Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của hoa kỳ và bài học kinh nghiệm cho việt nam

Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
TNCN
4
. Loại thuế này thường chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu của ngân sách
nhà nước.
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá
nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thông thường là một
năm)
5
.
3. Những nội dung cơ bản của thuế thu nhập cá nhân
3.1. Đối tượng nộp thuế
Nhìn chung, quy định về thuế thu nhập cá nhân ở các nước đều chia đối
tượng nộp thuế thành hai đối tượng căn cứ vào khái niệm về “cư trú”. Để xác
định có phải đối tượng cư trú hay không, người ta thường sử dụng tiêu thức quốc
tịch hay thời gian sinh sống, làm việc tại nước sở tại. Ví dụ, Luật thuế thu nhập
cá nhân Mỹ quy định đối tượng nộp thuế cư trú là công dân Mỹ và những người
thường trú, kể cả người nước ngoài ở trên đất Mỹ được 31 ngày trong năm hiện
thời, còn trong 3 năm gần nhất đã ở 183 ngày.Công dân Mỹ và người thường trú
trả thuế trên số thu nhập kiếm được trên toàn thế giới. Người nước ngoài không
thường trú trả tuế trên thu nhập kiếm được trên đất Mỹ.Thông thường, các cá
nhân cư trú phải chịu thuế TNCN đối với toàn bộ thu nhập của mình trong năm
tính thuế mà không tính đến nguồn gốc phát sinh thu nhập đó là ở trong nước
hay ngoài nước ( TN toàn cầu). Còn những cá nhân thuộc đối tượng không cư trú
thì chỉ phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với những khoản thu nhập phát sinh
có nguồn gốc tại nước sở tại.
3.2. Đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế của thuế TNCN là thu nhập chịu thuế.
Thu nhập chịu thuế (T) của một cá nhân trong kì tính thuế là tổng thu nhập
trừ đi tổng các khoản được giảm trừ.
Như vậy, từ định nghĩa thu nhập chịu thuế có thể được thể hiện qua công
thức sau:
4
Bộ Tài chính, 2007, ‘Tính ưu việt của thuế thu nhập cá nhân’, Tạp chí Thuế, số 42, kỳ 2 tháng 11.
5
PGS.TS. Lê Văn Ái & TS. Đỗ Đức Minh, 2002, Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận
dụng ở Việt Nam, NXB Tài chính, Hà Nội, trang 12.
5
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
T = I – C
Trong đó: T: thu nhập chịu thuế
I: Tổng thu nhập
C: Các khoản giảm trừ
Vậy là, thu nhập chịu thuế bao giờ cũng thấp hơn tổng thu nhập. Việc xác
định thu nhập chịu thuế có thể không dễ dàng với một số khu vực, đặc biệt là khu
vực phi chính thức.
 Phân loại thu nhập chịu thuế:
 Tiền công và tiền lương;
 Thu nhập của doanh nghiệp;
 Thu nhập từ tài sản: Thu nhập từ vốn, tiền cho thuê, phí tài nguyên,
các lợi ích phụ, tiền cho thuê hàng tiêu dùng lâu bền;
 Các khoản chuyển giao thu nhập, thu nhập hưu trí, quà tặng, và
khoản thụ hưởng.
 Thuế thu nhập toàn bộ và thuế thu nhập riêng biệt:
Thông thường, khi xác định TNCN, các quốc gia thường căn cứ vào nguồn
gốc của TN để đưa ra các khoản thu nhập chịu thuế cụ thể được quy định trong
luật. Phần lớn chính sách thuế thu nhập của các nước áp dụng khái niệm “ thuế
đánh trên tổng các loại TN”. Thuế thu nhập toàn bộ cộng các nguồn TN lại, trong
khi đó thuế TN riêng biệt có thuế riêng cho từng nguồn TN khác nhau. Nhìn
chung thuế thu nhập toàn bộ được áp dụng ở các nước công nghiệp phát triển,
còn thuế thu nhập riêng biệt được áp dụng ở các nước đang phát triển.
 Giảm trừ thu nhập trong tính toán thu nhập chịu thuế:
Mỗi quốc gia, tùy vào mục đích đánh thuế và chính sách của mình sẽ đưa ra
một cách cụ thể các khoản TN nào bị tính thuế cũng như các khoản Tn nào
không bị tính thuế (miễn thuế). Các hệ thống thuế thu nhập khác nhau ở cách
thức mà chúng giảm từ tổng TN đến thu nhập chịu thuế. Giảm thuế có thể có các
hình thức như điều chỉnh, khấu trừ, miễn thuế, trợ cấp, và tín dụng. Điều chỉnh
TN nói chung là các khoản giảm thuế mà mọi người trả thuế đều hưởng. Chẳng
6
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
hạn như tiền cấp dưỡng hay các khoản đóng góp lương hưu là những khoản điều
chỉnh tiêu biểu mà người trả thuế có thể loại ra khỏi tổng TN của họ bằng đúng
với số lượng các khoản này.
Khoản khấu trừ cũng làm giảm thu nhập chịu thuế. Trong một số hệ thống
thuế, các khoản khấu trừ nằm dưới hình thức là một khoản khấu trừ chuẩn hoặc
là các khoản khấu trừ được hạng mục hóa (liệt kê chi tiết từng khoản) và người
chịu thuế được dành cho quyền lựa chọn phương pháp nào mà họ cho là có lợi
nhất. Khấu trừ chuẩn có thể thay đổi tùy theo đặc tính của đơn vị lưu giữ hồ sơ
hay của người trả thuế các khoản khấu trừ được hạng mục hóa nói chung là làm
lợi cho người trả thuế có TN cao hơn là người trả thuế có TN thấp vì người trả
thuế có TN cao thường gánh chịu các chi phí được hạng mục hóa lớn hơn mức
khấu trừ chuẩn. Các khoản khấu trừ được hạng mục hóa và được miễn giảm thay
đổi theo các hệ thống thuế TN khác nhau, nhưng có thể bao gồm chi phí kinh
doanh liên quan đến người lao động không dược hoàn trả, đóng góp cho hoạt
động từ thiện, chi phí giáo dục, đóng góp quỹ lương hưu, đóng góp bảo hiểm
nhân mạng, thanh toán lãi suất cá nhân và tài sản cầm cố, chi phí y tế và nha
khoa, thuế trả cho các chính phủ khác và các khoản thanh toán thuế bảo hiểm xã
hội, và tổn thất do tai nạn hay trộm cắp.
Ngoài ra, nhiều hệ thống thuế thu nhập cho phép khấu trừ các khoản miễn
giảm cá nhân hoặc trợ cấp gia đình (ở nước ta khoản này gọi là giảm trừ gia
cảnh). Những khoản miễn trừ này dựa trên TN thực tế mà các cá nhân cần thiết
cho bản thân trong kì đóng thuế và số lượng cá nhân của cùng một đơn vị hồ sơ
thuế (cũng liên quan đến các đặc tính của đơn vị hồ sơ thuế này).
3.3. Đơn vị chịu thuế
Có một số cách khác nhau để người ta có thể xác định đơn vị chịu thuế thu
nhập trong cùng một hệ thống thuế TNCN. Thứ nhất, mỗi cá nhân có thể được
đánh thuế riêng lẻ, bất chấp tình trạng hôn nhân của họ như thế nào. Thứ hai, các
cặp vợ chồng có thể được đánh thuế trên cơ sở TN chung. Thứ ba, các cặp vợ
chồng có quyền lựa chọn được đánh thuế chung hay riêng. Sau cùng, các hộ gia
7
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
đình có thể được đánh thuế dựa trên cơ sở TN chung. Ban đầu, việc xác định đơn
vị chịu thuế không phải dễ dàng.
Việc lựa chọn đơn vị chịu thuế có các ngụ ý quan trọng về bình đẳng, đặc
biệt là với những xem xét bình đẳng theo chiều ngang. Khái niệm cơ bản về bình
đẳng theo chiều ngang là những người có cùng TN thì phải trả cùng số thuế.
3.4. Biểu thuế
Một khi thu nhập chịu thuế đã được xác lập, thì luật thuế thu nhập sẽ xác
định thuế suất và dòng thuế áp dụng cho khoản TN này. Có sự khác biệt giữa các
hệ thống thuế khác nhau về thuế suất và các dòng thuế. Thuế suất biên thay đổi
từ 1% đến gần 100%, mặc dù thuế suất tối đa phổ biến chỉ vào khoảng 40%. Một
số hệ thống thuế chỉ có 2 hoặc 3 thuế suất và dòng thuế, trong khi những hệ
thống thuế khác có hơn 10. Nếu có một hệ thống lưu trữ chung, thì các khung
thuế khác nhau có thể áp dụng đối với các lưu trữ đơn vị hồ sơ khác nhau.
Thông thường, thuế suất thuế TNCN được đánh theo nguyên tắc lũy tiến.
Tức là người có thu nhập càng cao sẽ phải trả một tỉ lệ thuế/TN lớn hơn. Điều
này nhằm đảm bảo mục tiêu huy động công bằng hơn TN của cá nhân cho ngân
sách nhà nước theo khả năng đóng góp của từng cá nhân.
8
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
II – TÌM HIỂU LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA HOA KỲ
1. Quá trình hình thành và phát triển của thuế TNCN ở Hoa Kỳ
6
Những yêu cầu tài chính trong thời Nội Chiến đã thúc đẩy việc hình thành
thuế thu nhập đầu tiên của Mỹ vào năm 1861. Ban đầu, Quốc hội đánh thuế cố
định là 3% vào tất cả TN trên 800$ và sau đó đã sửa đổi nguyên tắc này để bao
gồm cả thuế lương hưu. Năm 1872, Quốc hội đã hủy bỏ thuế TN, nhưng khái
niệm này vẫn tồn tại. Sau 20 bị bãi bỏ, năm 1894, như là một phần của dự luận
thuế quan, Quốc hội đã ban hành mức thuế 2% đánh vào TN trên 4000$. Tuy
nhiên, sau đó, mức thuế này đã ngay lập tức bị bác bỏ bởi quyết định 5/4 của tòa
án tối cao. Năm 1909 những người tiến bộ trong quốc hội một lần nữa kèm theo
điều khoản về thuế TN và dự luật thuế quan. Đảng bảo thủ đã đề xuất một sửa
đổi về việc ban hành loại thuế này trong hiến pháp nhằm mục đích mọi sự sửa
đổi sẽ không bao giờ nhận được sự phê chuẩn của ba phần tư số bang. Nhưng
thật ngạc nhiên, lần lượt các cơ quan luật pháp của các bang đã phê chuẩn việc
sửa đổi, và vào ngày 25/2/1913, với sự chứng nhận của thư kí bang Philander
C.Knox, sửa đổi lần thứ 16 đã có hiệu lực. Cho đến năm 1913, do việc miễn và
khấu trừ thuế rộng rãi, chưa đầy 1% dân số đã trả thuế TN với mức chỉ 1% TN
thực tế.
Trong chiến tranh thế giới lần 1, thuế suất mức cao nhất lên tới 77%, sau đã
giảm xuống 25% sau chiến tranh. Trong đại khủng hoảng kinh tế năm 1933 và
chiến tranh thế giới lần 2, thuế suất tăng trở lại. Năm 1935, Đạo luật ngân sách
đã đưa những khoản thuế TN lương hưu cá nhân không hợp lý với mức thuế tới
75% cho những TN vượt quá 5 triệu $ nên còn được gọi là Đạo Luật Thuế Tài
Sản. Sau đó, thuế suất cao nhất còn lên đến 94% vào năm 1944, 1945 vã giữ ở
mức 91% cho tới tận năm 1964. Điều bất hợp lý này đã làm cho việc trốn thuế
TN trở thành một phần quan trọng của các hoạt động phạm pháp thời kì này.
6
Các số liệu thuế suất trong lịch sử thuế TNCN của Hoa Kỳ lấy từ các nguồn sau:
IRS, Statistics of Income 2007 Fall Bulletin, Publication 1136;
James Young, ‘Inflation Adjustments Affecting Individual Taxpayers in 2007’.
9
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Đạo luật thuế cải cách năm 1986 đã đưa mức thuế suất thấp trở lại với
khung thuế suất từ 15% - 28%. Những năm 90 của thế kỉ trước, khung thuế suất
cao nhất tăng lên mức 39,1% nhưng sau đó đã giảm xuống 35% nhờ “ Đạo luật
phát triển kinh tế và giảm thuế năm 2001” của tổng thống Bush năm 2001.
Thuế TN đã không ảnh hưởng trực tiếp tớ hầu hết người Mỹ cho đến Chiến
Tranh Thế Giới Thứ 2. Trong năm 1939, chỉ có 5% người Mỹ trả thuế TN liên
bang. Nhưng đạo luật Ngân sách năm 1942 đã tăng mức thuế, giảm việc miễn
thuế và thành lập Thuế Victory 5% đánh vào TN trên 624$, mở rộng nền tảng
thuế TN một cách đáng kể. Kết quả của kế hoạch thuế mới này là trên 74%
người Mỹ đã trả thuế Tn liên bang vào năm 1945. Thuế TN đã trở thành nguồn
quan trọng nhất của ngân sách liên bang. Thiếu nó, công cuộc cải tổ xã hội
những năm 1930, chi phí của chiến tranh thế giới thứ 2, quốc phòng quốc gia
suốt chiến tranh lạnh, và các chương trình của Đại Xã Hội những năm 1960 sẽ
không thể tiến hành.
2. Nội dung cơ bản thuế TNCN của Hoa Kỳ
Thuế TNCN do một cơ quan thuộc Bộ Tài Chính quản lý, đó là Cục thuế
liên bang (IRS). Hệ thống pháp luật thuế TNCN của Mỹ được coi là một hệ
thống phức tạp với gần 50 000 trang luật và các quy định của Cục thuế liên bang
nhằm cụ thể hóa luật này. Toàn bộ hệ thống phức tạp này được công bố cho công
chúng tại trang chủ của IRS: http://www.irs.gov/. Một phần công việc của IRS là
tạo ra các mẫu khai thuế để người dân điền thông tin về thu nhập của mình. Cơ
quan thuế cũng cho ra các ấn phẩm phát miễn phí cho công chúng để giải thích
về luật này.
Thuế TN cá nhân được đánh bởi chính quyền liên bang và chính quyền
bang. Sau đây là những đặc điểm cơ bản của hệ thống pháp luật thuế thu nhập cá
nhân của chính quyền liên bang Hoa Kỳ.
2.1. Đối tượng nộp thuế
Luật thuế chia người nộp thuế thành hai đối tượng là người cư trú và không
cư trú. IRS để xuất hai cách nhận biết cho người được coi là cư trú.
10
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Thứ nhất, người đó có thẻ xanh (green card) với điều kiện trạng thái của
thẻ không bị hủy bỏ, bị giám sát pháp lý hoặc hết hiệu lực;
- Thứ hai, đó là dựa trên sự hiện diện thực tế. Một cá nhân được coi là cư
trú khi có hiện diện thực tế (về mặt vật lý) tại mỹ ít nhất 31 ngày trong năm tính
thuế, và ít nhất 183 ngày trong vòng 3 năm có bao gồm năm hiện tại và hai năm
trước đó. Cụ thể, để đạt được yêu cầu này, bạn phải đếm tất cả số ngày bạn hiện
diện tại Mỹ trong năm tính thuế, 1/3 số ngày hiện diện của năm ngoái, và 1/6 số
ngày hiện diện của năm liền trước nữa
7
.
Để giải thích cặn kẽ cho quy định trên của luật Mỹ, IRS còn quy định khá
chi tiết về tiêu chuẩn đủ để tính ngày cư trú, một số ngoại lệ với Canada và
Mexico, và ngày miễn TN v.v… Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, thậm chí
nếu bạn đủ điều kiện theo cách thứ hai này, bạn vẫn không được đối xử thuế như
người cư trú nếu bạn ở Mỹ ít hơn 183 ngày, nếu bạn vẫn phải khai thuế cư trú tại
một nước khác – nước này được xem xét là gần gũi với bạn hơn Mỹ. Điều này
không xảy ra nếu bạn đã là một công dân Mỹ. Còn trong trường hợp người nước
ngoài chuyển đổi từ “không cư trú” thành “cư trú” trong năm hoặc ngược lại, thì
họ sẽ được tính thuế theo cả hai trạng thái trên, tức là “trạng thái kép” theo thời
kỳ, đánh dấu bởi thời gian xảy ra sự chuyển đổi trên. Áp dụng điều này, trong
trường hợp một người không cư trú lấy một công dân Mỹ mà chọn theo khai thuế
gia đình, họ vẫn phải chụy cả hai mức thuế cư trú và không cư trú.
Người không cư trú khai mẫu thuế 1040NR và 1040NR-EZ cho những TN
tại Mỹ. Còn người nước ngoài cư trú sẽ tuân thủ luật như những công dân Mỹ;
chịu thuế TN trên TN toàn cầu và khai trên mẫu 1040EZ, 1040A và 1040.
2.2. Thu nhập chịu thuế
Thuế TN đánh trên lợi tức phải chịu thuế của cá nhân tức là mọi loại TN
của cá nhân không phân biệt loại TN, nguồn hình thành, tính chất của TN đó (trừ
những TN được miễn quy định cụ thể trong luật). Cơ sở tính thuế được quy định
rất tỉ mỉ, gồm nhiều yếu tố được thuyết minh chi tiết qua các văn kiện pháp lý:
7
2011, Topic 851 - Resident and Non-Resident Aliens, Cục thuế Liên bang Hoa Kỳ, truy cập ngày
01/04/2011, <http://www.irs.gov/taxtopics/tc851.html>
11
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tổng TN (Gross Income) là tất cả số thu từ mọi nguồn đã trừ đi các khoản
được phép loại trừ (Exclusions) - các khoản này hoặc được miễn thuế, hoặc
thường được điều chỉnh bởi luật thuế khác – như:
- Lợi nhuận kiếm được từ trái phiếu tiểu bang và địa phương;
- Lãi vốn (Capital Gains);
- Đóng góp của chủ vào kế hoạch lợi tức của công nhân lao động;
- TN lợi tức từ một số hình thức tiết kiệm;
- Quà tặng và của thừa kế.
Ví dụ: Tiền lời nhận được từ các công trái miễn thuế cũng không phải gộp
vào tổng TN.
Tổng TN đã điều chỉnh (Adjusted Gross Income) – AGI: là tổng TN đã trừ
đi các khoản được khấu trừ (Declusions) và miễn thuế (Exemptions) theo luật
định. Có hai cách sau mà người nộp thuế có thể tự do lựa chọn cách nào có lợi
cho mình hơn:
(1) Khấu trừ theo danh mục (itemized deductions) do bản thân họ lựa chọn
theo một danh mục (list) và kê khai với sở thuế. Các khoản đó thường là: Chi phí
y tế không hoàn lại vượt quá 7,5% AGI không được bảo hiểm chi trả, TN của
bang và địa phương và thuế bất động sản, một số chi phí lợi tức nhất định, những
đóng góp từ thiện, những tổn thất về người và của, những chi phí không hoàn lại
liên quan đến nghề nghiệp;
(2) Khấu trừ tiêu chuẩn (standard deduction) với số tiền ấn định sẵn cho
từng đối tượng chịu thuế và tăng lên hàng năm. Ví dụ: khấu trừ tiêu chuẩn của
người độc thân năm 2007 là 5.350$ và cho cặp vợ chồng khai chung là 10 700$.
Các khoản miễn thuế hợp pháp (allowable exemptions) là khoản miễn thuế
dành cho bản thân, vợ hoặc chồng (nếu khai thuế chung), và cho những người
sống lệ thuộc vào người đóng thuế. Khoản này phụ thuộc vào chi phí sinh hoạt
hằng năm và thường được IRS công bố theo năm. Năm 2007, khoản này là
3.400$. Năm 2008, khoản này tăng thêm 100$ do lạm phát, tức là 3.500$.
12
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Ví dụ: Năm 2007, John 44 tuổi, có hai con nhỏ. Tổng TN của anh là
100.000$ trong năm 2007. Anh dành 15.500$ cho bảo hiểm khi về hưu, 1.800$
cho các kế hoạch chăm sóc sức khỏe gia đình. Tất cả những khoản này không
phải chịu thuế. Ngoài ra, John còn có TN 12 000$ từ lương của vợ anh, 200$ tiền
lãi ngân hàng, 150$ hoàn thuế của chính phủ. Như vậy tổng TN của John là:
100.000 – (15.500 + 1.800) + 12.000 + 200 + 150 = 95.050$.
Khấu trừ theo danh mục của John tính ra là 22300. Anh có 4 suất miễn thuế
hợp pháp cho bản thân, vợ anh và hai con, tổng là: 4 x 3 400$ = 13 600$. Như
vậy, TN có thể bị đánh thuế của John là: 95.050 – 22.300 – 13.600 = 59.050$.
Lợi tức chịu thuế (Taxable Income): là tổng TN đã điều chỉnh trừ đi các
khoản khấu trừ khác như kể trên. Đây là TN dùng để đánh thuế.
Lợi tức chủ yếu chia thành hai loại:
(1) Lợi tức thông thường (Ordinary Income) là TN do tiền công, tiền lương
(wages, salary), TN từ công ty tư nhân, lãi cổ phần, lợi nhuận từ quỹ đầu tư,
v.v…;
(2) Lợi tức đầu tư (Capital Gains) là TN do bán tài sản đã đầu tư
(Investment Property). Trong đó lợi tức đầu tư ngắn hạn bị đánh thuế như lợi tức
thông thường, trong khi lợi tức đầu tư dài hạn được ưu đãi hơn do chính phủ
khuyến khích người dân đầu tư hơn là tích trữ (lợi tức dài hạn là khoản loại trừ
khi tính tổng TN – exclusions).
2.3. Thuế suất
Năm 2008, có 6 bậc thuế tương ứng với các giỏ TN (Branket) khác nhau là
10%, 15%, 25%, 28%, 33% và 35%. Tuy nhiên, khoảng và mức TN khác nhau
tùy theo người đóng thuế độc thân, khai chung cặp vợ chồng, và hai vợ chồng
khai riêng, hoặc người khai là chủ gia đình.
13
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thu nhập có thể bị đánh thuế Thuế suất
0$ - 16 050$ 10%
16 050$ - 65 100$ 15%
65 100$ - 131 450$ 25%
131 450$ - 200 300$ 28%
200 300$ - 357 770$ 33%
Từ 357 770$ trở lên 35%
Bảng 1: Thuế suất cho cá nhân độc thân
Thu nhập có thể bị đánh thuế Thuế suất
0$ - 8 025$ 10%
8 025$ - 32 550$ 15%
32 550$ - 78 850$ 25%
78 850$ - 16 4550$ 28%
164 550$ - 357 700$ 33%
Từ 357 700$ trở lên 35%
Bảng 2 : Thuế suất cho cặp vợ chồng khai chung
3. Thực trạng thi hành luật thuế TNCN tại Hoa Kỳ
3.1. Hệ thống thuế TNCN của Hoa Kỳ vận hành theo cơ chế tự kê khai, tự
nộp thuế
Tự kê khai tự nộp thuế là cơ chế quản lý trong đó đối tượng nộp thuế tự kê
khai về thuế, tự tính nghĩa vụ thuế cho mình căn cứ theo luật thuế và tự nộp thuế
theo kê khai, cơ quan thuế không can thiệp vào quá trình kê khai nộp thuế đó của
đối tượng nộp thuế trừ trường hợp phát hiện các sai sót, vi phạm hoặc dấu hiệu
không tuân thủ luật thuế. Trong cơ chế này nổi bật vai trò chủ yếu của hai chủ
thể là đối tượng nộp thuế và cơ quan quản lý thuế.
Luật thuế TNCN Hoa Kỳ quy định rất rõ ràng nghĩa vụ của người nộp
thuế trong việc:
- Xác định thu nhập gộp, các khoản giảm trừ được phép, các khoản miễn
thuế được phép;
- Tính toán nghĩa vụ thuế (số thuế phải nộp);
- Thông báo các thông tin về thuế một cách đúng hạn và đệ trình việc thanh
toán bao gồm:
 Bản khai thuế TNCN vào ngày thứ 15 của tháng thứ tư sau năm
tính thuế (thông thường, thuế TNCN nôp chậm nhất vào ngày 15/04 dương lịch);
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét