Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Tài liệu Luận văn tốt nghiệp: ''''''''''''''''Hoàn thiện nghiệp vụ cho vay của Sở giao dịch I- Ngân hàng Công thương Việt Nam'''''''''''''''' docx

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

4
Còn với những người giầu có thì nguồn trả nợ là từ việc nâng cao sưu thuế
nên không cần quan tâm đến lãi suất.
Cho vay nặng lãi với hình thức vận động của vốn trong quan hệ cho vay
biểu hiện rất đa dạng;
- Cho vay bằng hiện vật, thu nợ bằng hiện vật (cho vay vào thời kỳ giáp
hạt, khi đến vụ thu hoạch thu nợ bằng thóc) hoặc thu nợ bằng tiền, bằng ngày
công lao động.
- Cho vay bằng tiền, thu nợ bằng hiện vật, bằng ngày công lao động hoặc
bằng tiền.
Tuỳ theo từng hình thức vận động của vốn mà tín dụng nặng lãi thích
hợp với nông thôn hay thành thị. Nhưng do tính chất là tín dụng nặng lãi nên
nó phát huy tác dụng hai mặt. Một mặt nó tàn phá sức sản xuất, kìm hãm sự
phát triển của lực lượng sản xuất, vì nó cố bám lấy nền sản xuất nh
ỏ, lạc hậu,
phân tán là điều kiện cho nó tồn tại. Mặt khác nó góp phần tạo ra tiền đề vật
chất cho sự ra đời của tư bản chủ nghĩa, vì nó làm cho của cải xã hội tập trung
vào trong tay một số người, trong khi đó những ngườ vay nặng lãi không trả
được, bị mất hết tài sản và trở thành người làm thuê và đó chính là giai cấp vô
sản. Tuy vậy tín dụng nặng lãi vẫn là vậ
t cản đối với sự phát triển của tư bản
công nghiệp. Trong lịch sử, để tồn tại và phát triển các nhà tư bản đã phải đấu
tranh lâu dài hàng thế kỷ để buộc những người cho vay nặng lãi hạ mức lãi
suất dưới mức lợi nhuận bình quân. Những cuộc đấu tranh này lúc đầu dựa
trên cơ sở luật pháp và tôn giáo nhưng không đạt hiệu quả hoặc hiệu qu
ả thấp.
Chỉ còn cách thủ tiêu vai trò độc quyền tín dụng của những người cho vay
nặng lãi, tức là lập ra hệ thống tín dụng của giai cấp tư sản với các hình thức
đa dạng phong phú. Tuy vậy hình thức tín dụng tư bản chủ nghĩa chỉ có tác
dụng hạn chế, đẩy lùi mà không xoá bỏ hoàn toàn tín dụng nặng lãi. Cho đến
ngày nay tín dụng nặng lãi còn tồn tại ở các nước kinh tế kém phát triển do
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

5
ảnh hưởng của chế độ phong kiến. Mức thu nhập của người lao động thấp, hệ
thống tín dụng chưa phát triển đến các vùng nông thôn, miền núi.
Bất cứ xã hội nào còn sản xuất hàng hoá thì vẫn có sự tồn tại của tín
dụng và sự hoạt động của nó. Nguyên nhân khách quan của sự tồn tại và phát
triển tín dụng là đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xu
ất xã
hội đã xuất hiện mâu thuẫn: trong lúc có một bộ phận vốn tiền tệ nhàn rỗi
được giải phóng khỏi quá trình tái sản xuất ở doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
này thì ở các chủ thể khác lại có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung.
Vốn tiền tệ nhàn rỗi xuất hiện ở từng doanh nghiệp do tuần hoàn của vốn
cố định dưới hình thức vố
n khấu hao trong thời gian chưa sử dụng để mua
máy móc thiết bị mới hoặc chưa có nhu cầu sửa chữa lớn tài sản cố định,
trong khi việc tính khấu hao được tiến hành một cách thường xuyên. Tuần
hoàn của vốn lưu động cũng xuất hiện vốn tiền tệ nhàn rỗi tạm thời do chênh
lệch về số lượng, thời gian giữa việc tiêu thụ sản phẩm và mua nguyên v
ật
liệu (đã tiêu thụ sản phẩm nhưng chưa có nhu mua nguyên vật liệu hoặc bán
nhiều hơn mua). Do có những khoản phải trả nhưng chưa trả (lương ) phải
nộp nhưng chưa nộp (thuế ) hoặc những khoản vốn tiền tệ nhàn rỗi hình
thành trong quan hệ thanh toán với các hình thức thanh toán khác nhau (nhận
tiền nhưng chưa giao hàng hoặc nhận hàng nhưng chưa phải trả tiền).
Trong toàn xã hội cũng xuất hiện một bộ phận vốn tiền tệ nhàn rỗi do
chênh lệch về số lượng và thời gian trong việc thu, chi của các cơ quan đoàn
thể, các tổ chức xã hội, kể cả ngân sách Nhà nước. Đặc biệt là bộ phận tiền
nhàn rỗi dưới hình thức tiền để dành của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội.
Trong khi có những bộ phận vốn tiền t
ệ nhàn rỗi nằm rải rác ở các chủ thể
kinh tế này thì ở các chủ thể kinh tế khác lại có nhu cầu thiếu vốn cần được
bổ sung. Các doanh nghiệp thiếu vốn cố định khi cần thay thế máy móc thiết
bị mới hoặc có nhu cầu sửa chữa lớn tài sản cố định mà chưa tính đủ khấu
hao. Mặt khác, doanh nghiệp lại có nhu cầu mở rộng phạm vi, quy mô sản
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

6
xuất kinh doanh, nhu cầu cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất hoặc chuyển
dịch vốn sang các ngành kinh doanh khác.Nhu cầu vốn lưu động cần được bổ
sung do chưa tiêu thụ được sản phẩm hàng hoá mà đã có nhu cầu mua nguyên
vật liệu hoặc bán ít hơn mua. Điều này đặc biệt cần thiết với những doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh mang tính chất thời vụ.
Thiếu vốn c
ần được bổ sung không chỉ là nhu cầu đối với các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông mà còn là nhu cầu bổ
sung thiếu hụt tạm thời giữa thu và chi của các tổ chức cá nhân khác trong xã
hội, kể cả ngân sách nhà nước. Nó cũng không chỉ là nhu cầu đầu tư cho lĩnh
vực sản xuất, lưu thông mà còn là nhu cầu cần thiết cho tiêu dùng.
Mâu thuẫn giữa hiện tượng thừa thiếu v
ốn tiền tệ trong xã hội phát sinh
trong khi quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá cần được duy trì một cách đều
đặn thường xuyên đòi hỏi phải có tín dụng để giải quyết mâu thuẫn đó đồng
thời trở thành cầu nối giữa nhu cầu tiết kiệm và đầu tư bằng các hình thức tín
dụng thích hợp.
Trong khi còn tồn tại hai hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ
ngh
ĩa, vận động của tín dụng thích hợp với từng hệ thống. Tín dụng tư bản
chủ nghĩa với sự vận động của tư bản cho vay là hình thức vận động của vốn
tín dụng TBCN. Tư bản cho vay là tư bản tiền tệ mà người sở hữu nó đem
cho vay để thu lợi tức trên cơ sở bóc lột lao động làm thuê. Nguồn hình thành
tư bản cho vay chính là tư
bản tiền tệ nhàn rỗi giải phóng khỏi quá trình tái
sản xuất xã hội; tư bản tiền tệ của những nhà tư bản chuyên dùng vào lĩnh vực
kinh doanh tiền tệ tín dụng bằng cách cho vay trực tiếp hoặc gửi ngân hàng -
ngoài ra là tiền để dành của các tầng lớp dân cư trong xã hội đã biến hành tư
bản cho vay.
Tư bản cho vay với những đặc điểm cơ bản đ
ã được Mác phân tích một
cách đầy đủ đó là tư bản sở hữu đối lập với tư bản chức năng nghĩa là tư bản
sở hữu thì không sử dụng còn nguồn sử dụng lại không có quyền sở hữu.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

7
- Tư bản cho vay là tư bản được xem như hàng hoá do có những đặc
điểm giống và khác so với hàng hoá thông thường. Tư bản cho vay giống
hàng hóa thông thường vì người ta đều cần đến giá trị sử dụng mà giá trị sử
dụng của tư bản cho vay chính là khả năng đầu tư sinh lời hoặc để đáp ứng
nhu cầu mua sắm các mặt hàng tiêu dùng cần thiết. Đồng thời tư bản cho vay
cũng có giá cả là lợi tức tín dụng được tính trên cơ sở lãi suất tín dụng mà lãi
suất cũng chịu sự tác động của quan hệ cung cầu về vốn tín dụng trên thị
trường. Tư bản cho vay khác hàng hoá thông vì khi bán hàng hóa thông
thường người bán mất cả quyền sở hữu và quyền sử dụng. Còn trong quan hệ
tín dụng người cho vay không mất đi quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử dụ
ng
nhưng không phải là vĩnh viễn mà chỉ mất quyền sử dụng trong một thời gian
nhất định theo thời gian cho vay. Mặt khác giá cả hàng hoá thông thường là
biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá còn lợi tức tín dụng độc lập tương đối
so với giá trị hàng hoá, nó chỉ là phần người đi vay trả thêm cho người cho
vay cho việc sử dụng số tiền đã vay.
- Tư bản cho vay có hình thức chuy
ển nhượng và vận động đặc biết (theo
công thức vận động T - T')

Công thức vận động của tư bản sản xuất:
TLSX
T - H ( H' - T'
SLĐ
Vận động của tư bản lưu thông T- H - T'
Vận động của tư bản cho vay T - T'
Trong công thức vận động T - T' quá trình sản xuất lưu thông đã bị che
lấp và dấu kín, ở đây tiền dường như đã tự
lớn lên mà không hề có sự tham
gia vào lĩnh vực sản xuất lưu thông. Nhưng trên thực tế người đi vay đã dùng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

8
tiền vay đầu tư vào sản xuất lưu thông để thu lợi nhuận và phân chia cho nhà
tư bản cho vay một phần. Như vậy tư bản cho vay là một hình thức tuỳ thuộc
vào tư bản sản xuất lưu thông.
Tư bản cho vay là tư bản ăn bám nhất và được sùng bái nhất vì nhà tư
bản cho vay không hề tham gia vào lĩnh vực sản xuất lưu thông cũng không
làm công tác quản lý lãnh đạo nhưng vẫn thu
được lợi tức. Đặc biệt công thức
vận động T- T' đã làm cho tư bản cho vay có sức mạnh huyền bí, kỳ diệu và
trở thành một hình thức tư bản được sùng bái nhất. Cho đến nay các nước đều
hướng nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường, người ta chỉ quan tâm
đến tín dụng trong nền kinh tế thị trường mà không phân biệt tín dụng tư bản
chủ nghĩa và tín dụ
ng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường tín dụng
ngày càng mở rộng, chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng bao gồm cả các
cá nhân, doanh nghiệp và cả nhà nước trung ương cũng như địa phương.
Quan hệ tín dụng được mở rộng cả đối tượng và quy mô thể hiện ở các mặt
sau:
- Các tổ chức tín dụng Ngân hàng và các tổ chức tài chính tín dụng khác
phát triển mạnh ở khắp mọi n
ơi.
- Các doanh nghiệp đều sử dụng vốn tín dụng với các hình thức khác
nhau: vay Ngân hàng, mua chịu hàng hoá, phát hành trái phiếu
- Thu nhập của các thành viên trong xã hội có khả năng ngày càng tăng
nên càng có nhiều người tham gia vào quan hệ tín dụng. Với tư cách là người
cho vay, các cá nhân gửi tiền vào Ngân hàng, quỹ tiết kiệm, mua trái phiếu
doanh nghiệp và trái phiếu Nhà nước Với tư cách là người đi vay, ngày
càng có nhiều người vay vốn Ngân hàng hoặc vay trên thị trường vốn để
phục vụ
nhu cầu phát triển sản xuất lưu thông hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

9
Cùng với việc mở rộng các quan hệ tín dụng, hình thức tín dụng ngày
càng trở nên đa dạng phong phú như tín dụng thương mại, tín dụng Ngân
hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng hợp tác xã
Có thể khái niệm tín dụng bằng các cách khác nhau. Theo cách đơn giản
nhất: Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi
giữa người đi vay và người cho vay.
Tín dụng theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đạ
i là trên cơ sở
lòng tin, nghĩa là người cho vay tin tưởng vào người đi vay sẽ sử dụng vốn có
hiệu quả và hoàn trả đúng thời hạn cả vốn lẫn lãi.
Mặc dù có những khái niệm về tín dụng theo cách diễn đạt khác nhau
nhưng có thể nêu một cách tổng quát: Tín dụng là một quan hệ kinh tế trong
đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (hình thái tiền tệ hay hiện
vậ
t) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian thu hồi về một
lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu với những điều kiện mà hai bên
thoả thuận với nhau.
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là
Ngân hàng, một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên
là tất cả các tổ
chức cá nhân trong xã hội trong đó Ngân hàng giữ vai trò vừa
là người đi vay vừa là người cho vay.
Với tư cách là người đi vay, Ngân hàng huy động mọi nguồn vốn tạm
thời nhàn rỗi trong xã hội bằng hình thức nhận tiền gửi của các doanh nghiệp ,
các tổ chức cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động
vốn trong xã hội.
Với tư cách là người cho vay, Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các
doanh nghiệp , tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung
trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Với vai trò này tín dụng
ngân hàng đã thực hiện chức năng phân phối lại vốn tiền tệ để đáp ứng yêu
cầu tái sản xuất xã hội - cơ sở khách quan để hình thành chức năng phân phối
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

10
lại vốn tiền tệ của tín dụng ngân hàng chính là do đặc điểm tuần hoàn vốn
trong quá trình tái sản xuất xã hội đã thường xuyên xuất hiện hiện tượng tạm
thời thừa vốn ở các tổ chức cá nhân này, trong khi ở những tổ chức cá nhân
khác lại có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung. Hiện tượng thừa thiếu vốn
phát sinh do có sự chênh lệch về thời gian, số
lượng giữa các khoản thu nhập
và chi tiêu ở tất cả các tổ chức, cá nhân trong khi quá trình tái sản xuất đòi hỏi
phải được tiến hành liên tục. Tín dụng thương mại cũng đã giải quyết quan hệ
trực tiếp giữa những doanh nghiệp cần tiêu thụ sản phẩm hàng hoá với những
doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng cho sản xuất lưu thông mà chưa có tiền.
Nhưng do hạn chế
của tín dụng thương mại đã không đáp ứng được yêu cầu
tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để đáp ứng nhu cầu
vay vốn với khối lượng thời hạn khác nhau. Chỉ có ngân hàng là tổ chức
chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ mới có khả năng giải quyết mâu thuẫn
đó khi ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
Như v
ậy, cho vay là một hình thức của cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín
dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời
gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
l.2. Nội dung nghiệp vụ cho vay của Ngân hàng.
Theo khái niệm trên đây thì nội dung của nghiệp vụ cho vay của ngân
hàng và các tổ chức tín dụng có thể hiểu như sau:
l.2.1. Đặc đi
ểm của tín dụng ngân hàng:
- Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các
doanh nghiệp và giữa các ngân hàng với nhau được thực hiện dưới hình thức
tiền tệ.
Tín dụng ngân hàng mang các đặc trưng cơ bản sau đây:
- Đối tượng cho vay là vốn tiền tệ. Số vốn này không nằm trong quá
trình tuần hoàn của chu kỳ sản xuất kinh doanh mà là một loại vốn riêng biệt:
vốn nhàn rỗi dùng để cho vay.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

11
- Chủ thể vay vốn chủ yếu là các doanh nghiệp.Trong một số trường hợp
các ngân hàng cũng tiến hành đi vay của nhau. Chủ thể cho vay là các ngân
hàng và công ty tài chính.
- Tín dụng ngân hàng vận động không hoàn toàn thống nhất với sự vận
động của quá trình sản xuất kinh doanh thời kỳ sản xuất phát triển, nhu cầu về
vốn vay rất lớn nhưng khả năng cung cấp vốn vay lại có hạn vì trong quá trình
cạnh tranh người ta
đều đổ xô vào việc đầu tư sản xuất nên cần nhiều vốn.
Ngược lại số người có tiền đem gửi lại rất ít.
Thời kỳ khủng hoảng, trì trệ sản xuất, khả năng cung cấp vốn vay lại rất
lớn vì nhiều người không bỏ vào sản xuất mà đem gửi ngân hàng. Trong khi
đó, nhu cầu về vốn vay lại giảm vì không có lĩnh vực nào đầu t
ư có lợi , lúc
này chỉ có một số ít người đi vay để đảm bảo khả năng thanh toán khỏi bị phá
sản.
- Từ những đặc điểm trên mà tín dụng ngân hàng đã khắc phục được các
hạn chế của tín dụng thương mại. Tín dụng ngân hàng với nguồn vốn rất lớn
và vốn bằng tiền đã giải quyết linh hoạt mọi nhu cầu vốn phát sinh và ngày
càng giữ
vị trí quan trọng.
1.2.2. Nghiệp vụ cho vay của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một: sử dụng vốn vay đúng mục đích để thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
(cho vay có mục đích, có kế hoạch và có hiệu quả).
Cho vay có kế hoạch, có mục đích và có hiệu quả. Tức là, các đơn vị có
nhu cầu vay vốn củ
a Ngân hàng đều phải có kế hoạch, đơn xin vay gửi ngân
hàng với đầy đủ các nội dung sau: Số tiền vay, thời hạn sử dụng vốn vay, mục
đích sử dụng vốn vay và tính hiệu quả của vốn vay ngân hàng. Trên cơ sở đó
ngân hàng kiểm tra xem xét, nếu thấy đồng vốn vay ngân hàng đem lại hiệu
quả kinh tế và trả nợ đúng hạn thì mới quyết định cho vay. Mặt khác trên cơ
s
ở kế hoạch xin vay vốn của người xin vay, bản thân ngân hàng phải xây
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

12
dựng kế hoạch cho vay vốn của mình để chủ động trong việc đầu tư tín dụng.
Nguyên tắc đảm bảo cho khách hàng vay vốn có đủ vốn và vay vốn có kế
hoạch. Đồng thời nguyên tắc này nhằm tiết kiệm đồng vốn, đầu tư vốn có
trọng điểm và có hiệu quả kinh tế cao. Ngoài ra nó còn tăng cường sự giám
đốc bằng đồng tiền của ngân hàng đối với
đơn vị vay vốn của ngân hàng.
Trường hợp khách hàng có nhu cầu vay vốn phát sinh ngoài kế hoạch,
ngân hàng xét thấy cần thiết và hợp lý, cân đối với nguồn vốn của mình, có
thể cho vay bổ sung cho người vay. Vốn vay phải sử dụng đúng cam kết và
mục đích.
Hai: Người vay vốn phải hoàn trả đúng kỳ hạn cả vốn và lãi. Bởi vì,
nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn t
ập trung và huy
động từ các thành phần kinh tế trong xã hội. Do vậy, những người vay vốn
của ngân hàng sau một kỳ hạn nhất định nào đó đều phải hoàn trả đầy đủ cả
gốc và lãi cho ngân hàng. Đơn vị vay vốn sau một thời gian nhất định phải trả
cho ngân hàng một khoản lợi tức thoả thuận, vì đó là một trong những nguồn
thu chủ yếu của ngân hàng và là một cơ sở
cho ngân hàng tiến hành hạch toán
kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, đến thời kỳ trả nợ
mà đơn vị vay vốn không trả cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ chuyển sang nợ
quá hạn và đơn vị phải chịu lãi suất cao hơn lãi suất thông thường. Đồng thời
nó đảm bảo sự thống nhất giữa vận động của vật tư, hàng hoá và sự vận động
của tiền tệ
trong nền kinh tế , góp phần ổn định tiền tệ và ổn định giá cả. Với
nguyên tắc này ngân hàng bảo toàn được vốn , kịp thời đưa vốn vào hoạt động
kinh doanh của mình, có thu để bù đắp chi và có lãi nhằm duy trì và phát triển
hoạt động của bản thân ngân hàng.
Ba: Cho vay có giá trị vật tư đảm bảo. Các đơn vị muốn vay vốn của
ngân hàng đều phải xuất trình đầy đủ chứng từ, hoá
đơn, hợp đồng mua bán
hàng hoá. Trên cơ sở đó cán bộ ngân hàng tiến hành xét cho vay tương đương
với giá trị vật tư hàng hoá đã được ghi trên chứng từ, hoá đơn hợp đồng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

13
Điều này áp dụng với doanh nghiệp Nhà nước. Còn các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh muốn vay vốn của ngân hàng đều phải thế chấp bằng tài sản, ngân
hàng xét cho vay thông thường bằng 60-70% giá trị thế chấp. Thế chấp có thể
bằng hàng hoá thông thường hoặc các chứng từ có giá như tín phiếu , kỳ
phiếu, cổ phiếu, giấy chứng nhận quyền sở hữu bất động sản. Hoặc có thể vay
vố
n thông qua sự bảo lãnh của các tổ chức kinh tế , tổ chức tín dụng có uy tín.
Trong suốt quá trình sử dụng vốn vay, các đơn vị vay vốn luôn có giá trị
vật tư tương đương làm bảo đảm. Nguyên tắc này giúp cho các đơn vị sử
dụng vốn vay một cách có hiệu quả. Ngân hàng cho vay vốn an toàn tránh
những rủi ro không đáng có trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Bên
cạnh, nguyên tắc này bảo đảm quan hệ cân đối giữa tiền tệ
và hàng hoá trong
lưu thông góp phần bình ổn giá cả.
Ba nguyên tắc cơ bản nói trên có quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau
thành một tổng thể thống nhất, có ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ tín dụng
giữa ngân hàng với các thành phần kinh tế , phòng ngừa được các yếu tố rủi
ro đảm bảo an toàn tín dụng. Và cũng là để "Vừa tạo tiền đề, vừa gây sức ép
buộc các đơn vị kinh t
ế tìm mọi biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế" , hoạt
động tín dụng ngân hàng cần chuyển mạnh và đúng hướng sang hạch toán
kinh doanh thực sự, thúc đẩy khẩn trương tổ chức sắp xếp lại nền kinh tế -
khách thể của tín dụng ngân hàng, phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản
lý điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đồng thời
việc đổi mới khách thể là tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chủ thể của tín dụng
ngân hàng làm cho nó đủ sức tạo được thị trường "đầu vào" để tăng nhanh
nguồn vốn và mở rộng thị trường "đầu ra" nghĩa là tín dụng ngân hàng phải
đổi mới mạnh mẽ, sử dụng giải pháp "khơi trong , hút ngoài" và liên doanh
liên kết kinh tế nhằm khai thác mọi nguồn vốn nhàn rỗ
i từ các thành phần
kinh tế và thu hút vốn đầu tư của các chính phủ cũng như tư nhân nước ngoài
để phát triển mạnh mẽ nền kinh tế và xây dựng đất nước.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét