Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Bản sắc dân tộc trong nền KT mở

nguyên lao động, quản lý còn nặng về kinh nghiệm. Mặt khác nớc ta là một nớc
nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp là bộ phận của kinh tế nông thôn. Kinh tế
nông thôn nớc ta chủ yếu là kinh tế thuần nông. Nhìn một cách tổng quát, nếu
xét về chỉ tiêu kinh tế nh tỷ trọng giữa công nghiệp và nông nghiệp, trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất (LLSX) đặc biệt là khoa học kĩ thuật và công
nghệ, mức sống của nhân dân thì Việt Nam vẫn là một nớc nghèo nàn, khó
khăn và lạc hậu, đang ở trình độ văn minh nông nghiệp.
Để tiến hành sản xuất lớn, hiện đại, nớc ta phải thực hiện quá trình công
nghiệp hoá. Đây là một quá trình nhảy vọt của LLSX và của khoa học kĩ thuật.
Trong thời kỳ CNH,HĐH LLSX phát triển một cách mạnh mẽ cả về số lợng và
chất lợng, chủng loại và quy mô. LLSX đợc tạo ra trong thời kỳ này là cái cốt
vật chất kĩ thuật rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến tiến trình phát triển
kinh tế xã hội của đất nớc. Nó làm thay đổi cách thức sản xuất chuyển ngời lao
động từ sử dụng công cụ thủ công sang sử dụng công cụ cơ giới và nhờ đó làm
mà sức lao động của con ngời đợc giải phóng, năng xuất lao động xã hội ngày
càng tăng, sản phẩm xã hội đợc sản xuất ra ngày càng nhiều, càng đa dạng và
phong phú, đáp ứng đợc ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống
nhân dân.
ở nớc ta CNH XHCN đợc coi là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ.
Đảng ta đã xác định đợc thực chất của CNH XHCN là quá trình thực hiện sự
phân công mới về lao động và là quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa để không
ngừng tái sản xuất mở rộng, CNH XHCN là quá trình xây dựng cơ sở vật chất
của chủ nghĩa xã hội, do giai cấp công nhân và nông dân lao động dới sự chỉ
đạo của Đảng cộng sản CNH XHCN có nhiệm vụ đa nền kinh tế nớc ta từ
nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN. Qua đó, để xây dựng nớc ta trở thành
nớc XHCN có nền công nông nghiệp hiện đại, kĩ thuật tiên tiến, quốc phòng
vững mạnh, cuộc sống văn minh và hạnh phúc, chúng ta phải tiến hành CNH-
HĐH đất nớc.
c. Vai trò của CNH-HĐH trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam
5
Công nghiệp hoá là một giai đoạn phát triển tất yếu của mỗi quốc gia. Nớc
ta từ một nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển, muốn vơn tới trình độ phát
triển cao, nhất thiết phải trải qua CNH. Thực hiện tốt CNH-HĐH có ý nghĩa đặc
biệt to lớn và có tác dụng trên nhiều mặt:
- CNH-HĐH làm phát triển lực lợng sản xuất, tăng năng suất lao động,
tăng sức chế ngự của con ngời đối với tự nhiên, tăng trởng kinh tế, do đó góp
phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, góp phần quyết định sự thắng lợi
của CNXH. Sở dĩ nó có tác dụng nh vậy vì CNH-HĐH là một cách chung nhất,
là cuộc cách mạng về lực lợng sản xuất làm thay đổi căn bản kỹ thuật, công
nghệ sản xuất, làm tăng năng suất lao động.
- Tạo tiền đề về vật chất để không ngừng củng cố và tăng cờng vai trò kinh
tế nhà nớc, nâng cao năng lực tích luỹ, tăng công ăn việc làm, nhờ đó làm tăng
sự phát triển tự do và toàn diện trong mọi hoạt động kinh tế của con ngời-nhân
tố trung tâm của nền sản xuất xã hội. Từ đó, con ngời có thể phát huy vai trò
của mình đối với nền sản xuất xã hội. "Để đào tạo ra những ngời phát triển toàn
diện, cần phải có một nền kinh tế phát triển cao, một nền khoa học kỹ thuật
hiện đại, một nền văn hoá tiên tiến, một nền giáo dục phát triển". Bằng sự phát
triển toàn diện, con ngời sẽ thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển. Muốn đạt đợc
điều đó, phải thực hiện tốt CNH-HĐH mới có khả năng thực tế để quan tâm
đầy đủ đến sự phát triển tự do và toàn diện nhân tố con ngời.
- CNH-HĐH góp phần phát triển kinh tế-xã hội. Kinh tế có phát triển thì
mới có đủ điều kiện vật chất cho tăng cờng củng cố an ninh quốc phòng, đủ sức
chống thù trong giặc ngoài. CNH-HĐH còn tác động đến việc đảm bảo kỹ
thuật, giữ gìn bảo quản và từng bớc cải tiến vũ khí, trang thiết bị hiện có cho lực
lợng vũ trang.
- CNH-HĐH góp phần tăng nhanh quy mô thị trờng. Bên cạnh thị trờng
hàng hoá, còn xuất hiện các thị trờng vốn, thị trờng lao động, thị trờng công
nghệ Vì vậy, việc sử dụng tín dụng, ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác
tăng mạnh. CNH-HĐH cũng tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh
6
tế độc lập tự chủ, đủ sức tham gia một cách có hiệu quả vào sự phân công và
hợp tác quốc tế.
2. Thực trạng CNH-HĐH trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam
2.1 Nội dung của CNH-HĐH
2.1.1 Trang bị kỹ thuật và công nghệ theo hớng hiện đại trong các ngành
của nền kinh tế quốc dân
a. Tiến hành cách mạng khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
để tự trang bị
Thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng kỹ thuật. Cuộc cách mạng lần thứ
nhất nổ ra vào những năm 30 của thế kỷ XVIII với nội dung chủ yếu là chuyển
từ lao động thủ công sang cơ khí hoá. Cuộc cách mạng lần thứ XX với tên gọi là
cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại .
Trong mấy chục năm gần đây, thế giới đã diễn ra những biến đổi cực kỹ to
lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội. Nội dung
của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ II này không chỉ dừng lại ở tính
chất hiện đại của các yếu tố t liệu sản xuất mà còn ở kỹ thuật công nghệ hiện
đại, phơng pháp sản xuất tiên tiến. Điều này thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
- Về cơ khí hoá:
Chuyển sang cơ chế thị trờng, ngành cơ khí đã khắc phục đợc những khó
khăn ban đầu và từng bớc ổn định sản xuất, caỉ tiến công nghệ , cải tiến mẫu
mã, mở rộng mặt hàng, nâng cao chất lợng sản phẩm Hiện nay, ngành cơ khí
đã sản xuất đợc một số mặt hàng bảo đảm chất lợng, không thua kém hàng nhập
ngoại nên tiêu thu nhanh, đáp ứng nhu cầu thị trờng trong nớc và xuất khẩu nh-
ng số lợng còn hạn chế, chỉ giới hạn trong một số loại sản phẩm. Ngành cơ khí
đã sản xuất đợc nhiều thiết bị phụ tụng thay thế hàng nhập ngoại, chất lợng
không kém hàng nhập ngoại.
Trình độ cơ khí hoá của một số ngành sản xuất vật chất:
+ Trong nông nghiệp: Nội dung sản xuất nông nghiệp chủ yếu là lao động
thủ công, sử dụng sức lao động d thừa ở nông thôn, tỷ lệ cơ khí hoá thấp, sản
7
xuất nông nghiệp vẫn là thủ công trong hầu hết các khâu: làm đất, gieo giống,
chăm bón và thu hoach. Mấy năm gần đây, do cơ chế mở nhiều vùng nông thôn
đã phát triển mạnh nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nhỏ
bán cơ khí, song số lao động trong lĩnh vực công nghiệp bình quân toàn quốc
không quá 5% tổng số lao động nông thôn.
+ Trong công nghiệp: Công nghiệp cơ khí đợc áp dụng rộng rãi trong các
đơn vị sản xuất công nghiệp quốc doanh. Tuy nhiên, lao động thủ công vẫn cần
nhiều trong khâu vận chuyển nội bộ, bao gói, cung ứng dịch vụ công cộng và
sản xuất phụ có tính chất gia công. Lao động trong các khâu này thờng chiếm
40-50% trong tổng số lao động công nghiệp quốc doanh. Khu vực công nghiệp
ngoài quốc doanh chủ yếu vẫn sử dụng lao động thủ công và tay nghề truyền
thoóng với công cụ cơ khí nhỏ, bán cơ khí (trừ một số doanh nghiệp t nhân quy
mô tơng đối lớn mới đợc đầu t trong những năm gần đây)
+ Trong xây dựng cơ bản, tỷ lệ cơ giới hoá trên các công trờng xây dựng
lớn thờng cao hơn các công trờng xây dựng nhỏ.
Nói tóm lại, cơ khí hoá trong các ngành sản xuất vật chất xã hội còn thấp,
phơng tiện cơ khí hoá cũ kỹ, lạc hậu, năng suất lao động cha cao, chi phí vật
chất còn lớn, giá thành sản phẩm cao, chất lợng nhiều mặt hàng cha bảo đảm.
Trong mấy năm gần đây, do đổi mới cơ chế và có bổ sung nhiều thiết bị mới,
công nghệ mới nên đã có tác đông đên sự tăng trởng và phát triển sản xuất xã
hội, sản phẩm, mẫu mã hàng hoá đa dạng, chất lợng sản phẩm có tốt hơn trớc.
Nhng về cơ bản, trình độ cơ khí hoá sản xuất cha đợc cao.
- Về tự động hoá:
+ Trong công nghiệp, việc tự động hoá thờng đợc áp dụng ở mức cao trong
các dây chuyền công nghệ có tính liên hợp quy mô lớn. Trừ những nhà máy mới
đợc đầu t của các nớc kinh tế phát triển, hầu hết dây chuyền tự động của Liên
Xô (cũ), Trung Quốc và các nớc Đông Âu đều lạc hậu, nhiều bộ phận bị h hỏng
phải thay thế bằng các thiết bị nhập ngoại ở các nớc kinh tế phát triển.
+ Trong xây dựng cơ bản, tỷ lệ tự động hoá không cao, khoảng 1,5-2%
trong công tác xây dựng cơ bản.
8
+ Trong sản xuất nông nghiệp, tự động hoá cha đợc áp dụng, kể cả các xí
nghiệp trung ơng và xí nghiệp địa phơng.
Tóm lại, trình độ tự động hoá còn rất thấp là đặc trng nổi bật của nền sản
xuất nớc ta. Điều đó cũng phù hợp với thực tế và có nguyên nhân: lao động
trong nớc còn d tha, cần tạo công ăn việc làm đang là nhu cầu cấp bách hiện
nay và nhiều năm sau.
- Về hoá học hoá:
Nhìn chung, công nghiệp hoá học của Việt Nam đã đợc phát triển trong
nhiều ngành sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm cung cấp cho công nghiệp, nông
nghiệp, cho tiêu cùng xã hội và có sự tăng trơng khá trong các năm gần đây:
phân bón hoá học, quặng apatít, thuốc trừ sâu, sơn hoá học, săm lốp các
loại Sản phẩm của hoá học hoá còn đợc ứng dụng trong nhiều ngành công
nghiệp chất dẻo, công nghiệp sản xuất phụ gia, các chất hoá học, xúc tác Hoá
học hoá ngày càng giữ vai trò quan trọng tác động đến năng suất, chất lợng và
hiệu quả của sản xuất kinh doanh. Tuy vậy, việc đầu t để phát triển cho ngành
hoá chất còn ít. Hoá học cha thành nhân tố mũi nhọn cho sự phát triển kinh tế.
Đây là nhợc điểm của nền kinh tế phát triển thiếu đồng bộ trong thời gian qua.
- Về sinh học hoá: Có một số ngành đang áp dụng công nghệ sinh học nh
sản xuất rợu bia, nớcgiải khát, phân bón, chăn nuôi, lai tạo giống, vi sinh học,
tuy có kết quả đáng kể, tạo ra nhiều loại giống mới cho cây trồng và vật nuôi,
có khả năng chống đợc bệnh tật, phù hợp với thời tiết khí hậu Việt Nam và có
năng suất cao, nhng tỷ lệ áp dụng cha cao. Đây là ngành sản xuất non trẻ mới đ-
ợc áp dụng vào Việt Nam trong những năm gần đay và đang có nhiều tiềm năng
trong tơng lai.
-Về tin học hoá: Ngành tin học đã đợc phát triển khá nhanh trong thời kỳ
từ đổi mới kinh tế đên nay. Tin học đang trở thành một ngành mũi nhọn, phát
triển mạnh mẽ, gắn kết thông tin thị trờng trong nớc với thị trờng khu vực và thế
giới một cách nhanh nhạy. Đồng thời, sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa
học, giảng dạy, thiết kế, phục vụ công tác lãnh đạo các cấp, an ninh và quốc
phòng
9
Tóm lại, qua phân tích thực trạng trình độ công cụ, công nghệ của công
nghiệp hoá trong thời gian qua, chúng ta thấy rằng: trình độ cơ khí hoá, tự động
hoá còn thấp, hoá học hoá cha thực sự đợc đẩy mạnh; sinh học hoá mới du nhập
vào Việt nam, cha đợc ứng dụng nhiều; tin học hoá tuy có phát triển nhng cha
cơ bản; lao động thủ công vẫn còn chiếm tỷ trọng chủ yếu; công cụ, thiết bị,
công nghệ cũ kỹ, lạc hậu, thiếu đồng bộ và hiệu quả kinh tế thấp.
b. Trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại còn đợc thực hiện thông qua
nhận chuyển giao công nghệ mới từ các nớc tiên tiến
2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a. Việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý bao giờ cũng phải dựa trên tiền đề là
phân công lao động xã hội
Đối với nớc ta, đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa không
qua giai đoạn t bản chủ nghĩa thì tất yêú phải có phân công lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá sản xuất giữa các ngành trong
nội bộ từng ngành và giữa các vùng trong nền kinh tế quốc dân.
Việc phân công lại lao động xã hội có tác dụng rất to lớn. Nó là đòn bẩy
của sự phát triển công nghệ và năng suất lao động, cùng với cách mạng khoa
học kỹ thuật, nó góp phần hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý. Sự
phân công lại lao động xã hội trong quá trình CNH-HĐH ở nớc ta hiện nay cần
phải tuân theo các qúa trình có tính quy luật sau:
Thứ nhất, tỷ trọng và số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần; tỷ trọng
và số tuyệt đối lao động công nghiệp ngày một tăng lên.
Thứ hai, tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm u thế so với lao
động giản đơn trong tổng lao động xã hội.
Thứ ba, tốc độ tăng lao động trong các ngành phi sản xuất vật chất tăng
nhanh hơn tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất.
Đối với nớc ta, phơng hớng phân công lao đông xã hội hiện nay cần triển
khai cả hai địa bàn: tại chỗ và nơi khác để phát triển về chiều rộng kết hợp phát
triển theo chiều sâu. Tuy nhiên, cần phải u tiên địa bàn tại chỗ, nên cần chuyển
10
sang địa bàn khác phải có sự chuẩn bị chu đáo. Đi đôi vớ quá trình phân công
lại lao động xã hội, một cơ cấu kinh tế mới cũng dần dần đợc hình thành.
b. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn liền với quá trình công nghiệp
hoá. Đại hội Đảng lần thứ VI đã xác định nhiệm vụ " bớc đầu tạo ra một cơ cấu
kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất, phù hợp với tính quy luật về sự phát
triển của các ngành sản xuất vật chất, phù hợp với khả năng của đất nớc và phù
hợp với sự phân công lao động, hợp tác quốc tế ". Những kết quả chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ở nớc ta trong những năm đổi mới đợc thể hiện ở các khía cạnh
cơ cấu khác nhau, trong đó rõ nét nhất và đặc trng nhất là từ góc độ cơ cấu
ngành.
* Công nghiệp hoá cho phép công nghiệp nông thôn tồn tại và phát triển
với tốc độ tăng trởng cao
Nông thôn Việt Nam chiếm 80% dân số, 72 % nguồn lao động xã hội, nh-
ng mới tạo ra khỏang 1/3 tổng sản phẩm quốc dân (1996). Do vậy, CNH-HĐH
nông thôn không những là quan trọng, mà còn có ý nghĩa quyết định đối với
quy mô và tốc độ CNH-HĐH đất nớc. Vấn đề nêu trên không phải là đặc thù
của Việt Nam mà đợc rút ra từ thực tế và kinh nghiệm các nớc trong khu vực
châu á. Kinh nghiệm nhiều nớc cho thấy HĐH không nhất thiết phải đợc khởi
đầu hoặc đợc duy trì bởi sự phát triển nhanh của công nghiệp nặng ở một số ít
trung tâm công nghiệp, tại các đô thị lớn mà có thể đợc khởi đầu ở nông thôn và
phụ thuộc vào khu vực vày.
ở Việt Nam , Đảng và Nhà nớc rất coi trọng vai trò của nông thôn, nông
nghiệp trong sự nghiệp CNH-HĐH. Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng
chỉ rõ: "Đặc biệt coi trọng CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn; phát triển
toàn diện nông, lâm, ng nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ
sản; phát triẻn công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu". Nhờ
quán triệt những chủ, chính sách của Đảng và Nhà nớc nhìn chung, sự phát
triển của công nghiệp nông thôn trong thời gian qua đơc đánh giá tổng quát nh
sau:
11
-Về cơ bản, công nghiệp kể cả dịch vụ nông thôn, chỉ đợc xem nh những
ngành phụ để giải quyết thời gian nông nhàn và lao động d thừa ở nông thôn.
Tuy vậy, trong mấy năm gần đây, công nghiệp và dịch vụ nông thôn đã bắt đầu
phát triển .
-Công nghiệp nông thôn đã có sự chuyển biến tích cực thực sự. Sự quản lý
cứng, gò bó trớc đây đã đợc xoá bỏ về cơ bản. Những chủ trơng, chính sách về
đời sống kinh tế đã dần dần thấm vào mỗi ngời dân; cơ cấu vốn đầu t ở nông
thôn đã chuyển theo hớng gìanh cho sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp nhiều hơn.
-Cơ cấu công nghiệp nông thôn đã thay đổi theo hớng thích ứng với cơ chế
kinh tế mới trong những điều kiện mới. Sự thay đổi rõ nhất là trong cơ cấu
thành phần kinh tế. Kinh tế hộ và các doanh nghiệp t nhân, trách nhiệm hữu hạn
tăng lên một cách nhanh chóng, trong khi các hợp tác xã và kinh tế Nhà nớc
giảm đi rõ rệt .
-Nhiều ngành nghề, sản phẩm truyền thống từng bị mai một đã dần dần đ-
ợc khôi phục lại do yêu cầu khách quan của nền kinh tế, của thị trờng trong nớc
và quốc tế. Sự phục hồi này thờng gắn liền với sự đổi mới, hiện đại hoá các sản
phẩm và công nghệ truyền thống. Mặt khác, nhiều làng truyền thống đợc khôi
phục lại có sức lan toả khá mạnh sang các khu vực lân cận.
-Tuy nhiên đến nay công nghiệp nông thôn còn gặp nhiều khó khăn. Trớc
hết là tình trạng kinh tế thuần nông, cây lúa chiếm tỷ lệ tuyệt đối, sức mua còn
rất nhỏ. Trình độ kỹ thuật của công nghiệp nông thôn còn thấp cả về sản phẩm,
thiết bị lẫn công nghệ. Trừ một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm, của
công nghiệp nông thôn có chất lợng thấp, mẫu mã, kiêủ dáng chậm thay đổi,
tốn nhiều nguyên vật liệu, năng lơng. Phần lớn thiết bị và công nghệ sản vuất
của công nghiệp nông thôn là công cụ thủ công cải tiến hoặc thiết bị thải loại
của các cơ sở công nghiệp đô thị. Công nghiệp nông thôn nớc ta phát triển
không đồng đều, mới chỉ tập trung ở những địa phơng có ngành nghề truyền
thông, ở ven đô thị, đầu mối giao thông quan trọng.
12
-Cho đến nay, kinh nghiệm kinh doanh của ngời dân nông thôn trên các
lĩnh vực phi nông nghiệp còn hạn chế, do đó họ cha dám chấp nhận rủi ro và
mạnh dạn kinh doanh. Hơn nữa, họ cũng thiếu những kiến thức về kinh doanh
(kinh nghiệm và kiến thức về nghiên cứu thị trờng, marketing ). Điều này có
thể thấy khá rõ khi quan sát sự khó khăn, chậm chập của việc triển khai các
ngành nghề vào vùng chỉ quen sản xuất nông nghiệp, trớc hết là trồng trọt thuần
tuý.
Những yếu kém trên là một trong những nguyên nhân làm cho sau nhiều
thập niên công nghiệp hoá, về cơ bản, Việt Nam hiện nay vẫn là một quốc gia
nông nghiệp với một nông thôn rộng lớn thuần nông, mang nặng tính tự cấp, tự
túc. Vấn đề đặt ra là phải có một chính sách hợp lý, thống nhất của nhà nớc từ
trung ơng đến địa phơng để có thể nhanh chóng công nghiệp hoá nông thôn-một
trong những vấn đề của việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế nớc ta.
*Tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ, trong cơ cấu kinh tế nớc ta
Cơ cấu kinh tế theo 3 nhóm ngành lớn: nông thôn (bao gồm nông nghiệp,
lâm nghiệp, ng nghiệp), công nghiệp (bao gồm công nghiệp và xây dựng ) và
dịch vụ (bao gồm các ngành kinh tế còn lại ) đã có sự chuyển dịch tích cực. Tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng dần, tỷ trọng nông nghiệp giảm
dần
Nhìn vaò kết quả chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời gian qua ta có thể
nhận thấy 3 vấn đề :
- Thứ nhất: Trong khi tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần qua các
năm, thì nớc ta vẫn vơn lên từ một quốc gia thiếu lơng thực phải nhập
khẩu, thành một nớc đủ ăn, có lơng thực xuất khẩu khá và đang vững b-
ớc thành một nớc bảo đảm an ninh lơng thực và xuất khẩu lơng thực
lớn trên thế giới. Chính sự phát triển vững chắc của ngành nông nghiệp
đã tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu theo hớng tích cực - tăng tỷ trọng
ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ
cấu kinh tế ngành nớc ta
13
- Thứ hai: tốc độ tăng trởng bình quân của các nhóm ngành lớn của nền
kinh tế cũng khác nhau, tăng trởng nhanh nhất thuộc về nhóm ngành
công nghiệp, sau đến dịch vụ và thấp nhất là nhòm ngành nông nghiệp
- Thứ ba: Công nghiệp tuy đợc coi là ngành quan trọng hàng đầu nhng
trong thời gian đầu của CNH, ở nớc ta công nghiệp nhỏ bé mới chỉ sản
xuất hàng tiêu dùng và khai thác sản phẩm thô từ tài nguyên thiên
nhiên. Nhng do những đơng lối đổi mới của Đảng trong ngành công
nghiệp đã xuất hiện nhiều nhân tố mới, tạo tiền đề cho sản xuất tiếp tục
phát triển. Cùng với tăng trởng công nghiệp sẽ chiếm vị trí hàng đầu
trong cơ cấu nền kinh tế nớc ta.
Cũng không thể có quá trình CNH bằng hệ thống dịch vụ đặc biệt là hệ thống
kết cấu hạ tầng kinh tế thấp kém. Vì vậy ngay trong giai đoạn đầu của CNH-
HĐH, Đảng ta đã quan tâm thoả đáng cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng
để phát triển sản xuất và thu hút đầu t nớc ngoài
c, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế lãnh thổ
Chúng ta đều biết rằng, cơ cấu kinh tế lãnh thổ phản ánh tình hình phân
công lao động theo lãnh thổ. Nền kinh tế-xã hội của nớc ta mang đậm nét của
một trong những loại hình của phơng thức sản xuất châu á. Chủ nghĩa t bản đã
đẩy mạnh phân công lao động xã hội ở một bộ phận lãnh thổ của đất nớc (các
thành thị, các vùng mỏ, các đồn điền, ) nhng đại bộ phận lãnh thổ của đất nớc
vẫn bị ngng đọng, trì trệ, trong khuôn khổ của một nền tiểu nông lạc hậu; quá
trình tái sản xuất giản đơn chỉ giới hạn trong các công xã nông thôn quy mô
làng, xã. Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta (ở miền Bắc từ sau năm
1954 và trong cả nớc từ sau năm 1975) chịu ảnh hởng nặng nề của t duy máy
móc, của cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, do đó, phân công lao động
theo lãnh thổ kinh tế quốc dân cha có những chuyển dịch đáng kể và đúng h-
ớng.
So với cơ cấu ngành và cơ cấu lĩnh vực, cơ cấu lãnh thổ có tính trì trệ hơn,
có sức ỳ lớn hơn. Vì thế, những sai lầm trong quá trình xây dựng cơ cấu lãnh
thổ có ảnh hởng lâu dài đến sự phát triển kinh tế-xã hội, và rất khó khắc phục,
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét