Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
và trình độ khác nhau. Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trong nền kinh
tế thị trờng có những đặc điểm chủ yếu nh sau:
Thứ nhất: Hàng tiêu dùng mang tính nhạy cảm và chịu sự biến động
lớn: Sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng chịu ảnh hởng của sự
biến động từ các nhân tố nh: Thời gian, chất lợng, giá cả thị trờng sự phát
triển của khoa học công nghệ, nền kinh tế đóng hay mở và các nhân tố
khác. Các nhân tố nói trên biến động theo thời gian, theo dòng lịch sử cho
thấy sản phẩm của ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng tơng ứng với
cuộc cách mạng công nghiệp ở nớc Anh vào 30 năm cuối thế kỷ 18 và hơn
50 năm cuối thế kỷ 19, mở đầu nền văn minh công nghiệp của nhân loại
đánh dấu một bớc phát triển mới về kỹ thuật. Dới tác động của cuộc cách
mạng này làm cho công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đã chuyển từ thủ
công lên cơ khí. Chỉ từ đó đặc tính nhạy cảm hay biến động lớn của hàng
tiêu dùng mới thể hiện một cách rõ nét. Vào những năm 50 của thế kỷ 20
nhân loại lại chứng kiến sự xuất hiện cuộc cách mạng khoa học công nghệ
hiện đại, nhất là từ sau những năm 70 lại đây xuất hiện nhiều đặc trng mới
có liên quan đến tính nhạy cảm, tính biến động lớn của việc sản xuất hàng
tiêu dùng.
Công nghệ ngày càng phát triển theo hớng tiên tiến, năng suất lao
động tổng sản phẩm trong nớc (GDP) tăng lên, thu nhập của dân c ngày
càng cao, dân số ngày càng tăng tâm lý, thị hiếu, tập quán cùng với sự giao
lu của sản xuất và đời sống mang tính quốc tế hoá, nhu cầu hàng tiêu dùng
công nghiệp có tính biến động lớn ở trình độ cao. Trong bối cảnh đó công
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng buộc phải thích nghi và biến đổi không
ngừng theo yêu cầu phát triển của thị trờng. Tính nhạy cảm hay tính biến
động của hàng tiêu dùng còn phải chịu ảnh hởng của nhóm nhân tố cạnh
tranh, cung cầu và giá cả thị trờng hàng tiêu dùng công nghiệp. Mối quan
hệ giữa giá cả thị trờng với sản lợng cùng vận động theo tỷ lệ thuận và ngợc
lại với sản lợng cầu theo tỷ lệ nghịch. Do vậy các quyết định của ngành
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng tính đúng đắn và hiệu quả cuả nó chỉ
có thể có nếu các doanh nghiệp công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nắm
bắt đợc tình hình nhu cầu của thị trờng.
Thứ hai: Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng mang tính đa dạng về
cơ cấu, chủng loại, kích cỡ, mẫu mã và mầu sắc: Đặc điểm này đợc bắt
nguồn từ tính đa dạng của nhu cầu tiêu dùng cá nhân, xã hội và dân tộc của
ngời tiêu dùng trong và ngoài nớc. Nhu cầu này ảnh hởng và quyết định tới
chủng loại, mẫu mã, số lợng và giá cả sản phẩm trong mối quan hệ giữa sản
xuất và tiêu dùng, sản xuất quyết định tiêu dùng nhng tiêu dùng lại là mục
đích của sản xuất gắn với nhu cầu của khách hàng nên tiêu dùng có tác
động trực tiếp đến sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trờng vai trò của tiêu dùng - nhu cầu của khách
hàng lại trở nên quan trọng và quyết định của sản xuất nó liên quan đén sự
hng thịnh và phá sản các xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nếu các xí
nghiệp này không ý thức đợc hoặc không có điều kiện nhất là điều kiện về
vấn đề thực hiện các đặc điểm này trong tiến trình phát triển sản xuất hàng
tiêu dùng.
Thứ ba: Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng xét về mặt sản xuất và
tiêu thụ hàng tiêu dùng mang tính phổ biến vàg liên tục với quy mô ngày
càng lớn:
Dới góc nhìn tiêu dùng hàng do công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
tạo ra rất cần thiết và gần gũi với mọi ngời. Con ngời và xã hội muốn tiến
hành các hoạt động kinh tế, chính trị, t tởng trớc hết họ cần phải có cái để
ăn, mặc, ở, học tập, đi lại tất cả những cái đó đều do công nghiệp sản
xuất hàng tiêu dùng tạo ra mà bất cứ xã hội nào cũng cần đến. Xã hội muốn
tồn tại và phát triển không thể không liên tục sản xuất ra hàng tiêu dùng và
với quy mô ngày càng nhiều hơn. Với đặc điểm này đòi hỏi ngành công
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phải làm rõ mục tiêu và theo đó là những
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nguồn lực (Thiết bị máy móc, lao động, vốn và các yếu tố khác). Yếu tố
vốn liên quan đến chính sách tín dụng, liên quan đến vai trò của tín dụng
nói chung và nhất là đối với tín dụng ngân hàng.
Thứ t: Ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng mà sự hoạt động
của nó không chỉ mang tính quốc gia mà còn mang tính quốc tế: Đặc điểm
này xuất phát từ yêu cầu của quy luật phân công và hợp tác lao động quốc
tế, hợp tác sản xuất, hợp tác khoa học kỹ thuật và công nghệ giữa các nớc.
Xuất phát từ yêu cầu phải thực hiện xu hớng toàn cầu hoá, quốc tế hoá và
khu vực hoá mà mỗi quốc gia là một bộ phận.
Tính quốc tế của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng còn xuất phát
từ yêu cầu thực hiện chiến luực công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu hàng
tiêu dùng ra thị trờng quốc tế nên sản phẩm đó phải phù hợp với thị hiếu,
tập quán của các nớc nhập khẩu và đặc biệt phải coi trọng về mặt chất lợng,
giá cả bán ra trên thị trờng quốc tế. Trong điều kiện kinh tế thị trờng cạnh
tranh về chất lợng và giá cả trên thị trờng trong nớc đã khó việc đứng vững
trên thị trờng quốc tế càng khó khăn hơn. ở nớc ta mặc dù có lợi thế về
nguồn lao động rồi rào và theo đó mức tiền lơng thấp, có lợi thế nhất định
về một số tài nguyên. Song do điểm xuất phát thấp- sản xuất nhỏ. Khó khăn
của ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng ở nớc ta có nhiều nhng gay
go nhất là trình độ kỹ thuật và công nghệ lạc hậu đòi hỏi phải gấp rút đổi
mới. Song không thể đổi mới nếu không đầu t chiều sâu để đổi mới công
nghệ, không có nhiều vốn trung hạn và dài hạn đợc huy động ở nhiều nguồn
trong đó có nguồn tín dụng ngân hàng. Bốn đặc điểm trên có liên quan mật
thiết với nhau qua nghiên cứu các đặc điểm đó để đầu t tài chính tín dụng
sao cho có hiệu quả nhằm phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng ở
nớc ta và ở thủ đô Hà nội.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.1.2 - Vai trò của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trong nền
kinh tế quốc dân và với Hà nội:
Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng có vai trò rất to lớn trong nền
kinh tế quốc dân. Có thể khái quát một số vai trò chủ yếu sau:
Thứ nhất: Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cung cấp hàng hoá
tiêu dùng với t cách là cơ sở tất yếu về đời sống của từng ngời và của toàn
xã hội.
Theo Các-mác con ngời và xã hội muốn tồn tại và phát triển phải có
những nhu cầu cần thiết nh ăn, mặc, ở, đi lại muốn có những thứ đó thì
phải sản xuất ra nó và cũng theo Các-mác xét về mặt lô-gic lẫn lịch sử sự
phát triển của nhân loại cho thấy sự xuất hiện sản phẩm thặng d khi xã hội
đã đảm bảo đợc phần sản phẩm cần thiết và vợt qua cửa ải đó trên cơ sở
tăng năng xuất lao động hay nói cách khác xã hội chỉ có thể tích luỹ khi đã
làm đủ ăn hay đủ tiêu dùng. Xã hội ngày càng phát triển cùng với sự tăng
lên của dân số và của trình độ vă minh trong tiêu dùng nhu cầu hàng tiêu
dùng ngày một tăng lên về số lợng, chất lợng, cơ cấu, mầu sắc trong điều
kiện đó việc sản xuất hàng tiêu dùng bằng phơng tiện thủ công không thể
đáp ứng đợc nhu cầu đó. Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng một ngành
công nghiệp gắn liền với nền văn minh công nghiệp ra đời và phát triển, gắn
liền với việc xuất hiện các cuộc cách mạng công nghiệp và cách mạng khoa
học công nghệ hiện đại. Sự ra đời và phát triển ngành công nghiệp sản xuất
hàng tiêu dùng theo hớng hiện đại ở nớc ta có vai trò to lớn góp phần nâng
cao chất lợng cuộc sống của nhân dân.
Thứ hai: Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng góp phần thúc đẩy
tăng trởng kinh tế, thúc đẩy sự hình thành các khu công nghiệp tập trung.
Tăng trởng và phát triển kinh tế nhất là tăng trởng kinh tế bền vững luôn
luôn là những vấn đề có tính thời sự đối với các quốc gia cũng nh đối với n-
ớc ta. Nó liên quan đến sự suy thoái hoặc hng thịnh, liên quan đến sự tồn
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
vong của thể chế mà mỗi quốc gia đang theo đuổi. Bởi vậy trong các chơng
trình nghị sự dài hạn, trung hạn và ngắn hạn của các Chính phủ mục tiêu
tăng trởng và phát triển kinh tế chiếm vị trí hàng đầu sự nghiệp tăng trởng
và phát triển kinh tế của nền kinh tế quốc dân nhịp độ tăng nhanh hay
chậm, cao hay thấp, bền vững hay không lại phụ thuộc vào sự tăng trởng và
phát triển của các ngành trong đó có ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng. ở nớc ta sau 10 năm đổi mới có mức độ tăng trởng đáng kể trong đó
có công nghiệp SXHTD mức tăng trởng bình quân trong 5 năm 1994-1998
là 8.2% sự phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thời gian qua còn
góp phần hình thành các khu công nghiệp tập trung (Bao gồm khu chế xuất
và khu công nghiệp kỹ thuật cao) ở các địa phơng trong cả nớc đáng chú ý
là Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Sự phát triển công nghiệp SXHTD
mà nguyên liệu lấy từ nông nghiệp, lâm nghiệp, ng nghiệp với công nghiệp
chế biến hàng tiêu dùng hình thành cơ cấu nông- công nghiệp chế biến và
dịch vụ ở nông thôn và ven các thành phố theo hớng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Bằng cách đó tăng thu nhập, nâng cao sức mua của dân c nông
thôn mở rộng thị trờng nông thôn, một thị trờng rộng lớn đầy hứa hẹn cho
sự phát triển công nghiệp, trong đó công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.
Thứ ba: Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phát triển góp phần
tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nớc:
Thông qua các khoản thuế mà các doanh nghiệp công nghiệp
SXHTD nộp cho nhà nớc. Sự phát triển nhanh chóng và có hiệu quả của
ngành công nghiệp SXHTD góp phần tăng khả năng tích luỹ vốn trong các
doanh nghiệp CNSXHTD góp phần giảm tỷ lệ đầu t vốn từ ngân sách (Nhất
là các doanh nghiệp CNSXHTD thuộc kinh tế nhà nớc). Từ đó dành vốn từ
ngân sách nhà nớc đầu t vào các ngành then chốt trọng yếu khác gắn với
hàng hoá công cộng hay nói cách khác sự phát triển có hiêụ quả của công
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nghiệp SXHTD góp phần vào vệc lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia ở
nớc ta.
Thứ t: Sự phát triển có hiệu quả CNSXHTD góp phần thực hiện tốt
chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng: Hoạt động của các doanh nghiệp
CNSXHTD ngoài vốn đầu t ban đầu từ ngân sách nhà nớc, vốn tự bổ xung
của doanh nghiệp còn có nguồn vốn tín dụng vay các ngân hàng. Khả năng
cung ứng vốn tín dụng của ngân hàng chỉ đợc mở rộng nếu các doanh
nghiệp có nhu cầu vay vốn tín dụng ngân hàng. Do vậy việc phát triển và
đổi mới kỹ thuật và công nghệ trong các doanh nghiệp CNSXHTD có tác
dụng hình thành nhu cầu tín dụng để các ngân hàng thực hiện tốt hoạt động
cho vay. ở nớc ta hiện nay có tình trạng thừa vốn mặc dù đã giảm lãi suất
cho vay. Thực ra không phải thừa vốn mà chủ yếu các doanh nghiệp
CNSXHTD cha đổi mới đợc kỹ thuật công nghệ, cha xác định đợc phơng h-
ớng sản xuất kinh doanh và thị trờng tiêu thụ. Một khi các ngành kinh tế
nói chung, công nghiệp SXHTD nói riêng thông qua đổi mới kỹ thuật và
công nghệ xác định có căn cứ khoa học phơng hớng sản xuất kinh doanh có
tính khả thi nhu cầu vốn chẳng những không thừa mà còn thiếu. Hoạt động
cho vay và thu nợ của ngân hàng phát triển, việc ứ đọng vốn tín dụng và
tình trạng nợ quá hạn có điều kiện giải toả.
1.2-/ Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng
thúc đẩy phát triển công nghiệp sản xuất
hàng tiêu dùng.
1.2.1 - Tín dụng trong nền kinh tế thị trờng:
1.2.1.1 - Khái niệm và đặc điểm của tín dụng:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế của kinh tế thị trờng phản ánh mối
quan hệ vay mợn giữa ngời cho vay và ngời đi vay trong những thời hạn
nhất định và khi hết thời hạn, khoản vốn vay đó phải đợc hoàn trả cho chủ
sở hữu có kèm theo khoản lợi tức nhất định.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Có nhiều loại tín dụng: Tín dụng nặng lãi, tín dụng thơng mại, tín
dụng nhà nớc, tín dụng tập thể, tín dụng ngân hàng. Trong nền kinh tế thị
trờng, quan hệ tín dụng đợc luận giải gắn với đặc điểm chu chuyển vốn.
Thật vậy trong các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và dân c do đặc điểm
chu chuyển của vốn tiền tệ luôn có một bộ phận vốn tiền tệ nhàn rỗi (Tiền l-
ơng cha đến kỳ trả, tiền mua vật t, máy móc thiết bị cha đến kỳ mua, tiền để
giành của dân c cha đến kỳ mua sắm ) nhng cần đợc sử dụng để sinh lời.
Trong khi đó một số doanh nghiệp, tổ chức xã hội và dân c khác muốn có
vốn để đầu t, mở mang doanh nghiệp, mua sắm hàng tiêu dùng nhng cha
có tích luỹ vốn kịp. Nh vậy trong cùng một thời điểm, một số ngời có vốn
nhng cha cần sử dụng có nhu cầu cho vay, một số ngời khác cần vốn nhng
lại cha có, làm nảy sinh quan hệ tín dụng và tín dụng xuất hiện là một tất
yếu khách quan. Đặc điểm quan trọng của tín dụng là ngời cho vay có
quyền sở hữu nhng không có quyền sử dụng, còn ngời đi vay có quyền sử
dụng nhng không có quyền sở hữu. Nói cách khác đặc điểm của vốn tín
dụng là quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng.
Ngoài ra tín dụng nớc ta còn có các đặc điểm sau:
Thứ nhất: Quan hệ tín dụng dựa trên nền kinh tế hàng hoá mới hình
thành, đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng nên tín dụng
ngân hàng đã và đang phát triển thêm nhiều hình thức mới, phù hợp với yêu
cầu hình thành và phát triển kinh tế hàng hoá theo hớng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Thứ hai: Quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở nền kinh tế tồn tại nhiều
thành phần, và cạnh tranh, vừa hợp tác với nhau dới sự quản lý và điều tiết
thống nhất của nhà nớc. Nhận thức đúng đặc điểm này sẽ làm cho quan hệ
tín dụng không bị biến dạng, không dẫn đến bị lợi dụng, chiếm dụng hoặc
chiếm đoạt vốn của nhà nớc và của nhân dân.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thứ ba: Quan hệ tín dụng trong quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch
hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc.,
Theo dòng lịch sử hình thành và phát triển cơ chế thị trờng và quan hệ tín
dụng cho thấy:
- Cơ chế thị trờng đợc hình thành và phát triển sớm đó là cơ chế thị
trờng tự do, gắn với Bàn tay vô hình theo quan điểm của Ađam-smith, cơ
chế này có vai trò tích cực, song không thể không có những hạn chế nhất
định mà việc khắc phục những hạn chế không thể thiếu đợc vai trò quản lý,
điều tiết của nhà nớc với t cách là Bàn tay vô hình trong nền kinh tế thị tr-
ờng hiện đại.
- Cũng nh việc hình thành các quan hệ tín dụng lúc đầu do t nhân tiến
hành phát triển một cách tự phát, mà lãi suất của nó từ chỗ nặng lãi
không theo quy luật giá trị, đến chỗ vận động theo cơ chế thị trờng lên
xuống theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trờng do các ngân hàng thơng mại
t nhân thao túng. Tất nhiên quan hệ tín dụng hoàn toàn theo cơ chế này
không thể coi là hoàn hảo nếu không có sự quản lý, điều tiết của ngân hàng
qua hệ thống ngân hàng Nhà nớc. Nh vậy là trong lịch sử các ngân hàng th-
ơng mại t nhân có trớc các ngân hàng Nhà nớc. Song đến lợt sự xuất hiện
ngân hàng nhà nớc đã đa quan hệ tín dụng nhất là tín dụng ngân hàng lên
tầm cao mới, mà sự vận động và phát triển của nó theo cấu trúc và thể chế
mới của hệ thống ngân hàng hiện đại một hợp phần không thể thiếu đợc của
kinh tế thị trờng hiện đại.
1.2.1.2 - Các hình thức tín dụng:
Qua quá trình hình thành và phát triển tín dụng trải qua các hình thức
tín dụng nặng lãi, tín dụng thơng mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà n-
ớc, tín dụng tiêu dùng.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Tín dụng nặng lãi: Tín dụng nặng lãi gắn liền với sự phân công lao
động xã hội và phân hoá giai cấp làm nảy sinh kẻ giàu ngời ngèo. Tính chất
nặng lãi của loại tín dụng này đã phản ánh đầy đủ bản chất của nó: Trình độ
xã hội hoá còn rất thấp, của cải vật chất d thừa cha nhiều, trong khi đó nhu
cầu duy trì nền sản xuất xã hội và đời sống ở mức cần thiết tối thiểu cũng
cha thể đáp ứng đợc. Lợi dụng tình trạng nhu cầu cần thiết chi tiêu của ngời
vay, kẻ có tiền nâng lãi suất rất cao, ngời đi vay buộc phải chấp nhận. Loại
tín dụng này không phải là loại tín dụng đầu t tín dụng phát triển sản xuất vì
lãi xuất quá cao mà là tín dụng tiêu dùng nên nó không mang tính đặc trng
của nền kinh tế thị trờng.
- Tín dụng thơng mại: Tín dụng thơng mại là quan hệ vay mợn giữa
các chủ thể trực tiếp kinh doanh dới hình thức hàng hoá. Đối tợng của tín
dụng thơng mại không phải là tiền tệ mà là hàng hoá, vật t nguyên liệu,
máy móc thiết bị cho sản xuất, t liệu tiêu dùng Tín dụng thơng mại thờng
là tín dụng ngắn hạn.
Khi có sự mua bán chịu hàng hoá giữa các chủ thể trực tiếp kinh
doanh, tức là chủ thể kinh tế này cho chủ thể kinh tế kia vay một lợng giá
trị chứa đựng trong hàng hoá đó cũng giống nh cho vay tiền tệ xét về mặt
thực tế. ở đây sự trao đổi hàng hoá đi trớc lu thông tiền tệ. Hàng hoá bán
chịu giá cao hơn bán lấy tiền ngay. Khoản chênh lệch chính là lợi tức mà
ngời mua chịu trả cho ngời bán chịu. Tuy nhiên mục đích bán chịu không
phải chủ yếu là thu lợi tức mà là để thực hiện giá trị hàng hoá. Tín dụng th-
ơng mại dới hình thái vật phẩm tiêu dùng nếu tách riêng ra, nó gắn với hình
thức tín dụng tiêu dùng, một hình thức tín dụng không chỉ có lợi cho ngời
tiêu dùng mà còn có lợi cho các chủ thể sản xuất và cung ứng.
Khi mua chịu hàng hoá chủ thể kinh tế với t cách là ngời mua giao cho ngời
bán một chứng từ (giấy nhận nợ) cam kết trả tiền khi đến thời hạn gọi là kỳ
phiếu thơng mại. Kỳ phiếu khi cha đến thời hạn thanh toán có thể dùng để
mua hàng hoá, thanh toán các khoản nợ bằng cách sang tên kỳ phiếu. Khi
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
cần thiết ngời chủ sở hữu kỳ phiếu có thể đến ngân hàng thực hiện việc
chiết khấu kỳ phiếu để lấy tiền mặt trớc hạn. Khi tới thời hạn thanh toán
ngân hàng sẽ thu nợ ở ngời phát hành kỳ phiếu. Ngân hàng có thể dùng kỳ
phiếu đó để cho vay hoặc dựa vào đó để phát hành giấy bạc ngân hàng. Sự
xuất hiện kỳ phiếu thơng mại hay thơng phiếu ra đời đã góp phần thúc đẩy
lu thông hàng hoá t liệu sản xuất và hàng hoá t liệu tiêu dùng tiến hành
thuận lợi.
- Tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng giữa
những ngời có tiền cho vay và ngời đi vay thông qua ngân hàng làm trung
gian. ở đây ngân hàng vừa là ngời đại diện cho ngời đi vay, lại vừa đại diện
cho ngời vay.
Tín dụng ngân hàng ra đời và phát triển bắt nguồn từ yêu cầu của sự
hình thành và phát triển kinh tế thị trờng. Nhờ có ngân hàng các thơng
phiếu đợc chiết khấu dễ dàng để chuyển thành tiền mặt, tạo điều kiện cho
các thơng phiếu có thể làm phơng tiện lu thông và thanh toán với nhau giữa
các chủ thể kinh tế.
Tín dụng ngân hàng phát triển đã khắc phục đợc những nhợc điểm do
sự hạn chế về khối lợng, về thời gian, về phạm vi và đối tợng tham gia của
tín dụng thơng mại, do đó đã tạo điều kiện mở rộng lu thông hàng hoá. Tuy
nhiên cần thấy rằng nếu tín dụng thơng mại còn liên hệ trực tiếp với sản
xuất và trao đổi hàng hoá, thì tín dụng ngân hàng chỉ thực hiện mối liên hệ
gián tiếp với sản xuất và trao đổi hàng hoá giữa các chủ thể kinh tế.
Mặc dù trong lịch sử tín dụng thơng mại xuất hiện sớm hơn tín dụng
ngân hàng, nhng khi tín dụng ngân hàng ra đời nó tồn tại song song với tín
dụng ngân hàng. Cả hai loại tín dụng này cùng tạo điều kiện cho nhau phát
triển, trong đó tín dụng ngân hàng gắn với sự ra đời của ngân hàng thơng
mại và sau đó là ngân hàng Nhà nớc có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nếu
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét