5. Lợi thế của Việt Nam trong hoạt động kinh tế đối ngoại.
Vấn đề tích cực trong hội nhập là chủ động tham gia các quan hệ hợp tác
thơng mại, tham gia vào phân công lao động quốc tế mà biểu hiện tập trung và
chủ yếu nhất là thực hiện chiến lợc đẩy mạnh sản xuất xuất khẩu hàng hoá.
Qua phân tích nghiên cứu, các nhà kinh tế cho rằng Việt Nam có đủ 4 yếu
tố rất cơ bản về lợi thế trong hoạt động xuất khẩu nông sản đặc biệt là gạo, bao
gồm: Vị trí địa lý; nguồn lao động; tài nguyên thiên nhiên; chính sách đổi mới
và sự ổn định nền kinh tế vĩ mô.
5.1 Ví trí địa lý.
Lịch sử nông nghiệp thế giới đã xác định 4 trung tâm nông nghiệp đầu
tiên của loài ngời là: Trung Đông với lúa mì, lúa mạch, đậu Hà Lan; TRung Mỹ
với ngô và khoai lang, Đông Nam á với lúa nớc: Bắc Trung Quốc với cao lơng.
Nh vậy, Việt Nam thuộc một trong bốn trung tâm nông nghiệp đầu tiên với cây
lúa nớc là đặc trng. Khoa học Việt Nam năm 1964 khẳng định: Việt Nam nếu
không phải là trung tâm duy nhất xuất hiện cây lúa trồng thì cũng là một trong
những trung tâm sớm nhất . Nh vậy, có thể nói cây lúa nớc là cây bản địa của
Việt Nam.
Việt Nam nằm ở vòng cung Châu á - Thái Bình Dơng, đây là nơi đang
diễn ra những dòng giao lu kinh tế sôi động nhất và hứa hẹn cho những bớc phát
triển trong tơng lai. Việt Nam năm trên tuyến giao thông quốc tế quan trọng và
có hệ thống biển là cửa ngõ không chỉ đối với nền kinh tế Việt Nam mà còn đối
với nền kinh tế của nhiều quốc giai khác. Đây là điều vô cùng thuận lợi so với
các nớc khác nằm sâu trong lục địa hoặc nằm ở những nơi ít diễn ra hoạt động
thơng mại quốc tế. Lợi thế về mặt địa lý của nớc ta đang rất thuận lợi tạo ra một
môi trờng kinh tế năng động, linh hoạt, giảm đợc chi phí vận chuyển và khả
năng mở rộng thị trờng trao đổi hàng hoá và các hoạt động dịch vụ. Đây là lợi
thế cần khai thác và phát huy trong phát triển kinh tế, nếu không biết tận dụng
và phát huy là đang tự đánh mất cơ hội trong phát triển.
5.2 Lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu và sinh thái.
Quá trình phát triển của cây lúa nớc bao gồm 5 thời kỳ, tất cả các thời kỳ
cây lúa đều đòi hỏi nhiệt độ lớn hơn 20C, đợc tới thờng xuyên, có lợng nhiệt đủ
lớn để cây đẻ nhánh và làm hạt tốt Điều kiện nớc ta hoàn toàn đáp ứng đợc yêu
cầu đó. Nớc ta nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm có độ ẩm không khí cao khoảng
80%, nhiệt độ thờng xuyên trên 20C, khí hậu ấm áp có tổng bức xạ mặt trời lên
tới 140 200 kilo calo/1cm2/năm, số giờ nắng trong năm đạt trung bình
1200giờ/năm và tập trung mạnh vào thời kỳ làm hạt của lúa, góp phần cho năng
suất cao. Lợng ma hàng năm của nớc ta rất lớn, trung bình 1500 2000mm, hệ
thống nớc ngầm có trữ lợng lớn, chỉ tính dới lớp đất dày 1m lợng nớc dự trữ đã
5
là 100 150mm, hệ thống sông ngòi dày dặc là điều kiện tiên quyết cho sản
xuất lúa nớc phát triển vì nó đảm bảo cung cấp đủ nớc tới cho hàng triệu ha lúa.
Ngoài ra hệ thống sông ngòi dày đặc cũng đem lại cho Việt Nam nhiều đồng
bằng thung lũng, tạo nền tảng cho ruộng lúa nớc ra đời ở nớc ta.
Ngoài ra, nớc ta có điều kiện và sinh thái khá phong phú và đa dạng. Với
sự hình thành 7 vùng sinh thái khác nhau mỗi vùng có đặc thù và thế mạnh riêng
trong phát triển sản xuất nông nghiệp. Với việc bố trí cây trồng, vật nuôi mà
thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta, đặc biệt có nhiều tiểu vùng sinh thái
khí hậu đặc thù cho phép phát triển một số cây đặc sản có giá trị xuất khẩu cao
mà ít nơi có đợc tạo cho nông sản Việt Nam có năng suất sinh học cao và có
những đặc trng về hơng vi - chất lợng tự nhiên đợc thế giới a thích, là những
lợi thế trong cạnh tranh về tính độc đáo của nông sản Việt Nam. Mà ở một số
vùng đã hội tụ đợc nhiều điều kiện thuận lợi cho việc bố trí vật nuôi cây trồng
có giá trị xuất khẩu lớn mang tính đặc sản có giá trị của nền nông nghiệp Việt
Nam nh: Vùng Tây Nguyên có cây cà phê, vùng Đông Nam Bộ phát triển mạnh
công nghiệp chế biến nông sản, vùng trung du miền núi phía Bắc là vùng có
tiềm năng kinh tế đa dạng cho phép bố trí cây trồng vật nuôi có hiệu quả nh cây
chè, chăn nuôi đại gia súc.
5.3 Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai vựa lúa
lớn của cả nớc.
Đồng bằng sông Hồng(ĐBSH) và đồng bằng sông Cửu Long(ĐBSCL) là
hai vựa lúa lớn nhất của cả nớc, đợc đánh giá vào loại phì nhiêu trên thế giới.
Đồng bằng sông Hồng là đồng bằng lớn có diện tích 1,5 triệu ha đợc bồi
đắp do hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, đây cũng là đồng bằng cổ màu
mỡ trên thế giới đợc bồi tụ hàng tỉ tấn đất mỗi năm, chỉ tính 1m3 nớc vào mùa
khô cũng chuyển 0,5 kg phù sa. ĐBSH có chứa hàm lợng đạm amôn, lân, nirat
và các nguyên tố vi lợng khác khá cao, độ PH đạt trị số 6 6.5 đợc xem nh
trung tính. Các điều kiện trên hoàn toàn phù hợp để chúng ta phát triển cây lúa
nớc theo hớng thâm canh cho năng suất cao, sản lợng tăng hàng năm đạt 4%, tạo
ra 1 triệu tấn thóc hàng hoá 1 năm. Ngoài ra, ĐBSH là đồng bằng cổ có lịch sử
khai thác hơn 4 triệu năm nên đát canh tác thuần thục lâu năm. Đến nay cùng
với ĐBSCL, ĐBSH đã khẳng định đợc vai trò quan trọng của mình trong sản
xuất lúa gạo đảm bảo an ninh lơng thực và xuất khẩu.
Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng lớn nhất nớc ta đợc hình thành
chủ yếu do phù sa hệ thống sông Mê Kông bồi tụ hàng năm. Đất phù sa sông
Cửu Long có rất nhiều tính trội, lợng đạm, lân, và các chất khác trong đất khá
cao: cứ 1 lít nớc ĐBSCL chứa 2.4 mg đạm, 0.6 mg lân. ĐBSCL là đồng bằng trẻ
đợc khai thác vào cuối thế kỷ 17. Giữa thế kỷ 19 diện tích lúa ở đây là 20 vạn
ha, đến nay đã mở rộng ra 4 triệu ha, đất đai bình quân trên đầu ngời khoảng 0.4
6
ha/ngời. Ngời dân ĐBSCL đã sớm tận dụng các điều kiện thuận lợi đó để phát
triển cây lúa theo hớng sản xuất hàng hoá lớn phục vụ xuất khẩu. Sản lợng lúa
ĐBSCL tăng 7% một năm và tạo ra từ 5.5 6.2 triệu tấn thóc hàng hoá chiếm
hơn 70% lợng gạo xuất khẩu của cả nớc hàng năm. Với kết quả đó ĐBSCL giữ
vị trí chiến lợc trong xuất khẩu lúa gạo nớc ta.
Nh vậy, với các đặc điểm lý, hoá, tính cả hai đồng bằng lớn nớc ta đều có
những u điểm nổi trội, hoàn toàn phù hợp với sự phát triển cây lúa nức cho năng
suất cao. Với độ màu mỡ và đặc điểm điểm thời tiết khí hậu mùa vụ cho phép
ĐBSH và ĐBSCL sản xuất lúa quanh năm (2 - 3 vụ/năm) trên diện rộng và thích
nghi với nhiều giống lúa cao sản, lúa đặc sản có năng suất cao. Có thể nói sản
xuất lúa của chúng ta không thua kém gì với Thái Lan mà còn đáp ứng đợc tính
đa dạng về chủng loại và phẩm cấp gạo cho thị hiếu tiêu dùng ngày càng đa
dạng hiện nay trên thế giới.
Với đặc điểm trên, sản xuất nông nghiệp đặc biệt là ngành trồng lúa nớc
dã có nhiều thuận lợi cơ bản, chứa đựng những tiềm năng về lợi thế cạnh tranh
của ngành nông sản trên thị trờng. Đó là: năng suất, chất lợng và chi phí sản
xuất thấp Nhờ lợi thế vốn có mà trong nhiều năm qua tuy xuất khẩu ở nớc ta
chỉ ở dạng nguyên liệu thô hoặc có sơ chế nhng vẫn có lãi. Song đó cũng chỉ là
tiền đề trong quá trình cạnh tranh, vấn đề phải biết phát huy tốt các lợi thế đó
để không ngừng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản xuất khẩu
đặc biệt là xuất khẩu gạo trong thời gian tới, bằng những giải pháp hữu hiệu về
khoa học công nghệ, chính sách, tạo sự biến đỏi thực sự trong chất lợng và năng
suất lao động xã hội. Với sự thay đổi mục tiêu chiến lợc của cạnh tranh chuyển
trọng tâm từ lợi thế so sánh dựa vào điều kiên tự nhiên, nguồn tài nguyên thiên
nhiên dồi dào và giá nhân công rẻ sang lợi thế cạnh tranh mạnh hơn dựa trên
tiềm lực khoa học với chi phí thấp cũng nh nhiều sản phẩm và quy trình độc đáo
hơn.
5.4. Nguồn lao động của Việt Nam dồi dào.
Hiện nay với 37 triệu ngời đang ở trong độ tuổi lao động ( chiếm 50 %
dân số ), hàng năm có khoảng 1 - 1,2 triệu ngời đến tuổi lao động. Lao động
Việt Nam hơn 60 % hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp với các u thế đặc trng
là cần cù, thông minh và có khả năng tiếp thu nhanh chóng khoa học công
nghệ Hơn nữa, giá nhân công lại rẻ và thấp hơn nhiều các nớc trong khu vực:
giá công lao động của Việt Nam chỉ bàng 1/3 của Thái Lan, bằng 1/30 của Đài
Loan, 1/26 của Singapo. Đây là lợi thế rất lớn cần khai thác có hiệu quả. Bên
cạnh đó còn không ít hạn chế về lao động của Việt nam nh: trình độ lao động
còn thấp, hầu hết cha qua đào tạo, ý thức tổ chức kỷ luật cha cao. Do đó chúng
ta cần phải không ngừng khắc phục những hạn chế đó để đáp ứng đợc yêu cầu
của phân công lao động quốc tế.
7
5.5 Đờng lối chính sách của Đảng và Nhà nớc.
Kể từ khi thực hiện đờng lối của Đảng ( từ đại hội VI 1981 ) đến nay
nền kinh tế Việt Nam đã đạt đợc những thành tu đáng kể, kinh tế nông nghiệp
không ngừng đợc phát triển, đời sống nông thôn từng bớc đợc nâng cao, nền
kinh tế xã hội trở nên năng động, linh hoạt, kinh tế đối ngoại đợc tăng cờng và
phát triển trên tất cả các lĩnh vực: hoạt động nhập khẩu, đầu t, hợp tác và tham
gia vào các tổ chức quốc tế. Chính sự ổn định về chính trị và đổi mới chính sách
đã tạo đà cho quá trình phát triển. Nh vậy, chính sách và môi trờng đợc xem nh
là một trong những lợi thế có vai trò quyết định tới quá trình phát triển của nền
kinh tế. Trong quá trình thực hiện luôn đợc bổ sung và hoàn thiện các chính
sách, tạo môi trờng kinh tế thuận lợi cho yêu cầu của sự nghiệp phát triển nền
kinh tế xã hội.
Uy tín và vai trò của Việt Nam trên thị trờng xuất khẩu nông sản, đặc biệt
là thị trờng lúa gạo trên thế giới không ngừng đợc tăng lên. Tuy còn yếu cả về
kinh nghiệm và bề dày trong việc tham gia vào thị trờng xuất khẩu nhng đã có
tốc độ phát triển nhanh thể hiện sự trởng thành, biểu hiện sản lợng và kim ngạch
xuất khẩu có vị trí cao trên thị trờng - xuất khẩu lúa gạo Việt Nam dã đứng
hàng thứ hai trên thế giới. Nh vậy Việt Nam có ảnh hởng đáng kể trên thị trờng
thế giới về mặt hàng gạo xuất khẩu với số lợng và chất lợng ngày càng tăng, vị
thế của Việt Nam ngày càng đợc củng cố trong kinh tế đối ngoại.
II. Xu hớng biến động của thị trờng gạo thế giới.
1. Cung:
Gạo là nhu yếu phẩm tối cần thiết cho nhu cầu hàng ngày của con ngời.
Do nhận thức đợc tầm quan trọng của lúa gạo mà ngày nay hầu hết các quốc gia
đều quan tâm đến lĩnh vực an ninh lơng thực, trong đó họ đặc biệt quan tâm đến
vấn đề cân đối cung - cầu tạo sự ổn định cho nhu cầu trong nớc. Hơn nữa, diễn
biến thuận tiện của thời tiết khí hậu trong vài năm gần đây làm lợng lúa gạo trao
đổi trên thị trờng ngày càng nhiều, rất nhiều quốc gia d thừa gạo đặc biệt là các
nớc đang phát triển. Trong vài thập niên vừa qua các nớc đang phát triển vẫn th-
ờng xuyên chiếm khoảng 80% lợng gạo xuất khẩu trên toàn thế giới, phần còn
lại các nớc phát triển chiếm 20%. Theo phạm vi châu lục thì Châu á trung bình
xuất khẩu lớn nhất chiếm 75%, thứ đến là Mỹ xuất khẩu khoảng 20%, cả 3 châu
Châu âu, châu Đại Dơng, Châu Phi chỉ chiếm 5% tổng xuất khẩu gạo thế giới.
Theo kinh tế học, độ co giãn của cung đối với giá cả thờng lớn hơn độ co
giãn của cầu. Khi giá tăng ngời ta có thể đầu t cho xuất khẩu gạo nhiều hơn nh
thông qua mở rộng diện tích canh tác, cải tiến giống, công nghệ chế biến Song
điều này diễn ra chậm chạp và cần có thời gian để điều chỉnh. Tổng cung gạo
8
biến động phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên nh thời tiết, thiên tai, bão lũ,
hạn hán,sâu bệnh
2.Cầu:
Khi giá tăng, ngời ta cũng có thể thay thế việc tiêu dùng gạo bằng các
loại lơng thực khác nh: lúa mỳ, ngô song sự thay đổi này bị hạn chế bởi thói
quen và tập quán tiêu dùng. Trong ngắn hạn tổng cầu về gạo (AS) là tơng đối ổn
định.
Trớc khi do thiếu lơng thực triền miên nhu cầu lơng thực của con ngời rất
đơn giản chỉ cần có gạo là đủ ăn. Trớc nhu cầu đó, việc sản xuất lúa gạo cũng
đơn giản, những loại giống lúa nào ngắn ngày cho năng suất cao đều đợc coi là
giống tốt và đợc áp dung rộng rãi. Đối với những giống lúa đặc trng truyền
thống mặc dù có hơng vị nhng năng suất thấp nên việc bảo tồn gần nh đợc coi
nhẹ. Cùng với văn minh xã hội hiện đại ngày nay thì nhu cầu của con ngời cũng
không ngừng tăng lên. Nhu cầu của con ngời không chỉ dừng lại ở mức đủ gạo
để ăn mà đòi hỏi những loại gạo có chất lơng cao - đặc sản, những loại gạo tự
nhiên. Sở dĩ có gạo tự nhiên bởi lẽ cùng với những thành tựu của KHCN là tác
hại của lợng hoá chất tồn đọng trong sản phẩm. Nhiều công trình khoa học
nghiên cứu đã phát hiện ra rằng: tiêu dùng những loại gạo còn lu lợng hoá chất
là vô cùng tác hại. Hơn nữa, những loại gạo còn thâm canh theo phơng thức cổ
truyền, tự nhiên bao giờ cũng có hơng vị đậm đà hơn các sản phẩm cùng loại mà
sử dụng quá nhiều hoá chất. Chính điều này đã dẫn đến một xu hớng có tính quy
luật về nhu cầu gạo hiện nay: Cầu về số lợng gạo chất lợng thấp có xu hớng
tăng chậm thậm chí giảm, còn cầu về gạo chất lợng cao vẫn không ngừng tăng
lên.
3.Giá:
Giá gạo trên thị trờng thế giới rất nhạy cảm. Sự dao động của nó phụ thuộc
vào sản lợng, tồn kho, dự trữ toàn cầu, tỷ lệ thay thế biên giữa gạo và các loại l-
ơng thực khác nh: lúa mỳ, ngô đặc biệt tình mùa vụ trong sản xuất và trao đổi.
Nhìn chung giá lúa gạo trên thế giới gần đây có xu hớng giảm xuống,
nguyên nhân của sự giảm giá này do nhu cầu gạo tơng đối ổn định trong khi
cung ngày càng có xu hớng tăng lên.
Đứng trớc xu hớng của thị trờng gạo thế giới, Việt Nam với cơng vị là một
nớc xuất khẩu. Biện pháp lâu dài đối với chúng ta trớc hết là nâng cao chất lơng
lúa gạo, tiếp đó là mở rộng thị trờng tiêu thụ.
9
III. một số nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh và
xuất khẩu lúa gạo Việt Nam.
1. Sự biến động của thị tr ờng.
Thị trờng là phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất và tiêu dùng, ở đâu có
sản xuất, lu thông hàng hoá thì ở đó có thị trờng. Để nắm vững các quy luật vận
động của thị trờng nhằm xử lý các tình huống trong kinh doanh nhất thiết chúng
ta phải nghiên cứu và hiểu biết thị trờng mà mình địng kinh doanh. Chúng ta
nghiên cứu tác đọng của thị trờng thế giới đến xuất khẩu gạo của Việt Nam hai
vấn đề:
Thứ nhất: dung lợng của mặt hàng gạo trên thị trờng Đó là khối lợng
hàng hoá đợc giao dịch trên phạm vi thị trờng nhất định. Chúng ta nghiên cứu
dung lợng thị trờng gạo để xác định nhu cầu thật của thị trờng gạo thế giới. Nh
chúng ta đã biết, gạo là sản phẩm thiết yếu rất cần thiết cho cuộc sống, nhng
nhu cầu nhập khẩu tăng lên cầu về gạo của mỗi cá nhân giảm xuống, song nhu
cầu của toàn xã hội vẫn tăng lên. Nguyên nhân là khi thu nhập tăng lên thì ngời
tiêu dùng gạo trực tiếp ít đi nhng ngời ta sẽ tiêu dùng những sản phẩm đợc chế
biến từ gạo tăng lên. Đồng thời nhu cầu gạo tăng lên do dân số tăng lên. Vì vậy
vhúng ta thực hiện chiến lợc xuất khẩu sản phẩm, ta phỉa lấy cơ sở xuất khẩu là
do nhu cầu khi có nhu cầu mới xuất hiện. Đánh giá tơng đối dung lợng thế giới
sẽ cho phép xác định nhu cầu và khả năng cung cấp gạo cho thị trờng.
Thứ hai: Sự biến động của giá gạo.
Giá gạo xuất khẩu gạo đợc coi là giá tổng hợp trong đó bao gồm: chi phí
sản xuất, bao bì, vận chuyển, thu mua, thuế xuất nhập khẩu Cũng nh các mặt
hàng khác, giá gạo biến động rất phức tạp bởi nó bị chi phối bởi nhiều yếu tố
nh: cung, cầu, cạnh tranh. Hơn nữa gạo là sản phẩm thiết yếu nên một sự biến
động nhỏ của cung hoặc cầu đều làm thay đổi giá.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây cầu về gạo tơng đối bão hoà, cung
về gạo ngày càng tăng dẫn đến giá gạo trên thị trờng thế giới rất thấp - ảnh h-
ởng lớn đến đời sống nông dân nhất là những vùng chuyên canh cây lúa. Để
khắc phục tình trạng này, Chính phủ cần quan tâm hơn nữa đến những biện pháp
hỗ trợ nông dân trồng lúa và những doanh nghiệp xuất khẩu gạo.
2. Thị hiếu ng ời tiêu dùng.
Tuỳ theo mức sống, tập quán, việc tiêu thụ gạo của các nớc, của các khu
vực trong những thời gian nhất định có những yêu cầu khác nhau thông thờng,
gạo đánh bóng và sát trắng đợc a chuộng hơn. Tuy vậy, có những vùng nông
thôn ngời ta lại a loại gạo sát không kỹ chứa nhiều Vitamin và này nay thế giới
thiên về gạo ngon hạt dài. Từ những khác nhau về thị hiếu đó, ta thấy rằng khi
thâm nhập vào một thị trờng nào đó trớc hết ta phải tìm hiểu thị hiếu của họ,
10
xem họ cần loại gạo nào từ đó cung ứng phù hợp, có nh vậy mới nâng cao hiệu
quả xuất khẩu gạo.
3.Chất l ợng gạo xuất khẩu.
Chất lợng gạo là một trong những yếu tố quyết định tới sự cạnh tranh trên
thị truờng, đồng thời nó cải thiện đợc hiệu quả xuất khẩu. Chất lợng gạo xuất
khẩu cần đợc hiểu một cách rộng hơn với ý nghĩa là một chỉ tiêu tổng hợp phản
ánh mức độ thoả mãn nhu cầu gạo xuất khẩu về quy cách, phẩm chất, kiểu dáng,
sở thích, tập quán tiêu dùng. Chất lợng gạo không phụ thuộc vào nhiều yếu tố
trong đó giống, kỹ thuật canh tác và bảo quản chế biến là những nhân tố ảnh h-
ởng trực tiếp tới chất lợng gạo.
3.1 Giống:
Đây là nhân tố quan trọng ảnh hởng đến chất lợng gạo, bởi lẽ giống tốt
bản thân nó đã đảm bảo các chỉ tiêu:
Khả năng chống chọi với điều kiện tự nhiên.
Cho phép sinh trởng và phát triển mạnh.
Tạo ra sản phẩm mới có năng suất chất lợng cao, mẫu mã đẹp.
Có khả năng hạn chế các loại sâu bệnh.
Để có thể tạo ra chất lợng tốt thì Đảng và Nhà nớc và Bộ Nông Nghiệp và
Phát triển Nông thôn cần có sự đầu t thích đáng vào lĩnh vực nghiên cứu giống
cây trồng, lĩnh vực công nghệ gen, bên cạnh đó cần tranh thủ trình độ khoa học
tiên tiến của các nớc trên thế giới nh vấn đề chuyển giao công nghệ, vấn đề
nghiên cứu ứng dụng
3.2. Kỹ thuật canh tác:
Là tổng hợp các biện pháp bao gồm các khâu: gieo cấy, chăm sóc và
phòng trừ sâu bệnh. Đây là nhân tố ảnh hởng mạnh mẽ đến quá trình sinh trởng
và phát triển cây lúa, việc thực hiện đúng quy trình kỹ thuạt là việc vô cùng
quan trọng tạo ra loại gạo có chất lợng cao.
3.3 Công nghệ sau thu hoạch:
Đây là khâu cuối cùng ảnh hởng đến chất lợng lúa gạo bao gồm: phơi sấy,
xay xát, bao gói và kỹ thuật bảo quản. Mỗi một công đoạn thực hiện là một lần
làm thay đổi chất lợng hạt gạo. Sự thay đổi này là tăng lên khi công đoạn đó đợc
thực hiện đúng quy trình và sự thay đổi đó là giảm đi khi không đúng quy trình
kỹ thuật. Xét một cách cụ thể hơn:
Với khâu phơi sấy:
11
Đây là công đoạn làm giảm độ ẩm của lúa gạo khi mới gặt về. Độ ẩm
đảm bảo của hạt thóc là 14% thì khi cho vào kho bảo quản loại thóc này thờng
dễ bị nảy mầm điều này cũng đồng nghĩa với hạt gạo làm ra dễ biến màng và
bạc bụng không đảm bảo tiêu chuẩn cho xuất khẩu gạo. Hơn nữa, bản thân quá
trình sấy khô lúa gạo nếu không đúng quy trình tức là cho vào máy sấy một khối
lợng lúa gạo quá lớn hoặc một lợng nhiệt quá cao sẽ dẫn đến việc tạo ra một l-
ợng lúa gạo có độ ẩm không đồng đều và gạo sẽ nhiều hạt vỡ.
Với kho bảo quản:
Bất kể quốc gia nào có lúa gạo thì đều có kho bảo quản. Kho bảo quản là
một hệ thống các kho từ kho bảo quản ở các chợ thu mua, kho bảo quản tập
trung ở nơi xay xát và kho bảo quản ở các cảng giao hàng. Việc xây dựng các
kho một cách hiện đại đảm bảo là yêu cầu cần thiết đặt ra với mọi quốc gia xuất
khẩu lúa gạo.
Với chế biến:
Kỹ thuật xay sát đợc đánh giá theo chất lợng hạt gạo nguyên. Tuy nhiên,
lợng gạo nguyên cao hay thấp còn phụ thuộc kỹ thuật xay xát và giống lúa. Thị
hiếu tiêu dùng quyết định tới cách chế biến nh thế nào. Có nớc a gạo sát trắng,
không còn phôi và lớp cám ngoài cùng. Có nhiều nớc a gạo hấp chứa nhiều
Vitamin và có giá trị dinh dỡng cao. Việc chế biến sao cho phù hợp thị hiếu ngời
tiêu dùng cũng đồng nghĩa với chất lợng gạo đợc nâng lên để đáp ứng yêu cầu
của ngời tiêu dùng.
4. Cơ chế chính sách của Nhà n ớc đối với việc xuất khẩu gạo.
Cơ chế quản lý, chính sách kinh tế và quan hệ đối ngoại là yếu tố rất nhạy
cảm, tác động trực tiếp đến nền kinh tế nói chung và xuất khẩu nói riêng.
Sự tác động của cơ chế chính sách đến xuất khẩu gạo theo hai hớng: kìm
hãm xuất khẩu nếu chính sách đó không phù hợp và thúc đảy mạnh mẽ xuát
khẩu đạt hiệu quả cao nếu chính sách đó phù hợp.
Đối với xuất khảu gạo, chính sách tác động mạnh mẽ nhất là:
Chính sách đầu t.
Chính sách vốn tín dụng.
Chính sách bảo hiểm và trợ giá.
Hơn nữa, xuất khẩu gạo là hoạt động buôn bán vợt ra ngoài phạm vi một
quốc gia thông qua mối quan hệ thơng mại có tổ chức từ bên trong ra bên ngoài
nhằm thu đợc lợi ích ngoại vi lớn hơn. Vì vậy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại
có ảnh hởng mạnh mẽ đến xuất khẩu gạo. Đối với một nớc các cơ quan kinh tế
đối ngoại cởi mở cho phép tìm kiếm đợc nhiều bạn hàng để xuất khẩu. Sự biến
động các ngoại tệ mạnh tạo ra sự thay đổi tỷ giá hối đoái cũng là nhân tố ảnh h-
ởng trực tiếp đến xuất khẩu gạo. Đặc biệt đối với Việt Nam đến năm 2003, Hiệp
định Thơng mại tự do giữa các nớc Đông Nam á có hiệu lực, hàng rào thuế
12
quan đợc xoá bỏ. Đây không chỉ là nhân tố ảnh hởng đơn thuần mà là thách thức
lớn cho xuất khẩu gạo của nớc ta.
Trớc thực tế đó, yêu cầu đặt ra cho chính phủ Việt Nam hiện nay là cần
có một chính sách hợp lý trong điều hành xuất khẩu gạo, cũng nh các doanh
nghiệp xuất khẩu, có thể giảm thuế quan, trợ cấp vận chuyển, cho vay u đãi để
thu mua thóc của nông dân, đồng thời khi giá giảm có thể giúp họ bằng quỹ
bình ổn Quy định mức giá trần, giá sàn để đảm bảo lợi ích cho ngời sản xuất
và tiêu dùng. Nhà nớc cần xác định tỉ giá hối đoái hợp lý để tạo ra sức cạnh
tranh cho xuất khẩu gạo. Vì tỷ giá hối đoái là đòn bẩy để điều tiết cung cầu, tỷ
giá hối đoái thấp sẽ cho tác dụng khuyến khích nhập khẩu nhng tỷ giá hối đoái
cao sẽ bất lợi cho nhập khẩu nhng nó lại khuyến khích xuẩt khẩu vì khi đó hàng
xuất khẩu sẽ có giá tơng đối thấp.
Trớc xu thế vận động và phát triển không ngừng của xã hội, KHCN ngày
càng hiện đại cùng với đó là nhu cầu tiêu dùng của con ngời ngày càng đợc nâng
cao, ngành lúa gạo cũng phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu đó. Vì vậy, một chính
sách cho ngành lúa gạo khi đa ra không chỉ đúng, phù hợp mà còn kịp thời nữa.
CHƯƠNG II
THựC TRạNG XUấT KHẩU GạO VIệT NAM
I. Khái quát thị trờng gạo thế giới.
Thị trờng là một phạm trù kinh tế gắn liền với sự ra đời phát triển sản
xuất và trao đổi hàng hoá, cũng nh các thị trờng khác thị trờng gạo là tập hợp
thoả thuận giữa ngời mua và ngời bán. Tuy nhiên gạo là sản phẩm tiêu dùng tất
yếu và là sản phẩm của ngành nông nghiệp nên có những đặc điểm sau:
13
Thứ nhất: Thị trờng gạo có tính thời vụ trong trao đổi vì sản xuất nông
nghiệp mang tính thời vụ tính thời vụ quy định bởi đặc điểm khí hậu sinh thái
kết hợp với đặc điểm kỹ thuật cây rồng.
Thứ hai: Chủ yếu là buôn bán gạo giữa các chính phủ.
Thứ ba: Chủ thể xuất khẩu gạo và nhập khẩu gạo không ổn định.
Thứ t: Các nớc lớn đóng vai trò chi phối thị trờng gạo thế giới.
Thứ năm: Thị trờng chủng loại gạo phong phú và có sự khác biệt về thị
hiếu tiêu dùng của mỗi nớc nhập khẩu.
Có thể nói thị trờng lúa gạo là rộng khắp, hầu hết các khu vực trên thế
giới đều nhập khẩu gạo, đặc biệt là các nớc đang phát triển nhập trên 50% sản l-
ợng gạo giao dịch trên thị trờng thế giới.
Đặc điểm thị trờng gạo thế giới
Về mặt cung: Gạo thơng mại thế giới hàng năm ở mức 21 - 23 triệu tấn.
Trong đó, Thái Lan và Việt Nam đảm bảo 50% thị phần gạo thế giới; Thái Lan
khoảng 7 triệu tấn, Việt Nam 4 triệu tấn. Ngoài ra các nớc khác nh Mỹ: 2,5 triệu
tấn, Pakistan: 2 triệu tấn, Trung Quốc: 2 triệu tấn, ấn Độ: 1,6 triệu tấn. Từ năm
1996 trở lại đây, khối lợng gạo xuất khẩu thế giới có xu hớng ổn định. ấn Độ có
tốc độ tăng nhanh nhất và dự đoán sẽ tiếp tục tăng trong 10 năm tới.
Về mặt cầu: Châu á là khu vực nhập khẩu lớn nhất, chiếm khoảng 60%
tổng lợng nhập toàn cầu. Các nớc nhập khẩu chủ yếu là Indõeia, Bangladéh,
Malãyia, Philipines, Ian, Irăc, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc. Châu Phi
chiếm 21% tổng lợng nhập toàn cầu, là thị trờng dễ tính cho gạo phẩm cấp trung
bình và thấp, tuy nhiên hiện tại khả năng thanh toán còn nhiều hạn chế. Các khu
vực khá gồm: Châu âu, Châu Mỹ Latinh, Bắc Mỹ và Châu úc nhu cầu không
lớn nhng đợc giá cao và khả năng thanh toán tốt, yêu cầu phẩm chất cao, tiêu
chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm chặt chẽ.
Xuất khẩu gạo của 7 nớc hàng đầu thế giới
Tên nớc
1991
(1.000 tấn)
1995
(1.000 tấn)
2001
(1.000 tấn)
Tốc độ tăng bình
quân hàng năm
1991-2001(%)
Thái Lan (1) 1.515 6.298 7.500 17
Việt Nam (2) 1.050 2.308 3.550 13
Trung Quốc(3) 1.030 235 1.800 6
ấn Độ (4) 580 551 1.500 10
Hoa Kỳ (5) 2.230 2.528 2.700 2
Pakítan(6) 1.512 1.852 2.300 4
Myanma(7) 199 392 500 10
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét