toán
lệch giữa dự kiến và thực tế đã xảy ra. Rủi ro không những chỉ sự ngờ vực sẽ
xảy ra những hậu quả xấu trong tương lai mà nó còn ám chỉ những hậu quả có
thể xảy ra ở hiện tại và dẫn đến những khó khăn hoặc sự bất lợi ở hiện tại.
Trong cuốn sách “Bảo hiểm quốc tế về nguyên tắc và thực hành” do Học viện
Hoàng gia Anh xuất bản năm 1993 có định nghĩa cho rằng: “Rủi ro là khả
năng xảy ra một sự cố không may; Rủi ro là sự không đoán trước được một
tình huống, một khuynh hướng dẫn đến kết quả thực tế khác với kết quả dự
đoán; rủi ro là sự kết hợp các nguy cơ; rủi ro là sự không chắc chắn về những
tổn thất; Rủi ro là khả năng xảy ra những tổn thất
(4)
. Các quan điểm đều đề
cập đến các sự việc không chắc chắn xảy ra trong tương lai. Nhìn chung các
quan điểm đều cho rằng hậu quả xảy ra do một hoặc nhiều nguyên nhân gây
nên. Từ điển Tiếng việt cho rằng: ” Rủi ro là điều không lành, không tốt bất
ngờ xảy đến
(9)
. Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa về rủi ro như
sau: ”Rủi ro là hậu quả gây thiệt hại ít nhiều có thể dự kiến được của một hành
vi mà việc thực hiện không chỉ phụ thuộc vào ý chí của bên đương sự. Người
thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm về thiệt hại gây nên cho người kia”
(10)
.
Rủi ro là điều không ai muốn, xảy ra ngoài tầm kiểm soát của chúng ta.
Trong bất cứ một lĩnh vực nào cũng luôn luôn tiềm ẩn những rủi ro và có khả
năng xảy ra bất cứ lúc nào. Do đó, vấn đề cần đặt ra là chúng ta phải kiểm
soát được các rủi ro có nguy cơ xảy ra. Trong mỗi lĩnh vực đều có các rủi ro
khác nhau như rủi ro đầu tư, rủi ro kinh doanh…Rủi ro đầu tư là loại rủi ro
xảy ra khi các nhà đầu tư tiến hành các hoạt động đầu tư. Rủi ro đầu tư luôn
tiềm ẩn và có khả năng xảy ra nếu các nhà đầu tư không tính toán và lường
hết các khả năng có thể xảy ra và các nhân tố tác động đến hoạt động đầu tư
của mình. Rủi ro kinh doanh là loại rủi ro xảy ra khi tiến hành các hoạt động
sản xuất kinh doanh. Bất kì hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng chứa
đựng rủi ro và có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Có thể kết luận rằng rủi ro là một sự không thuận lợi, không may mắn.
Vũ Thị Phương Liên Kiểm toán 46B
Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khoa Kế toán
Rủi ro thường chỉ một điều không may mắn và khi rủi ro xảy ra thì sẽ đưa đến
những hậu quả nào đó. Nhìn chung bất kì một hoạt động kinh tế nào cũng
tiềm ẩn rủi ro và có khả năng xảy ra bất cứ lúc nào. Lĩnh vực kiểm toán, với
tư cách là một môn khoa học cũng không phải ngoại lệ, tuy nhiên với những
đặc thù riêng của ngành nên rủi ro kiểm toán cũng có những đặc trưng riêng.
Các rủi ro thường gặp trong kiểm toán đó là rủi ro kiểm toán, rủi ro
kinh doanh, rủi ro chọn mẫu và rủi ro không chọn mẫu kiểm toán…Rủi ro
kiểm toán là rủi ro xảy ra khi KTV và Công ty kiểm toán đưa ra kết luận về
BCTC của khách hàng được trình bày trung thực và hợp lí trên các khía cạnh
trọng yếu, qua đó KTV đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần đối với bảng khai
tài chính của khách hàng. Trên thực tế, BCTC của khách hàng vẫn luôn tiềm
ẩn những sai sót trọng yếu. Rủi ro chọn mẫu và rủi ro không chọn mẫu kiểm
toán là hai bộ phận quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro kiểm toán. Rủi ro kinh
doanh trong lĩnh vực kiểm toán là rủi ro xảy ra khi đó KTV và công ty kiểm
toán phải chịu thiệt hại trong mối quan hệ với khách hàng, do những sai phạm
trong việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Để kiểm soát được rủi ro kiểm
toán công việc của các KTV đó là đánh giá rủi ro kiểm toán. Việc đánh giá rủi
ro kiểm toán cần được quan tâm và thực hiện ngay từ trước khi chấp nhận
kiểm toán và đặc biệt là trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
Từ điển Thuật ngữ Kế toán - Kiểm toán do TS Thịnh Văn Vinh và Đỗ
Đức Quốc Trị biên soạn, đã định nghĩa như sau: “Rủi ro kiểm toán là một
phạm trù dùng để chỉ trường hợp kiểm toán viên đã đưa ra một ý kiến kiểm
toán không phù hợp với báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính đã kiểm toán vẫn
chứa đựng những sai lầm nghiêm trọng ”
(12)
.
Theo định nghĩa của Nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế IAG 25,
”Trọng yếu và rủi ro” : “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà KTV có thể mắc
phải khi đưa ra nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và nó là sai
Vũ Thị Phương Liên Kiểm toán 46B
Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khoa Kế toán
sót nghiêm trọng”
(6)
. Những nhận xét không xác đáng chủ yếu theo hướng
KTV sẽ kết luận là các BCTC được trình bày trung thực và hợp lí, do đó công
bố một ý kiến chấp nhận toàn phần trong khi chúng bị sai sót trọng yếu.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA 400) giải thích về rủi ro kiểm
toán như sau: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV và công ty kiểm toán đưa ra
ý kiến nhận xét không thích hợp trong khi BCTC đã được kiểm toán vẫn còn
chứa đựng những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi
ro tiềm tàng; rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”
(3)
. Nói tóm lại đã có nhiều
định nghĩa khác nhau về rủi ro kiểm toán. Các định nghĩa nhìn chung đều chỉ
ra rằng rủi ro kiểm toán là những nhận xét không xác đáng chủ yếu theo
hướng kiểm toán viên sẽ kết luận là các BCTC được trình bày trung thực và
hợp lí, do đó công bố một ý kiến chấp nhận toàn phần trong khi chúng bị sai
sót trọng yếu. Sai sót trọng yếu ảnh hưởng nghiêm trọng đến những người sử
dụng thông tin của BCTC. Cũng như các loại rủi ro khác, rủi ro kiểm toán
cũng luôn tiềm ẩn và có nguy cơ xảy ra ngay cả khi cuộc kiểm toán được lập
kế hoạch chu đáo và thực hiện một cách thận trọng. Rủi ro kiểm toán sẽ tăng
lên nếu việc lập kế hoạch kém và thực hiện thiếu thận trọng. Trong các văn
bản hướng dẫn chỉ đạo quốc tế, rủi ro kiểm toán được xét trong mối quan hệ
với kế hoạch kiểm toán, lấy mẫu kiểm toán và lựa chọn phép thử nên rủi ro
kiểm toán được hiểu là khả năng sai sót và việc đánh giá rủi ro được ước tính
theo tỉ lệ từ 0% đến 100%. KTV không thể chắc chắn rằng 100% các BCTC
đã kiểm toán không còn chứa đựng các sai phạm trọng yếu. Vì vậy, KTV chỉ
có thể kì vọng một mức kiểm toán có thể chấp nhận được đảm bảo rằng ở
mức rủi ro đó sai sót trọng yếu không có cơ hội xảy ra. Trong lĩnh vực kiểm
toán không có một quy định chính thức nào về mức rủi ro kiểm toán có thể
chấp nhận, loại trừ rằng rủi ro kiểm toán phải ở mức cho phép. Vấn đề xác
định rủi ro kiểm toán là hết sức cần thiết trong mọi cuộc kiểm toán. Dựa trên
Vũ Thị Phương Liên Kiểm toán 46B
Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khoa Kế toán
mức rủi ro kiểm toán đã xác định, KTV có cơ sở để xác định mức trọng yếu
có thể chấp nhận. Trong Mục 08, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400
(VSA 400) “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” có quy định: “Rủi ro kiểm
toán phải được xác định trước khi lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện kiểm
toán”
(3)
. Như vậy rủi ro kiểm toán luôn được KTV và Công ty kiểm toán xác
định trước khi lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán. Xác định được rủi ro
kiểm toán góp phần giúp cho KTV và Công ty kiểm toán xác định được
chương trình kiểm toán cụ thể. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro kiểm
toán, có thể do giới hạn về mặt quản lý, mà trực tiếp là chi phí kiểm toán (số
lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập). Thậm chí, ngay cả khi bằng chứng
kiểm toán đã đủ thì rủi ro kiểm toán vẫn có khả năng xảy ra. Chi phí kiểm
toán và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau. Ví dụ số lượng
bằng chứng kiểm toán càng nhiều thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại.
Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và chi phí kiểm toán được minh họa qua sơ
đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa chi phí kiểm toán và rủi ro kiểm toán
Rủi ro đạt tới
Rủi ro mong muốn
Bằng chứng kiểm toán (Chi phí)
Vũ Thị Phương Liên Kiểm toán 46B
M

c

r

i

r
o

k
i

m

t
o
á
n

Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH thiết bị và công nghệ phương bắc

Báo cáo tốt nghiệp
đào tạo qua lớp chuyên môn nhng có thời gian lam việc thực tế tơng đối dài, đợc tr-
ởng thành do học hỏi từ kinh nghiệm thực tế.
- Lao động phổ thông: lao động không phải qua đào tạo vẫn làm đợc
+lao động gián tiếp: đây là bộ phận lao động tham gia một cách gián tiếp vào quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thuộc bộ phận này bao gồm nhân
viên kỹ thuật (trực tiếp làm công tác kỹ thuật hoạc tổ chức, chỉ đạo, hớng dẫn kỹ
thuật ), nhân viên quản lý kinh tế (trực tiếp lãnh đạo, tổ chức, quản lý hoạt động
SXKD nh giám đốc, phó giám đốc; cán bộ các phòng ban kế toán, thống kê, cung
tiêu ), nhân viên quản lý hành chính ( những ng ời làm công tác tổ chức, nhân sự,
văn th, quản trị )
Lao động gián tiếp gồm: Những ngời chỉ đạo, phục vụ quản lý kinh doanh
trong doanh nghiệp, lao động gián tiếp đợc phân loại:
+ Theo nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn, loại lao động này đợc
phân chia thành: nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế nhân viên quản lý
hành chính.
+ Theo năng lực và trình độ chuyên môn lao động gián tiếp đợc chia thành nh
sau:
* Chuyên viên chính: Là những ngời có trình độ từ đại học trở lên, có trình độ
chuyên môn cao, có khả năng giải quyết công việc mang tính tổng hợp, phức tạp
* Chuyên viên: Là những ngời lao động đã tốt nghiệp đại học, trên đại học có
thời gian công tác dài, trình độ chuyên môn cao.
* Cán sự: là những ngời lao động mới tốt nghiệp đại học, có thời gian công tác
cha nhiều
* Nhân viên: Là những ngời lao động gián tiếp với trình độ, chuyên môn thấp
cí thể đã qua đào tạo các trờng lớp chuyên môn, nghiệp vụ hoặc cha qua đào tạo
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp :
+thấy dợc cơ cấu lao động hợp lý
5
Báo cáo tốt nghiệp
+hạch toán tiền lơng đúng đối tợng
+đánh giá đợc hợp lý cơ cấu lao động từ đó có biện pháp tổ chức , bố trí lao động
phù hợp với yêu cầu công việc và tinh giảm bộ máy gián tiếp
-Phân loại theo chức năng lao động trong sản xuất :
+lao động chức năng sản xuất, chế biến: bao gồm những lao động tham gia trực
tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ,
dịch vụ nh công nhân trực tiếp sản xuất nhân viên phân xởng
+ lao động thực hiện chức nang bán hàng: là những lao động tham gia vào hoạt
động tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ nh nhân viên bán hàng, tiếp thị,
nghiên cứu thị trờng
+ lao động thực hiện chức năng quản lý: là những lao động tham gia hoạt động
quản trị kinh doanh và quản lý hành chính của doanh nghiệp nh các nhân viên quản
lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính .
Cách phân loại này giúp cho việc tập hợp chi phí lao động một cách kịp thời ,
phân định đợc chi phí sản xuất và chi phí thời kì
*Phân loại tiền lơng một cách hợp lý: có nhiều cách phân loại
- Phân theo cách trả lơng :
+ lơng sản phẩm
+ lơng thời gian
- Phân theo đối tợng trả lơng :
+lơng trực tiếp
+ lơng gián tiếp
-Phân theo chức năng tiền lơng:
+lơng sản xuất
+lơng bán hàng
+lơng quản lý
Giúp cho doanh nghiệp tính toán phân bổ tiền lơng một cách chính xác và cung
cấp thông tin cho việc phân tích về chi phí tiền lơng.
6
Báo cáo tốt nghiệp
1.3. ý nghĩa, tác dụng của công tác quản lý lao động, tổ chức lao động
- Dối với doanh nghiệp
Tổ chức công tác hạch toán lao động giúp cho công tác quản lý lao động của
doanh nghiệp đi vào nề nếp. Muốn tổ chức tốt công tác hạch toán lao động của doanh
nghiệp phải biết bố trí hợp lý sức lao động, tạo các điều kiện cải tiến lề lối làm việc,
đảm bảo an toàn lao động xây dựng các định mức lao động và đơn giá trả tiền lơng
đúng đắn. Các điều kiện đó th đợc sẽ làm cho năng suất lao động tăng, thu nhập của
công nhân viên cũng đợc nâng cao. Để tạo điều kiện cho công tác quản lý, huy động
và sử dụng hợp lý lao động trong doanh nghiệp thì công tác quản lý lao động có ý
nghĩa to lớn trong việc nắm bắt thông tin về số lợng và thành phẩm lao động, về trình
độ nghề nghiệp của lao động trong doanh nghiệp từ đó thực hiện quy hoạch lao động
lập kế hoạch lao động. Mặt khác cũng thông qua quản lý lao động, tổ chức do trong
toàn doanh nghiệp và từng bộ phận giúp cho việc lập dự toán chi phí nhân công trong
chi phí sản xuất kinh doanh,, lập kế hoạch quỹ lơng và thuận lợi cho công tác kiểm
tra và tình hình thực hiện kế hoạch và dự toán này.
1.4. Khái niệm, ý nghĩa tiền lơng và các khoản trích theo lơng
Khái niệm tiền lơng: là phần thù lao, lao động đợc thể hiện bằng tiền mà doanh
nghiệp trả cho ngời lao động căn cứ vào thời gian, khối lợng, chất lợng của họ trong
quá trình sản xuất kinh doanh.
Bản chất tiền lơng: là giá cả của sức lao động, mặt khác, tiền lơng là đòn bảy
kinh tế khuyến khích tinh thần hăng hái lao động, tạo mối quan tâm của ngời lao
động tới kết quả công việc của họ (hay tiền lơng thúc đẩy tăng năng suất lao động)
Các khoản trích theo lơng
Tên quỹ % theo quỹ lơng
DN nộp tính vào
chi phí SX
Cá nhân ngời
LĐ nộp trừ vào
lơng
BHXH 20 15 5
BHYT 3 2 1
KPCĐ 2 2
Cộng 25 19 6
7
Báo cáo tốt nghiệp
Ngoài tiền lơng ( tiền công ) cán bộ công nhân viên còn đợc hởng các khoản trợ
cấp BHYT , BHXH , KPCĐ mà theo chế độ tài chính hiện hành, các khoản này DN
phải tính vào chi phí SXKD .
- BHXH đợc chi tiêu trong các trờng hợp: ngời lao động ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hu trí, tử tuất .
- BHYT đợc sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám chữa bệnh ,viện phí,
thuốc thang cho ng ời lao động trong thời gian đau ốm, sinh đẻ.
- KPCĐ phục vụ chi tiêu cho ngời lao động của tổ chức công đoàn nhằm chăm
lo, bảo vệ quyền lợi của ngời lao động.
1.4., . Chế độ Nhà nớc quy định về tiền lơng, chế độ trích lập và sử dụng
KPCĐ, BHXH, BHYT
- Theo chế độ nhà nớc quy định trong chính sách về tiền lơng thì tiền lơng cơ
bản của ngời lao động là 290000đ
Chế độ về các khoản trích theo tiền lơng của nhà nớc quy định:
Căn cứ để trích KPCĐ, BHXH, BHYT: trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền
quỹ lơng cơ bản và các khoản phụ cấp( phụ cấp chức vụ, khu vực ) của công nhân
viên thực tế phát sinh trong tháng.
Tỷ lệ trích:
-Quỹ BHXH: theo chế độ hiện hành tỷ lệ trích là 20%, trong đó 15% do đơn vị hoặc
chủ sử dụng lao động nộp, đợc tính vào chi phí kinh doanh; 5% còn lại do ngời lao
động đóng góp và đợc trừ vào lơng tháng.
-Quỹ BHYT: đợc hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lơng
của CNVC thực tế phát sinh trong tháng. Tỷ lệ trích là 3%, trong đó 2% tính vào chi
phí kinh doanh và trừ 1% vào thu nhập của ngời lao động.
KPCĐ: để có nguồn chi phí cho hoạt động công đoàn, hàng tháng doanh nghiệp còn
phải trích theo một tỷ lệ quy định với tổng số quỹ tiền lơng, tiền công và phụ
cấp( phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấpđắt đỏ, phụ cấp
8
Báo cáo tốt nghiệp
độc hại, phụ cấp thâm niên, phụ cấp phục vụ quốc phòng an ninh) thực tế phải trả cho
ngời lao động- kể cả lao động hợp đồng tính vào chi phí kinh doanh để hình thành
KPCĐ. Tỷ lệ trích KPCĐ theo chế độ hiện hành là 2%.
Nh vậy, theo chế độ hiện hành đang áp dụng thì tỷ lệ trích vào chi phí sản xuất kinh
doanh là 19%, trừ vào lơng ngời lao động là 6%. Vậy tổng trích là 25%.
Chế độ tiền thởng quy định
Ngoài tiền lơng công nhân có thành tích trong sản xuất trong công tác đợc h-
ởng khoán tiền thởng. Việc tính toán tiền thởng căn cứ vào đóng góp của ngời lao
động và chế độ khen thởng của doanh nghiệp.
- Tiền thởng thi đua chi bằng quỹ khen thởng, căn cứ vào kết quả bình xét
thành tích lao động.
- Tiền thởng có tình chất thờng xuyên: thởng sáng kiến nâng cao chất lợng sản
phẩm, tiết kiệm vật t tăng, năng suất lao động phải căn cứ vào hiệu quả kinh tế cụ
thể để xác định, đợc tính vào KPCĐ
1.5.Khái niệm quỹ lơng, nội dung quỹ lơng,phân loại quỹ lơng
- Khái niệm quỹ tiền lơng
Quỹ tiền lơng của doanh nghiệp là tổng số tiền lơng mà doanh nghiệp trả cho
tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý
- Nội dung quỹ tiền lơng
+ Tiền lơng trả cho ngời lao động trong thời gian làm việc thực tế (tiền lơng
thời gian và sản phẩm)
+ Các khoản phụ thờng xuyên (các khoản phụ cấp có tính chất lơng) nh: phụ
học nghề phụ cấp thâm niên, phụ cấp làmthêm, làm thêm giờ, phụ cấp trách nhiệm,
phụ cấp khu vực, phụ cấp dạy nghề, phụ cấp công tác lu động, phụ cấp cho những ng-
ời làm công tác khoa học có tài năng
+ Tiền lơng trả cho công nhân viên trong thời gian ngừng sản xuất vì các
nguyên nhân khách quan, thời gian hội họp nghỉ phép
9
Báo cáo tốt nghiệp
+ Tiền lơng trả cho công nhân làm ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ quy
định.
- Phân loại quỹ tiền lơng trong hạch toán
Để thuận lợi cho công tác hạch toán tiền lơng đợc chia ra thành tiền lơng chính
và tiền lơng phụ
+ Tiền lơng chính: là khoản tiền lơng trả cho ngời lao động trong thời gian họ
thực hiện nhiệm vụ chính, gồm tiền lơng cấp bậc và các khoản phụ cấp (phụ cấp làm
đêm, làm thêm giờ).
+ Tiền lơng phụ: là khoản tiền lơng trả cho ngời lao động trong thời gian họ
thực hiện nhiệm vụ chính của họ nh: thời gian lao động, nghỉ phép, nghỉ tết, nghỉ lễ,
hội hợp, học tập, tập dân quân tự vệ, tập phòng cháy chữa cháy, nghỉ ngừng sản xuất,
vì nguyên nhân khách quan, đợc hởng theo chế độ.
Xét mặt hạch toán kế toán, tiền lơng chính của công nhân sản xuất thờng hạch
toán trực tiếp vào chi phí sản xuất từng loại sản phẩm, tiền lơng phụ cấp, tiền lơng
phụ của công nhân sản xuất đợc hạch toán và phân bổ gián tiếp vào chi phí sản xuất
các loại sản phẩm có liên quan theo tiêu thức phân bổ.
1.6.Các hình thức tiền lơng
1.6.1. Hình thức tiền lơng trả theo thời gian lao động
1.6.1.1 Khái niệm hình thức tiền lơng trả theo thời gian lao động
Khái niệm: Tiền lơng thời gian là hình thức tiền lơng tính theo thời gian làm
việc, cấp bậc kỹ thuật hoặc chức danh và thang bậc lơng theo quy định.
1.6.1.2 Các hình thức tiền lơng thời gian và ô tính lơng
- Hình thức tiền lơng giản đơn
Là tiền lơng đợc tính theo thời gian làm việc và đơn giá lơng thời gian
CT: tiền lơng thời gian = thời gian làm việc thực tế x đơn giá tiền lơng thời
gian (mức lơng thời gian)
- Tiền lơng công nhật: là tiền lơng tính theo ngày làm việc và mức điền lơng
ngày trả cho ngời lao động tạm thời cha xếp vào thang bậc lơng
10
Báo cáo tốt nghiệp
Mức mức tiền lơng công nhật do ngời sử dụng lao động và ngời lao động thoả
thuận với nhau
Hình thức tiền lơng công nhật áp dụng với lao động tạm thời tuyển dụng
+ Hình tiền lơng thời gian có thởng: là kết hợp giữa hình thức tiền lơng giản
đơn với chế độ tiền thởng, trong sản xuất
Tiền lơng thời gian có thởng = tiền lơng thời gian giản đơn + tiền thởng có tính
chất lơng
* Ưu nhợc điểm của hình thức tiền lơng thời gian
+ Ưu điểm: đã tính đến thời gian làm việc thực tế, tính toán đơn giản có thể lập
bảng tính sẵn
+ Nhợc điểm: hình thức tiền lơng thời gian cha đảm bảo nguyên tắc phân phối
theo lao động
Cha gắn liền lơng với chất lợng lao động vì vậy doanh nghiệp cần kết hợp với
các biện pháp khuyến khích vật chất, kiểm tra, chấp hành kỷ luật lao động nhằm làm
cho ngời lao động tự giác làm việc với kỷ luật lao động và NS, hiệu quả lao động cao.
1.6.2. Hình thức trả lơng theo sản phẩm
1.6.2.1. Khái niệm hình thức tiền lơng trả theo sản phẩm
Hình thức tiền lơng sản phẩm là hình thức tiền lơng trả cho ngời lao động tính
theo số lợng sản phẩm, công việc, chất lợng sản phẩm, hoàn thành nghiệm thu đảm
bảo chất lợng sản phẩm và đơn giá lơng sản phẩm
16.2.2. Phơng pháp xác định định mức lao động và đơn giá tiền lơng sản
phẩm
Để trả lơng theo sản phẩm cần phải có định mức lao động đơn giá tiền lơng
hợp lý trả cho từng loại sản phẩm, công việc. Tổ chức tốt công tác kiểm tra nghiệm
thu sản phẩm
- Tiền lơng thời gian giản đơn gồm
11
Báo cáo tốt nghiệp
+ Tiền lơng tháng: là tiền lơng trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp đồng lao
động hoặc trả cho ngời lao động theo thang bậc lơng quy định gồm tiền lơng cấp bậc
và các khoản phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực (nếu có)
+ Tiền lơng tháng chủ yếu đợc áp dụng cho công nhân viên làm công tác quản
lý hành chính, nhân viên quản lý kinh tế nhân viên thuộc ngành hoạt động không có
tính chất sản xuất tiền lơng tháng gồm tiền lơng chính và các khoản phụ cấp có tính
chất tiền lơng
Tiền lơng chính là tiền lơng trả theo ngành, bậc tức là căn cứ theo trình độ ngời
lao động, nội dung công việc và thời gian công tác, đợc tính theo công thức (Mi, Xi,
Hi)
Mi = Mn x Hi x PC
Trong đó: Hi: hệ số lơng cấp bậc
Mn: mức lơng tối thiểu
Phụ cấp lơng (PC) là khoản phải trả cho ngời lao động cha tính vào lơng chính
Tiền lơng phụ cấp gồm 2 loại:
Loại 1: tiền lơng phụ cấp = Mn x hệ số phụ cấp
Loại 2: Tiền lơng phụ cấp = Mn x Hi x hệ số phụ cấp
+ Tiền lơng tuần: là tiền lơng trả cho một tuần làm việc
Tiền lơng tuần phải trả =
Tiền lơng tháng x 12 tháng
52 tuần
+ Tiền lơng ngày: là tiền lơng trả cho một ngày làm việc là căn cứ trợ cấp
BHXH phải trả cho cán bộ công nhân viên, trả lơng cho cán bộ công nhân viên những
ngày hội họp, học tập và lơng hợp đồng.
Tiền lơng ngày =
Tiền lơng tháng
Số ngày làm việc theo chế độ quy định trong tháng
+ Tiền lơng giờ: Là tiền lơng trả cho 1 giờ làm việc, làm căn cứ để tính phụ
cấp làm thêm giờ
Tiền lơng giờ =
Tiền lơng ngày
Số giờ làm việc trong ngày theo chế độ (8h)
Tiền lơng giờ thờng làm căn cứ để tính phụ cấp làm thêm giờ
12
Báo cáo tốt nghiệp
đồng thời phải đảm bảo các điều kiện để công nhân tiến hành làm việc hởng l-
ơng theo hình thức tiền lơng sản phẩm nh: máy móc, thiết bị nguyên vật liệu
1.6.2.3. Các phơng pháp trả lơng theo sản phẩm
- Hình thức tiền lơng sản phẩm trực tiếp: là hình thức trả lơng cho ngời lao
động đợc tính theo số lợng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách, phẩm chất và đơn
giá tiền lơng sản phẩm
Tiền lơng sản phẩm - khối lợng sản phẩm hoàn thành x đơn giá TLgSP.
+ Hình thức tiền lơng sản phẩm trực tiếp áp dụng với công nhân chính trực tiếp
sản xuất. Trong đó đơn giá tiền lơng sản phẩm không thay đổi theo tỷ lệ hoàn thành
định mức lao động nên còn gọi là hình thức tiền lơng sản phẩm trực tiếp. Không hạn
chế.
- Hình thức tiền lơng sản phẩm gián tiếp: đợc áp dụng đối với các công nhân
phục vụ cho công nhân chính nh công nhân bảo dỡng máy móc thiết bị vận chuyển
nguyên vật liệu, thành phẩm.
Tiền lơng sản phẩm gián tiếp = đơn giá tiền lơng gián tiếp x số lợng sản phẩm
hoàn thành của công nhân sản xuất chính.
- Tiền lơng sản phẩm có thởng: thực chất là sự kết hợp giữa hình thức tiền lơng
sản phẩm với chế độ thởng trong sản xuất (thởng tiết kiệm vật t, tăng năng suất lao
động nâng cao chất lợng sản phẩm).
- Tiền lơng sản phẩm luỹ tiến: là hình thức tiền lơng trả cho ngời lao động gồm
tiền lơng tính theo sản phẩm trực tiếp và tiền thởng tính theo tỷ lệ luỹ tiến, căn cứ vào
mức độ vợt định mức lao động đã quy định.
Lơng sản phẩm luỹ tiến, kích thích mạnh mẽ việc tăng nhanh năng suất lao
động nó áp dụng ở nơi cần thiết phải đẩy mạnh tốc độ sản xuất để đảm bảo sản xuất
cân đối hoặc hoàn thành kịp thời đơn đặt hàng.
Tiền lơng
sản phẩm
luỹ tiến
=
Đơn giữ l-
ơng sản
phẩm
x
Số lợng sản
phẩm đã
hoàn thành
x
Đơn giá l-
ơng sản
phẩm
X
Số lợng sản
phẩm vợt
KK
x
Tỷ lệ l-
ơng luỹ
tiến
13
Báo cáo tốt nghiệp
- Tiền lơng khoán khối lợng sản phẩm hoặc công việc
Hình thức trả lơng cho ngời lao động theo khối lợng sản phẩm công việc lao
động giản đơn, công việc có tính chất đột xuất nh khoán bốc vác, vận chuyển nguyên
liệu, vật liệu thành phẩm
- Tiền lơng khoán gọn theo sản phẩm cuối cùng: là tiền lơng đợc tính theo đơn
giá tổng hợp cho sản phẩm hoàn thành đến công việc cuối cùng. Hình thức tiền lơng
này áp dụng cho từng bộ phận sản xuất
- Tiền lơng trả theo sản phẩm tập thể: đợc áp dụng đối với vv doanh nghiệp mà
kết quả là sản phẩm của cả tập thể công nhân
- Tác dụng của hình thức tiền lơng sản phẩm
Quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, tiền lơng gắn liền với số lợng,
chất lợng sản phẩm và kết quả lao động do đó kích thích ngời lao động nâng cao năng
suất lao động, tăng chất lơng sản phẩm
Các phơng pháp chia tiền lơng
Nguyên tắc kế toán phải tính cho từng ngời lao động trong trờng hợp tiền trả
theo sản phẩm đã hoàn thành là kết quả của tập thể ngời lao động thì kế toán phải
chia cho từng ngời lao động theo các phơng pháp:
+ Phơng pháp: chia lơng sản phẩm theo thời gian làm việc và cấp bậc hạ kỹ
thuật của công việc. Khi cấp bậc kỹ thuật công nhân phù hợp với cấp bậc công việc
thì áp dụng phơng pháp này.
Li =
LiTi
Lt
n
Li
+
=

x TiHi
Li: T lơng sản phẩm của Cni
Ti: Thời gian lv thực tế của CNi
Hi: Hệ số cấp bậc kỹ thuật của CNi
Lt: Tổng tiền lơng sản phẩm tập thể
n: số lợng ngời lao động của tập thể
+ Phơng pháp : chia lơng theo cấp bậc công việc, thời gian làm việc kết hợp với
bình công chấm điểm:
14

Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện dạy học ở trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên.pdf


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
5
5

5.3. Đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phƣơng
tiện dạy học ở trƣờng ĐHSPKT Hƣng Yên. Tiến hành thực nghiệm để kiểm
chứng tính khả thi và hiệu quả của những biện pháp đó.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu trên, chúng tôi sử dụng
những phƣơng pháp nghiên cứu sau:
6.1. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, phân loại…
những tri thức lý luận nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
6.2. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phƣơng pháp quan sát
Chúng tôi quan sát giờ giảng dạy của một số giảng viên, tìm hiểu cơ sở
vật chất, điều kiện phƣơng tiện, hoạt động dạy và học của giảng viên và sinh
viên… để có thông tin phục vụ cho đề tài.
- Phƣơng pháp điều tra bằng anket
Chúng tôi điều tra bằng anket trên những đối tƣợng khác nhau: cán bộ
quản lý, giảng viên, sinh viên để tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân của việc sử
dụng phƣơng tiện dạy học để có cơ sở vững chắc cho việc đề xuất những biện
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phƣơng tiện dạy học ở trƣờng ĐHSPKT
Hƣng Yên .
- Phƣơng pháp phỏng vấn
Chúng tôi phỏng vấn một số cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên về
việc sử dụng phƣơng tiện dạy học và những ý kiến đề xuất của họ trong việc
nâng cao hiệu quả sử dụng phƣơng tiện dạy học ở trƣờng ĐHSPKT Hƣng
Yên.
- Phƣơng pháp thực nghiệm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
6
6

Để chứng minh cho tính khả thi của những biện pháp đề xuất nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng phƣơng tiện dạy học ở trƣờng ĐHSPKT Hƣng
Yên, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm.
- Phƣơng pháp lấy ý kiến chuyên gia
Chúng tối xin ý kiến một số chuyên gia có kinh nghiệm trong quản lý
và chuyên môn để có thêm cái nhìn khách quan, đầy đủ về vấn đề nghiên cứu.
- Phƣơng pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
Chúng tôi nghiên cứu, đánh giá kết quả bài kiểm tra của sinh viên để có
cơ sở đƣa ra những kết luận trong phần thực nghiệm.
6.3 Nhóm phƣơng pháp hỗ trợ
Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp toán học nhƣ: tính tỷ lệ %, tính hệ số
trung bình và sử dụng một số công thức toán xác suất, thống kê và ứng dụng
phần mềm thống kê xã hội học (SPSS)… để xử lý những thông tin thu đƣợc,
phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Do thời gian, điều kiện có hạn, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ
nghiên cứu vấn đề sử dụng phƣơng tiện dạy học của giảng viên và sinh viên
ở một số khoa (khoa Sƣ phạm Kỹ thuật, khoa Kinh tế, khoa Cơ khí, khoa
Điện - Điện tử) của trƣờng ĐHSPKT Hƣng Yên.
Cũng do thời gian và điều kiện có hạn, chúng tôi chỉ tiến hành thực
nghiệm kiểm chứng biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phƣơng tiện dạy
học trong dạy học môn Giáo dục học nghề nghiệp (GDHNN). Trong đó, các
yêu cầu về quản lý phƣơng tiện dạy học, nâng cao nhận thức của giáo viên,
sinh viên và sử dụng những phƣơng tiện dạy học phù hợp sẽ đƣợc sử dụng
trong giảng dạy học phần GDHNN.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
7
7

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử vấn đề
Các Mác, F.Anghen và Lênin đã chỉ rõ vai trò quyết định của công cụ
lao động đối với sự phát triển của xã hội loài ngƣời, là một trong ba yếu tố
không thể thiếu của bất kỳ quá trình lao động nào, là yếu tố động nhất, cách
mạng nhất.
Dựa trên quan niệm của phép biện chứng duy vật lịch sử thì PTDH là
những công cụ lao động, là phƣơng tiện trực quan trong hoạt động dạy học
của thầy và trò. Nhờ có các PTDH mà “làm dài thêm” cơ quan cảm giác của
con ngƣời, cho phép con ngƣời đi sâu vào thế giới vật chất nằm sau giới hạn
tri giác của các giác quan thông thƣờng.
Trong trƣờng học, PTDH đƣợc xem là một trong những điều kiện quan
trọng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, nhằm cung cấp vốn tri thức mà loài
ngƣời tích luỹ đƣợc cho ngƣời học, đồng thời kích thích khả năng sáng tạo,
ứng dụng vào cuộc sống của ngƣời học.
Trong những năm qua, đã có nhiều nhà giáo, nhà nghiên cứ khoa học
quan tâm nghiên cứu đến vấn đề chế tạo, quản lý, sử dụng và bảo quản PTDH
trong nhà trƣờng nhƣ: GS.TS.Nguyễn Cƣơng; TS.Tô Xuân Giáp; PGS.TS.Võ
Chấp; PGS.Trần Quốc Đắc; PGS.TS.Vũ Trọng Rỹ; GS.TSKH. Thái Duy
Tuyên…
Những công trình nghiên cứu của các tác giả đã xây dựng đƣợc một hệ
thống lý luận về vị trí, vai trò, tác dụng và một số yêu cầu về nguyên tắc chế
tạo, sử dụng PTDH trong nhà trƣờng hiện nay.
PTDH đựơc xác định là một trong những nhân tố quyết định tính hiệu
quả của quá trình dạy học. Trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Hƣng Yên là
một trƣờng sƣ phạm kỹ thuật nên có những đặc điểm và đặc thù riêng về điều
kiện lịch sử, về hệ thống cơ sở vật chất, về đội ngũ giảng viên, về cơ cấu đào

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
8
8

tạo… Và trong những năm qua, ở trƣờng ĐHSPKT Hƣng Yên việc điều tra,
đánh giá về PTDH chƣa đƣợc tiến hành nghiên cứu một cách đầy đủ, cụ thể.
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
- Phƣơng pháp dạy học: Có nhiều định nghĩa về phƣơng pháp dạy học,
tiêu biểu nhƣ:
Theo GS.TS Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt, phƣơng pháp dạy học là tổ
hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học, đƣợc
tiến hành dƣới vai trò chủ đạo của thầy, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy
học. [11]
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo, phƣơng pháp là cách thức tiến hành
một cách tự giác, tuần tự nhằm đạt đƣợc những kết quả phù hợp với mục đích
đã định.
Phƣơng pháp dạy học là hệ thống những hành động có chủ đích theo
một trình tự nhất định của giáo viên để tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt
động thực hành của học sinh, nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học
và chính nhờ vậy mà đạt đƣợc những mục tiêu dạy học. [2]
Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Quang, phƣơng pháp dạy học là cách thức
làm việc của thầy và của trò trong sự phối hợp thống nhất và dƣới sự chỉ đạo
của thầy nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học. [14]
- Phƣơng tiện
Theo Từ điển Tiếng Việt, “phƣơng tiện là cách thức dùng để đạt mục
đích”. [21]
Phƣơng tiện theo tiếng Latinh là “medium”, có nghĩa là ở giữa, trung
gian liên kết giữa ngƣời cho và ngƣời nhận . Phƣơng tiện vừa nói lên sự hàm
chứa, tính vị trí, vừa có chức năng chuyển giao, liên kết trong quan hệ giữa
ngƣời gửi và ngƣời nhận.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
9
9

Phƣơng tiện là một cấu trúc chứa đựng và thể hiện các tín hiệu nhằm
chuyển giao nội dung nhất định giữa ngƣời gửi và ngƣời nhận bằng hệ thống
các tín hiệu thông qua các giác quan cảm nhận của con ngƣời.
- Phƣơng tiện dạy học
Cũng giống nhƣ bất kỳ một quá trình sản xuất nào, quá trình dạy học
cũng phải sử dụng những công cụ lao động nhất định. Phƣơng tiện lao động
sƣ phạm rất đa dạng. Nó bao gồm phƣơng tiện vật chất, phƣơng tiện thực
hành, phƣơng tiện trí tuệ.
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về phƣơng tiện dạy học:
+ Phƣơng tiện dạy học là những đối tƣợng vật chất giúp cho giáo viên
và học sinh tổ chức có hiệu quả quá trình dạy học nhằm đạt đƣợc mục đích
dạy học, nhờ những đối tƣợng vật chất này, giáo viên tiến hành tổ chức, điều
khiển quá trình dạy học giúp học sinh tự tổ chức hoạt động nhận thức của
mình một cách có hiệu quả. [8]
+ Phƣơng tiện dạy học là tập hợp những đối tƣợng vật chất đƣợc giáo
viên sử dụng với tƣ cách là những phƣơng tiện tổ chức, điều khiển hoạt động
nhận thức của học sinh, thông qua đó mà thực hiện những nhiệm vụ dạy học. [1]
+ Phƣơng tiện dạy học là một tập hợp những đối tƣợng vật chất đƣợc
giáo viên sử dụng với tƣ cách là những phƣơng tiện điều khiển hoạt động
nhận thức của học sinh và đối với học sinh, đó là các nguồn tri thức phong
phú, sinh động, là các phƣơng tiện giúp chúng lĩnh hội tri thức và rèn luyện
kỹ năng và kỹ xảo. [2]
+ Phƣơng tiện dạy học là một cấu trúc chứa đựng và thể hiện các tín
hiệu hàm chứa đầy đủ những ý định của giáo viên và nó có thể đƣợc sử dụng
hoặc chọn lựa nhằm chuyển tải, truyền đạt nội dung đến học sinh và nhằm
liên kết giữa học sinh, giáo viên và nội dung theo mục tiêu và phƣơng pháp
cũng nhƣ hoạch định ban đầu của giáo viên. [12]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
10
10

Theo quan điểm giáo dục học, phƣơng tiện dạy học là đại diện khách
quan của đối tƣợng nhận thức ẩn chứa trong đó đầy đủ những ý định, hoạch
định ban đầu cả về nội dung truyền đạt và nhận thức, phƣơng pháp truyền đạt
của giáo viên và lĩnh hội của học sinh.
+ Phƣơng tiện dạy học là một tập hợp những đối tƣợng vật chất đựơc
giáo viên sử dụng với tƣ cách là những phƣơng tiện điều khiển hoạt động
nhận thức của học sinh.
Đối với ngƣời học, phƣơng tiện còn là một nguồn tri thức phong phú để
lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng.
+ Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo, phƣơng tiện dạy học là tập hợp
những đối tƣợng vật chất đƣợc giáo viên sử dụng với tƣ cách là những
phƣơng tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh và đối với
học sinh, đó là phƣơng tiện để tiến hành hoạt động nhận thức của mình, thông
qua đó mà thực hiện nhiệm vụ dạy học. [2]
+ Phƣơng tiện dạy học là tập hợp những đối tƣợng vật chất và tinh thần
đƣợc giáo viên sử dụng để điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh và
đối với học sinh đó là nguồn tri thức trực quan sinh động, là công cụ để rèn
luyện kỹ năng kỹ xảo. [15]
+ Theo Nguyễn Ngọc Quang, phƣơng tiện dạy học “bao gồm mọi thiết
bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp đƣợc dùng trong quá trình dạy học để
làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo”. [14]
+ Phƣơng tiện dạy học là toàn bộ các dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kỹ thuật
và các tài liệu trang bị cho quá trình dạy học nhằm nâng cao hiệu quả của quá
trình dạy học. [17]
Có rất nhiều cách định nghĩa về phƣơng tiện dạy học, tuỳ theo mức độ
rộng hẹp khác nhau. Và trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm
phương tiện dạy học là những đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng để

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
11
11

tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức và rèn luyện kỹ năng kỹ xảo của
người học.
- Phƣơng tiện dạy học trực quan: là những công cụ, (phƣơng tiện) mà
ngƣời giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học nhằm xây dựng
cho học sinh những biểu tƣợng về sự vật, hiện tƣợng, hình thành khái niệm
thông qua sự tri giác trực tiếp bằng các giác quan của ngƣời học. [18]
- Phƣơng tiện kỹ thuật dạy học (phƣơng tiện dạy học có tính kỹ thuật):
cũng là một dạng của phƣơng tiện dạy học, là những phƣơng tiện dạy học
đƣợc chế tạo ra bằng trình độ công nghệ cao và đòi hỏi phải sử dụng điện
năng.
- Phƣơng tiện dạy học truyền thống: là các loại phƣơng tiện dạy học đã
đƣợc sử dụng lâu đời và ngày nay vẫn còn đƣợc sử dụng trong dạy học
(phƣơng tiện dạy học hai chiều, ba chiều). Và thông thƣờng, phƣơng tiện dạy
học truyền thống đƣợc hiểu là những đồ dùng trực quan đƣợc dùng trong dạy
học.
- Phƣơng tiện dạy học hiện đại: chủ yếu là phƣơng tiện dạy học nghe
nhìn, đƣợc hình thành do sự phát triển của kỹ thuật , đặc biệt là điện tử.
1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng phƣơng tiện dạy học trong
quá trình dạy học
Nhƣ chúng ta đã biết, con đƣờng nhận thức đi từ “trực quan sinh động
đến tƣ duy trừu tƣợng, và từ tƣ duy trừu tƣợng quay trở lại phục vụ thực tiễn”
hay “Tính trực quan là tính chất có tính quy luật của quá trình nhận thức khoa
học”. Do đó, khi dạy các môn học, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên, kỹ
thuật cần chú ý đến vấn đề sau: học sinh tri giác trực tiếp các đối tƣợng nhận
thức. Con đƣờng nhận thức này đƣợc thể hiện dƣới dạng học sinh quan sát
các đối tƣợng nghiên cứu ở trong các giờ học hay khi đi tham quan. Dƣới sự
hƣớng dẫn của giáo viên, học sinh tri giác không phía bản thân đối tƣợng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
12
12

nghiên cứu mà tri giác những hình ảnh, biểu tƣợng, sơ đồ phản ánh một bộ
phận nào đó của đối tƣợng. Trong khi tri giác những biểu tƣợng có sơ đồ hoá
hoặc hình ảnh của đối tƣợng và hiện tƣợng, quá trình cần nghiên cứu, ngƣời
học có thể tìm hiểu đƣợc bản chất của các quá trình và hiện tƣợng đã thực sự
xảy ra. Những tính chất và hiểu biết về đối tƣợng đƣợc học sinh tri giác không
chỉ bằng thị giác mà còn bằng xúc giác, thính giác và trong một số trƣờng hợp
ngay cả khứu giác cũng đƣợc sử dụng.
Trên cơ sở phân tích trên, ta thấy rằng phƣơng tiện dạy học có ý nghĩa
to lớn với quá trình dạy học. Cụ thể:
- Giúp học sinh dễ hiểu bải, hiểu bài sâu sắc và nhớ bài lâu hơn. Phƣơng
tiện dạy học tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu các thuộc tính bề
ngoài của đối tƣợng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng.
Phƣơng tiện dạy học giúp cụ thể hoá những cái quá trừu tƣợng, đơn giản hoá
những máy móc và thiết bị quá phức tạp.
- Phƣơng tiện dạy học giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao
hứng thú học tập bộ môn, nâng cao lòng tin của ngƣời học vào khoa học.
- Phƣơng tiện dạy học còn giúp cho ngƣời học phát triển năng lực nhận
thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tƣ duy (phân tích, tổng hợp các hiện
tƣợng, rút ra những kết luận có độ tin cậy…)
- Giúp giáo viên tiết kiệm đƣợc thời gian trên lớp trong mỗi tiết học.
Giúp giáo viên điều khiển đƣợc hoạt động nhận thức của ngƣời học, kiểm tra
và đánh giá kết quả học tập của ngƣời học đƣợc thuận lợi và có hiệu suất cao.
Nói tóm lại, phƣơng tiện dạy học góp phần nâng cao hiệu suất lao động
sƣ phạm của thầy và trò.
1.4 Vấn đề phân loại phƣơng tiện dạy học
Cho đến nay, các nhà giáo dục vẫn có nhiều quan điểm khác nhau khi
bàn về cách phân loại PTDH. Mỗi quan điểm phân loại đều do dựa trên tính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
13
13

chất, cấu tạo và mức độ sử dụng phƣơng tiện dạy học trong quá trình dạy học.
Cơ sở phân loại phƣơng tiện dạy học dựa trên các căn cứ chủ yếu nhƣ:
- Cơ sở khoa học về những con đƣờng nhận thức của học sinh
trong quá trình học tập.
- Chức năng của các loại hình phƣơng tiện dạy học.
- Yêu cầu về mặt sƣ phạm và khả năng trang bị, sử dụng chúng
trong nhà trƣờng hiện nay.
Từ những cơ sở trên, đã có rất nhiều cách phân loại khác nhau về
phƣơng tiện dạy học. Tiêu biểu là:
Theo GS. TSKH Nguyễn Văn Hộ và PGS.TS Hà Thị Đức, phƣơng tiện
dạy học đƣợc chia thành những loại sau:
+ Mẫu vật: có thể dƣới dạng vật thật, vật nhồi, tiêu bản… tuỳ theo môn
học, mẫu vật đƣợc chế tạo theo những chủng loại khác nhau.
+ Mô hình và hình mẫu: là những sản phẩm chế tạo phản ánh trung
thực, khái quát vật thật, nó giúp cho ngƣời quan sát có thể hình dung cấu trúc
không gian của toàn thể cũng nhƣ bộ phận cơ bản nhất của vật thật với kích
thƣớc đƣợc phóng to thu nhỏ.
+ Phƣơng tiện đồ hoạ: hình vẽ của giáo viên trên bảng là loại phƣơng
tiện đƣợc tạo ra bởi giáo viên nhằm tập trung sự chú ý của học sinh vào
những mặt chủ yếu của đối tƣợng nghiên cứu trong những điều kiện thích hợp
kết hợp với lời giảng.
+ Thiết bị thí nghiệm: Là những dụng cụ đƣợc chế tạo đặc chủng phục
vụ cho những môn học tƣơng ứng nhƣ hoá học, vật lý, kỹ thuật…
+ Các phƣơng tiện kỹ thuật dạy học nhƣ những phƣơng tiện nghe nhìn,
máy kiểm tra, máy vi tính…[8]
Theo PGS.TS Vũ Trọng Rỹ, phƣơng tiện dạy học đƣợc phân loại nhƣ
sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
14
14

+ Xét về mặt nội dung dạy học, hệ thống PTDH trong nhà trƣờng bao
gồm các hệ thống PTDH theo môn học.
+ Nếu không xét đến nội dung dạy học thì bất kể hệ thống PTDH theo
môn học nào đều bao gồm các thành phần sau:
Các vật thật: Đó là các bộ sƣu tập thực vật, động vật, mẫu đất đá, sản
phẩm lao động…
Các phƣơng tiện miều tả bằng ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nhân
tạo: đó là sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo, vở bài tập in sẵn, các
tài liệu in ấn (bản đồ, sơ đồ…)
Các thiết bị đồ dùng để tái tạo lại hiện tƣợng (các dụng cụ thí nghiệm),
các máy móc, dụng cụ lao động sản xuất.
Các phƣơng tiện kỹ thuật dùng để truyền tải thông tin ghi trong các
phƣơng tiên nghe - nhìn (máy chiếu phim, đèn chiếu, máy thu hình, đầu
video…) và các phƣơng tiện để thực hiện mối liên hệ ngƣợc (máy kiểm tra
kiến thức…) [16]
Theo PGS.TSKH Thái Duy Tuyên, căn cứ vào nhiệm vụ dạy học,
PTDH đƣợc phân làm 4 loại phục vụ trực tiếp và gián tiếp trong quá trình dạy
học.
+ Loại thứ nhất: là thiết bị phục vụ việc truyền thụ kiến thức rất đa
dạng, nhằm hỗ trợ cho ngƣời học trong quá trình nắm kiến thức. Gồm các
nhóm sau:
Nhóm các vật thật (nguyên bản) và những phƣơng tiện tái hiện các hiện
tƣợng tự nhiên, kỹ thuật và sản xuất nhƣ các thí nghiệm biểu diễn.
Nhóm các hình ảnh của các hiện tƣợng tự nhiên và xã hội nhƣ: mô
hình, tranh, bảng vẽ, phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng ghi âm…