Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Nghiên cứu một số đặc điểm dinh dưỡng và tập tính của vượn đen má trắng - Nomascus leucogenys (Ogilby, 1840) trong điều kiện nuôi nhốt ở Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng Nguy cấp, Vườn Quốc gia Cúc P

cành. Tay và chân vợn có khe sâu giữa số 1 và 2, giúp cho vợn có thể bám để
leo trên các cây nhỏ, thân nhỏ và dây leo. Tập tính đu mình cho phép vợn có thể
phân tán khối lợng thân của chúng trên các cành nhỏ để để lấy đợc thức ăn tốt
nhất ở tận cuối của cành nhỏ (Ellefson, 1968, trong Kenyon, 2004).
Vợn là những loài thú có tính ăn chọn cao và dùng tay nhặt những miếng
thức ăn nhỏ. Chúng dùng 4 ngón giữa dài cùng với đệm ngón 1 và cạnh ngón 2
để nắm lấy các vật thể nhỏ. Vợn có các răng cửa khá rộng để ăn quả, các răng
hàm đơn giản với gờ nhai thấp để cắn vỡ và nghiền dập quả cây.
Vợn đen má trắng thuộc động vật ăn quả, thức ăn của chúng chủ yếu là
quả cây, lá non, và một số loài côn trùng. Quả cây chúng chọn ăn thờng là các
quả cây đã chín đậm, nhiều cùi và nớc ngọt. Chúng cũng ăn cả trứng chim và
chim non, ếch nhái. Trong các vờn thú, vợn đen má trắng thờng đợc cho ăn các
loài quả cây nh cam, táo, chuối, một số loại hạt và thức ăn tổng hợp cho khỉ.
Phân tích chất chứa trong 13 dạ dày thu đợc, Lê Hiền Hào (1973) cho
biết vợn đen má trắng ăn quả, chồi non, lá, hoa, côn trùng và nhện. Thợ săn ở
các địa phơng Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá và Nghệ An cho biết chúng ăn
chồi lá, hoa, quả cây rừng, đôi khi cả trứng chim. Trên cơ sở các nghiên cứu
thực địa và ở Trung tâm Cứu hộ Linh trởng Nguy cấp, VQG Cúc Phơng, Phạm
Nhật (2002) đã ghi nhận đợc 59 loài cây rừng và cây trồng. Trong đó, vợn ăn lá
của 19 loài, ăn quả 53 loài, ăn thân 2 loài và chỉ có 2 loài đợc ăn củ.
1.4. Tập tính hoạt động
Vợn sống thành từng nhóm nhỏ, nh là gia đình. Mỗi nhóm thờng gồm
một đôi đực cái (một cặp vợ chồng theo đúng nghĩa), đôi khi 1 đực và 2 cái,
cùng với con non của chúng. Số lợng thờng là 2 4, ít khi là 5. Tuy nhiên,
cũng có trờng hợp vợn đực sống đơn độc. Đó là vợn non mới tách khỏi gia đình
để sống độc lập bị đuổi ra khỏi đàn ở gần tuổi trởng thành sinh dục (Phạm Nhật,
2002).
5
Vợn là loài thú sống ở cây với mức độ chuyên hoá cao, và hầu nh không
hoạt động ở mặt đất. Ngay cả khi cần uống nớc chúng cũng không tụt xuống
đất. Chúng tìm đến những cành cây mọc rũ bên bờ nớc, dùng chi sau bám vào
cành cây để đu ngời xuống uống nớc. Vợn có cách vận chuyển đu mình rất đặc
thù. Chúng dùng chi sau nh bàn đạp để tung bật ngời lên và dùng các ngón tay
dài ở chi trớc móc vào cành cây để chuyển tới. Cách vận chuyển của vợn rất nhẹ
nhàng. Khi ở mặt đất chúng đi lại vụng về và chậm chạp. Nó đứng lom khom
trên 2 chi sau bớc đi chập chững, 2 chi trớc luôn luôn vung vẩy để giữ thăng
bằng. Vợn không biết bơi, sợ nớc và không bao giờ tắm.
Vợn hoạt động ban ngày, Một ngày hoạt động của vợn thờng đợc chia
thành 2 pha rõ rệt là sáng và chiều. Buổi tra (khoảng 9-10giờ tới 14-15giờ) và
trớc lúc mặt trời lặn vợn nghỉ ngơi.
Một thói quen nổi bật của vợn là chúng thích hót vào lúc sáng sớm, sau
khi vừa thức dậy. Lúc đó, cả gia đình vợn quây quần bên nhau nh là để biểu lộ
tình cảm và cả hoạt động sinh dục. Chúng âu yếm và vuốt ve lẫn nhau. Rồi
bỗng nhiên một con phát ra tiếng hót, và các con khác cũng hoà theo.
Giống vợn mào Nomascus là giống duy nhất có tiếng hót đôi với con đực
có u thế (Schilling 1980, trong Kenyon 2004). Tiếng hót của vợn đã đợc phân
tích khá kỹ và hiện nay là phơng tiện quan trọng để xác định phân loài.Tiếng
hót của vợn mào Nomascus trởng thành hoàn toàn bao gồm một loạt các pha
ngắt âm và các pha ngân nga lên xuống. Vợn đực cha trởng thành của giống
Nomascus hót giống vợn cái và sau đó, khi thành thục sinh dục chuyển sang
tiếng hót của vợn đực. Các đặc điểm đặc trng loài của tiếng hót vợn đợc di
truyền rộng rãi (Geissmann 1984 trong Kenyon 2004).
Thời gian hót của chúng thờng kéo dài khoảng 10- 15 phút, đôi khi tới 20
phút, nhng hầu nh không gặp vào những ngày xấu trời. Ngoài ra, những khi thời
tiết sắp thay đổi vợn cũng hót nhng âm điệu hoàn toàn khác hẳn, cũng không
phải cả nhóm cùng tham gia và chỉ vang lên trong khoảnh khắc.
6
Chức năng của tiếng hót là xua đuổi các kẻ xâm phạm và duy trì không
gian và lãnh địa của mình, nhờ vậy mà giải quyết các xung đột, không gây th-
ơng tích cho cơ thể. Một lí do cơ bản khác của tiếng hót đợc cho là để duy trì
mối quan hệ vợ chồng và tuyên bố với hàng xóm về sự bền vững của mối quan
hệ này. Tiếng hót cũng có thể là để thể hiện tình trạng sức khoẻ. Việc hót của
vợn bị suy giảm khi nguồn thức ăn giàu năng lợng bị suy giảm (Cowlishaw
1996, trong Kenyon 2004). Tần số các đợt hót của vợn đực có thể bị suy giảm
trong quần thể khi mà chi phí năng lợng cho việc điều hoà thân nhiệt lớn hơn (ở
các vĩ độ cao hơn). Vợn cái không thể hiện hiện tợng này, chúng thờng phát
tiếng hót rập khuôn ổn định thành những đợt tơng đối ngắn và lặp lại.
Các vợn cái đơn độc ngoài thiên nhiên rất hiếm khi hót và những vợn cái
goá bụa hầu nh im lặng (Tenaza 1975, trong Kenyon 2004). Các vợn đực cha
ghép đôi hót để quyến rũ bạn tình, chúng hót với nhịp điệu nhanh hơn và lâu
hơn so với các vợn đực đã ghép đôi (Mitani và Marler 1989, trong Kenyon
2004). Một nguyên nhân nữa khiến vợn đực cha ghép đôi hót là để xác định vị
trí của các nhóm đã thiết lập bởi vì chúng có thể phải chịu sự tấn công dữ dội
của các đôi có lãnh địa.
7
Hình 2:vợn đen má trắng cái
(ảnh : Nguyễn Xuân Nghĩa)
Hình 1: vợn đen má trắng đực (ảnh
: Nguyễn Xuân Nghĩa)
Chơng 2
Đối tợng, Nội dung và phơng pháp nghiên cứuơ
Hình 4: Chuồng nuôi vượn
( ngăn B) ở TTCHLTNC, Cúc
phương.
8
Hình 3: vợn đen má trắng mẹ và
con non 6 tháng tuổi
Hình 5: Chuồng nuôi vợn (ngăn A)
ở TTCHLTNC, Cúc phơng.
Hình 6: Nơi chuẩn bị thức ăn
cho vợn
2.1. Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu là các cá thể vợn đen má trắng (Nomascus
leucogenys) trởng thành đang đợc nuôi tại TTCHLTNC VQG Cúc Phơng.
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về vị trí phân loại, phân bố địa lý, đặc
điểm sinh học và sinh thái của loài vợn đen má trắng.
- Xác định một số đặc điểm dinh dỡng (thành phần thức ăn, lợng thức ăn
tiêu thụ) của vợn má trắng trong điều kiện nuôi nhốt .
- Xác định chu kỳ hoạt động ngày đêm và mô tả một số tập tính của vợn
đen má trắng trong điều kiện nuôi nhốt .
- Đề xuất một số kiến nghị về quản lý bảo tồn loài vợn đen má trắng
2.3. Phơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Địa điểm nghiên cứu
Các nghiên cứu đợc thực hiện trên đàn vợn đen má trắng nuôi nhốt tại
TTCHLTNC, VQG Cúc Phơng, tỉnh Ninh Bình.
Chuồng nuôi vợn có cấu trúc 2 ngăn (Hình 4, 5): Ngăn A có diện tích
sàn khoảng 40 m
2
(8mx5m) là nơi để thức ăn và nớc uống cho vợn. Nền láng xi
măng và có độ nghiêng khoảng 4
0
để tiện việc vệ sinh cọ rửa hàng ngày.
Không gian chuồng có bố trí thành 3 dàn tầng ngang bằng các cây tre và một
số cây gỗ khác xếp cách tha nhau. Tầng 1 cách mặt sàn khoảng 1 m, tầng 2
cách tầng 1 khoảng 0,7m, tầng 3 cách tầng 2 khoảng 1,2m và cách trần khoảng
0,5 m. Dàn của tầng 2 và tầng 3 này đợc bố trí dầy hơn tầng 1 và có treo thêm
một số đồ chơi cho vợn nh đu giây, thang giây, các khúc gỗ treo, võng bạt, võng
rổ, Các đồ chơi này đợc định kỳ luân phiên giữa các chuồng kích thích sự chú
ý của vợn. ở hai góc của tầng 1 có bố trí kệ tre (đợc ken tre dày nh tấm phên và
đủ rộng cho 2 vợn cùng ngồi) là nơi để thức ăn cho vợn và cũng là nơi cho
chúng ngồi nghỉ hoặc ngồi chơi. ở tầng 2 cũng bố trí 2 kệ tre tơng tự cho vợn
ngồi chơi. Tại 2 góc của tầng 3 có bố trí các kệ gỗ cho vợn nằm nghỉ. Nơi vợn
nằm ngủ đợc che bằng tấm lợp nhựa trắng ở phía trên (nóc chuồng) và 2 bên
9
thành chuồng. Vào mùa đông, có đặt thêm hộp ngủ bằng gỗ để chống lạnh cho
vợn. Trong ngăn A còn tách thêm một ngăn phụ (khoảng 6-8m
2
) tại cửa ra vào
làm nơi để dụng cụ vệ sinh (xẻng, cào, vòi nớc, bàn chải, chổi sể, ). Từ ngăn
phụ có các cửa vào ngăn A và ngăn B. Các cửa đều có khoá và đợc mở vào phía
trong đề phòng vợn tự đẩy cửa trốn ra ngoài.
Ngăn B có diện tích khoảng 40 m
2
cũng có cấu trúc tơng tự nh ngăn A
với 3 tầng dàn tre, chỉ khác là nền đất có lớp cỏ (cỏ tranh, cỏ lác, ) mọc um
tùm cùng với một số cây bụi khác. Hai ngăn A và B đợc thông với nhau bằng 1
hoặc 2 cửa kéo có khoá.
Bảng 1. Thành phần đàn vợn đen má trắng đợc nghiên cứu
TT Tên
gọi
Tên khoa
học
Đực/
cái
Năm
sinh
Chuồng
số
Ngày nhập, xuất xứ,
Trạng thái sinh dục
1. Gorbi
N.l. siki
Đực 1992 7 10-11-1994, khách nớc ngoài
tặng. đã giao phối sinh con.
2. Rudi
N.l. siki
Đực 1996 16B 30-10-1996, khách du lịch tặng.
3. Daisy
N.l. siki
Cái 1993 7 18-9-1993, khách nớc ngoài
tặng. Trởng thành, đã đẻ đợc 3
lứa (1999, 2002, 2006).
4. Simba
N.l. siki
Cái 1998 14A 1-12-1998, khách du lịch tặng.
Trởng thành, đã có động dục.
(Số liệu: TTCHLTNC)
Hàng ngày ngời chăn nuôi phải dọn vệ sinh chuồng 2 lần, quét dọn phân,
thức ăn rơi vãi và thay nớc uống. Không dùng hoá chất để tẩy uế, chỉ dùng nớc
sạch để rửa chuồng.Vào thứ ba hàng tuần tiến hành tổng vệ sinh toàn bộ khu
vực gồm các chuồng nuôi và xung quanh.
Đàn vợn nghiên cứu bao gồm 4 cá thể: 2 đực và 2 cái (bảng 1), đợc nuôi
trong 3 chuồng khác nhau.
Chuồng 7: Là một gia đình vợn siki gồm 4 cá thể: bố, mẹ, con gần trởng
thành và con non. Vợn bố tên Gorbi, sinh năm 1992, do một ngời nớc ngoài đa
về ngày 10-11-1994, tình trạng sức khoẻ tốt. Vợn mẹ tên Daisy, sinh năm 1993,
10
do một ngời nớc ngoài đa về ngày 18-09-1993, tình trạng sức khoẻ tốt. Vợn
đực con gần trởng thành tên Rafi, sinh 17-12-2002 tại TTCHLT, tình trạng sức
khoẻ tốt. Vợn cái con non cha đặt tên, sinh ngày 21-11-2006 tại TTCHLT, tình
trạng sức khoẻ tốt.Trong gia đình này thì vợn mẹ tỏ ra là đầu đàn nó luôn gầm
gừ khi có ngời đi qua chuồng, và xồ đến nhe răng doạ hoặc tấn công (cắn) nếu
ngời đó đến gần chuồng. Vợn bố chỉ xồ ra theo sau vợn mẹ.
Chuồng 16A: Có một cá thể vợn đực siki tên là Rudi, sinh 1996, do một
khách đa về 30-10-1996, tình trạnh sức khoẻ tốt.
Chuồng 14A : Có một cá thể vợn cái siki tên là Simba, sinh năm 1998,
do khách du lịch tặng ngày 1-12-1998, đang có biểu hiện động dục (thờng
xuyên cọ tay vào cơ quan sinh dục), tình trạng sức khoẻ tốt.
2.3.2. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu đợc tiến hành từ tháng 3/2007 đến tháng 5/2007 với 3 đợt
quan sát và thực hiện thí nghiệm trên đàn vợn nuôi tại TTCHLTNC, VQG Cúc
Phơng:
- Đợt 1 : Từ ngày 06/03/2007 đến ngày 15/03/2007
- Đợt 2 :Từ ngày 08/04/2007 đến ngày 15/04/2007
- Đợt 3: Từ ngày 08/05/2007 đến ngày 15/05/2007
Phân tích số liệu và chuẩn bị khoá luận đợc tiến hành tại trờng Đại học
Lâm Nghiệp dới sự hớng dẫn của TS. Nguyễn Xuân Đặng Phòng Động vật
học Có xơng sống, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Khoa học và
Công nghệ Việt Nam.
2.3.3. Phơng pháp nghiên cứu thức ăn
Nghiên cứu thành phần thức ăn
Để xác định thành phần các loài thức ăn của vợn trong điều kiện nuôi
nhốt chúng tôi theo dõi ghi chép tất cả các loại thức ăn đợc cán bộ nuôi dỡng
của TTCHLT cung cấp cho vợn hàng ngày, chú ý đến nguồn gốc và chất lợng
11
thức ăn. Do qui chế của TTCHLT chúng tôi không đợc phép cho vợn ăn các loại
thức ăn khác với các loại thức ăn do TTCHLT đã qui định. Điều này phần nào
ảnh hởng đến việc xác định đầy đủ hơn danh mục các loại thức ăn của vợn
nghiên cứu.
Việc định tên khoa học các loại thức ăn thực vật do TS. Hà Văn Tuế,
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, các loại thức ăn côn trùng do một số
chuyên gia côn trùng của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thực hiện trên
cơ sở các mẫu vật do chúng tôi cung cấp.
Nghiên cứu kỹ thuật chuẩn bị thức ăn và phân phát thức ăn
Quan sát và cùng thực hiện với các cán bộ nuôi dỡng của TTCHLT các
kỹ thuật chuẩn bị và phân phát thức ăn cho vợn, chú ý đến chủng loại thức ăn
cung cấp, nguồn gốc, nhãn hiệu, yêu cầu lựa chọn chất lợng của các loại thức
ăn, kỹ thuật làm sạch, thái, trộn thức ăn số lần cho ăn trong ngày, vào giờ
nào, cho thức ăn vào đâu, sự luân phiên chủng loại thức ăn theo tuần hoặc theo
tháng và sự biến đổi chủng loại thức ăn theo mùa.
Xác định mức thức ăn tiêu thụ
Xác định lợng thức ăn tiêu thụ bằng cách cân lợng thức ăn cung cấp và
lợng thức ăn d thừa sau bữa ăn (cân riêng từng chủng loại) bằng loại cân tiểu ly
1000g. Lợng thức ăn tiêu thụ bằng lợng thức ăn cấp trừ đi lợng thức ăn d thừa
và quy ra gam/ cá thể/ngày. Thí nghiệm này đợc tiến hành trong 3 thỏng( thỏng
3 , thỏng 4 v thỏng 5 ) v mi thỏng c tin hnh cõn 3 ngy liờn tc trờn
cỏc cỏ th vn nghiờn cu nuôi tại TTCHLT.
Đánh giá mức độ lựa chọn loại thức ăn
Mức độ a thích của mỗi loại thức ăn đợc xác định dựa vào các yếu tố sau:
- Đợc vợn chọn ăn trớc hay ăn sau khi đa khay thức ăn vào chuồng.
- Tần số lấy thức ăn đó trong quá trình sử dụng khẩu phần ăn hàng ngày.
12
- Lợng thức ăn tiêu thụ trong ngày: ăn hết hay còn d lại bao nhiêu sau khi kết
thức bữa ăn.
Dựa trên 3 yếu tố trên chúng tôi tạm chia các loại thức ăn đợc cấp theo 3
mức lựa chọn nh sau: rất thích (+++), bình thờng (++) và không thích (+)
2.3.4. Phơng pháp nghiên cứu tập tính
Nghiên cứu tập tính bằng quan sát trực tiếp trên 4 cá thể vợn nuôi gồm 2
đực v 2 cái đã tr ởng thành. Mọi hành vi tập tính quan sát đợc trong mỗi lần
quan sát đợc ghi vào phiếu theo dõi. Ngoài ra, còn tiến hành các quan sát ngẫu
nhiên trong quá trình tiến hành các nghiên cứu về dinh dỡng và kỹ thuật chăn
nuôi. Mỗi tháng nghiên cứu 4 ngày và mỗi ngày theo dõi 1 cá thể . Các tập tính
quan sát gồm:
Tập tính ăn, uống nớc: Quan sát cách lấy thức ăn (dùng tay, chân hay
miệng); cách ăn, uống, nhai hay nuốt và sự lựa chọn thức ăn, sự lựa chọn từng
loại thức ăn. Các ghi nhận đợc ghi vào phiếu theo dõi, số thí nghiệm và chụp
hình một số hành vi ăn, uống.
Tập tính vận động: Quan sát cách di chuyển (cách đi, đu cành, ngồi);
nghỉ ngơi và ngủ (t thế thời điểm nghỉ ), chơi đùa (cách thức chơi, chơi một
mình hay với cá thể khác), hình thức đánh nhau ( cắn, đánh đuổi ); tập tính
chuốt lông (tự chuốt hay chuốt cho cá thể khác).
Tiếng hót: Ghi thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc; cá thể khởi xớng,
cá thể phụ hoạ, trạng thái của cơ thể vợn khi hót (ngồi yên hay di chuyển), số
lần hót trong ngày.
Tiếng kêu: Ghi nhận các dạng tiếng kêu của vợn, nguyên nhân phát ra
tiếng kêu, hiệu quả của tiếng kêu.
Tập tính sinh sản : Sự khác biệt giữa đực, cái khi đến tuổi thành thục;
biểu hiện động dục, hành vi chuẩn bị giao phối quan sát cách thức giao phối,
thời gian mang thai và nuôi con.
13
Chu kỳ hoạt động ngày-đêm: Chu kỳ hoạt động ngày - đêm của vợn đợc
quan sát trên 4 cá thể vợn (2 đực, 2 cái trởng thành) theo phơng pháp quan sát
liên tục cá thể chọn: trong mỗi tháng, mỗi cá thể theo dõi 1 ngày từ 5h30 trớc
khi vợn tỉnh dậy cho đến 18h00 khi vợn đã ngủ, khoảng thời gian lấy mẫu là 20
phút, thời gian nghỉ giữa 2 lần lấy mẫu liên tục là 10 phút . Theo kinh nghiệm
của những ngời chăn nuôi tại Trung tâm, thời gian từ sau 18h00 đến 5h30 hôm
sau là thời gian vợn ngủ.
Chơng 3
Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả nghiên cứu dinh dỡng của vợn đen má trắng
3.1.1.Thành phần thức ăn và sự a thích
Kết hợp các số liệu nghiên cứu trớc đây và số liệu nghiên cứu đợc thì
trong điều kiện nuôi ở TTCHLT Cúc Phơng đã ghi nhận đợc 47 loại thức ăn
cung cấp cho vợn, bao gồm 18 loại quả cây trồng, 14 loại rau, quả và củ cây
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét