LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng đầu tư và phát triển hà thành": http://123doc.vn/document/1052550-giai-phap-nang-cao-chat-luong-tin-dung-trung-va-dai-han-tai-ngan-hang-dau-tu-va-phat-trien-ha-thanh.htm
thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết đã thoả thuận với bên yêu cầu bảo
lãnh, được quy định cụ thể tại Thư bảo lãnh của ngân hàng. Trong nền kinh
tế thị trường đất nước chúng ta mở cửa giao lưu buôn bán với bên ngoài
diễn ra hết sức nhộn nhịp, chính vì vậy mà nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân
hàng sẽ rất phát triển trong thời gian tới.
2.2.4. Nghi p v thanh toán.ệ ụ
Dịch vụ ngân hàng càng được mở rộng và phát triển, vì vậy các
nghiệp vụ thanh toán qua ngân hàng ngày càng được khách hàng lựa chọn
và quan tâm. Ban đầu là thanh toán bằng tiền mặt với hình thức này bộc lộ
rất nhiều những hạn chế như phải vận chuyển, kiểm điểm. Nhưng đến nay
ngày càng nhiều các ngân hàng đã đưa công nghệ hiện đại vào ứng dụng
trong thanh toán nên đã ra đời thanh toán không dùng tiền mặt, như thanh
toán bằng điện tử, thanh toán bằng chuyển khoản, thanh toán bằng séc…
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn và độ chính xác ngày càng cao.
2.2.5. Các nghi p v khác.ệ ụ
Ngoài các nghiệp vụ mà chúng ta đã biết ở trên thì hiện nay các ngân
hàng Thương mại đang thực hiện rất nhiều các nghiệp vụ khác.
Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá, thực hiện các nghiệp
vụ mua bán, chuyển đổi ngoại tệ, cho thuê tài chính…
3. Vai trò c a ngân h ng Th ng m i trong n n kinh t thủ à ươ ạ ề ế ị
tr ng.ườ
Khác với các doanh nghiệp khác, ngân hàng Thương mại không trực
tiếp tham gia sản xuất và lưu thông hàng hoá nhưng nó góp phần phát triển
nền kinh tế xã hội thông qua việc cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế,
thực hiện chức năng trung gian thanh toán và dịch vụ ngân hàng.
Thông qua các ngân hàng Thương mại, ngân hàng nhà nước thực
hiện sự quản lý về tầm vĩ mô như làm ổn định nền kinh tế đầu nước hoặc
lưu thông và phát hành các loại tiền mới… Bên cạnh đó ngân hàng Thương
Lê Xuân Diễn Ngân hàng 44A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
mại còn có chức năng thúc đẩy nền kinh tế phát triển như huy động tiền
nhàn dỗi trong dân cư và các tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu của những nơi
cần vốn để sản xuất kinh doanh và các cá nhân, tổ chức có thể sử dụng
những dịch vụ hiện đại của ngân hàng để thực hiện làm ăn buôn bán một
cách nhanh nhất và chính xác nhất. Từ đây chúng ta có thể thấy vai trò hết
sức quan trọng của ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế.
II. TÍN DỤNG VÀ TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI.
1. Khái niệm về tín dụng.
Tín dụng là một quan hệ kinh tế trong đó các chủ thể kinh tế chuyển
nhượng cho nhau quyền sử dụng về một lượng giá trị hoặc hiện vật với các
điều kiện hai bên cùng thoả thuận. Trong nền kinh tế thị trường hoạt động
tín dụng rất đa dạng và phong phú, để quản lý các khoản tín dụng người ta
phân loại tín dụng theo nhiều cách khác nhau. Có một tiêu thức rất quan
trọng để phân loại tiêu thức tín dụng đó là phân loại dựa vào thời gian tín
dụng. Dựa vào tiêu thức này, tín dụng được chia làm 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn : Có thời hạn đến 12 tháng.
- Tín dụng trung hạn : Có thời hạn 1 năm trở lên.
- Tín dụng dài hạn : Có thời hạn 5 năm trở lên.
2. Tín dụng trung dài hạn của ngân hàng Thương mại.
2.1. Khái niệm tín dụng trung dài hạn.
Tín dụng trung dài hạn là một bộ phận của tín dụng ngân hàng được
phân theo thời hạn, thời gian dài từ 1 năm trở lên. Tín dụng trung dài hạn
được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến thay đổi
thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các nhà máy có
quy mô vừa và lớn.
Lê Xuân Diễn Ngân hàng 44A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
2.2. Các hình thức tín dụng trung dài hạn.
Hiện nay tín dụng trung và dài hạn không chỉ đơn thuần là cấp phát vốn
vay với thời hạn trên một năm mà nó còn rất nhiều các hình thức khác nhau
như:
- Tín dụng tuần hoàn: là phương pháp cho vay dựa theo chu kỳ sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Nó được coi là tín dụng trung dài
hạn khi thời hạn của hợp đồng được kéo dài từ một năm trở lên và người
vay hết tiền khi cần và trả nợ khi có nguồn trong thời gian hợp đồng còn
hiệu lực. Tín dụng tuần hoàn có thể được chuyển thành tín dụng trung và
dài hạn theo hợp động đã ký kết nều người vay cần thiết vì tình trạng tài
chính không sẵn sàng để thực hiện tín dụng tuần hoàn.
- Tín dụng thuê mua: đây là loại hình tín dụng mới xuất hiện ở Việt
Nam trong thời gian qua, là hình thức cho vay trung và dài hạn bằng tài sản
thông qua hợp đồng tín dụng thuê mua. Sau một thời gian thuê nhất định
tùy theo thoả thuận của hợp đồng, người đi thuê có thể mua lại tài sản đó.
- Cho vay theo dự án: là phương pháp cho vay dựa trên một văn bản
hoàn chỉnh về vay vốn và trả nợ, được nghiên cứu soạn thảo xét duyệt, ký
kết giữa người đi vay và ngân hàng, đồng thời dựa trên những căn cứ khoa
học kỹ thuật phù hợp với đường lối kinh tế nhà nước.
- Cho vay theo kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của doanh nghiệp:
là loại cho vay được thực hiện theo phương pháp cho vay thông thường dựa
trên cơ sở nhu cầu vốn vay của công trình, hạng mục công trình được xác
định trong kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của mỗi doanh nghiệp.
2.3. Đặc điểm của tín dụng trung dài hạn.
2.3.1. Rủi ro tín dụng.
Tín dụng trung dài hạn thường có thời gian dài nên nó không những
chịu phụ thuộc vào kết quả dự án mà còn phụ thuộc vào tình trạng kinh tế
đất nước. Một nền kinh tế không thể ổn định và phát triển trong một thời
Lê Xuân Diễn Ngân hàng 44A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
gian dài mà nó có chu kỳ của nó. Trong nền kinh tế mở, xu hướng toàn cầu
hoá như hiện nay nó còn bị ảnh hưởng rất lớn của nền kinh tế khu vực và
thế giới. Khi nền kinh tế bị biến động đi kèm với nó là biến động về lãi
suất, tỷ giá, lạm phát… Tất cả những nhân tố này đều ảnh hưởng đến kết
quả của khoản tín dụng. Mặt khác, giá trị của khoản tín dụng thường rất lớn
do đó nó còn chịu rủi ro đạo đức của người vay.
2.3.2. Điều kiện để được vay vốn.
Điều kiện cho vay là những yêu cầu của ngân hàng đối với bên vay
để làm căn cứ xem xét, quyết định thiết lập quan hệ tín dụng. Nội dung của
điều kiện cho vay cũng làm cơ sở cho xử lý các tình huống phát sinh trong
quá trình sử dụng tiền vay. Các khách hàng muốn được vay vốn ngân hàng
phải có các điều kiện cơ bản sau đây:
- Điều kiện về tư cách pháp lý: Khách hàng là pháp nhân phải có
năng lực pháp luật dân sự. Khách hàng là tư nhân phải có năng lực pháp
luật và năng lực hành vi dân sự, chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của
pháp luật.
- Mục đích sử dụng vay vốn hợp pháp.
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết.
- Có dự án đầu tư, có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi
và có hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật.
- Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính
phủ.
Do đặc điểm của cho vay trung dài hạn là thời gian vay vốn dài. Vì
vậy, yêu cầu đầu tiên đối với tài sản thế chấp là tuổi thọ của tài sản phải lớn
hơn thời gian vay vốn. Tài sản thế chấp phải có khả năng chuyển nhượng
mua bán được dễ dàng. Số tiền cho vay tối đa chỉ bằng 70% giá trị tài sản.
Lê Xuân Diễn Ngân hàng 44A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
2.3.3. Lãi suất cho vay.
Lãi suất cho vay biểu hiện giá cả khoản tiền mà người cho vay đòi
hỏi khi tạm thời trao quyền sử dụng khoản tiền của mình cho người khác.
Người đi vay coi lãi suất ngân hàng là chi phí phải trả cho ngân hàng vì
nhu cầu sử dụng vốn của mình. Vì vậy bản thân lãi suất chứa đựng những
mâu thuẫn: người cho vay muốn có lãi suất cao để tăng thu nhập, còn người
đi vay muốn có lãi suất thấp để giảm chi phí. Do đó, lãi suất được xác định
dựa trên cung cầu về vốn. Bên cạnh đó, lãi suất còn phụ thuộc mức độ rủi
ro, số lượng, thời hạn và tình hình kinh tế.
Do đặc điểm của những khoản cho vay trung và dài hạn có thời gian
cho vay dài, khoản vay lớn nên nó chứa đựng nhiều rủi ro lớn hơn các
khoản cho vay ngắn hạn. Vì thế lãi suất của những khoản cho vay trung dài
hạn thường lớn hơn lãi suất cho vay ngắn hạn. Để giảm rủi ro về thay đổi
lãi suất cho cả ngân hàng và khách hàng thì lãi suất của khoản vay trung
dài hạn thường được thả nổi.
2.3.4. Hạn mức tín dụng.
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời
hạn nhất định mà ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng.
Phương pháp cho vay hạn mức tín dụng được áp dụng đối với những
khách hàng có tình hình sản xuất kinh doanh ổn định, vay trả nợ thường
xuyên có tín nhiệm với ngân hàng.
Theo quy định trong pháp lệnh ngân hàng, ngân hàng Thương mại
không được phép cho vay đối với một khách hàng vượt quá 15% vốn tự có,
trừ những khoản cho vay từ các nguồn vốn uỷ thác của Chính phủ, các tổ
chức và các cá nhân, hoặc trường hợp vay là của các tổ chức tín dụng khác,
trường hợp đặc biệt, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn có thể
quy định tổng dư nợ cho vay tối đa với một khách hàng vượt quá mức quy
định trong một thời gian nhất định.
Lê Xuân Diễn Ngân hàng 44A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
2.4. Vai trò của tín dụng trung dài hạn trong sự nghiệp phát triển kinh
tế, xã hội.
2.4.1. Tín dụng trung dài hạn góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát
triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hoá.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì sự hoạt động liên tục
đòi hỏi vốn của các doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại ở cả ba giai đoạn:
dự trữ, sản xuất, lưu thông. Nhưng ở một giai đoạn nào đó lại phát sinh
hiện tượng thừa hoặc thiếu vốn tạm thời. Điều này khiến các doanh nghiệp
gặp khó khăn trong việc sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó các doanh
nghiệp muốn phát triển thì phải mở rộng sản xuất kinh doanh, điều này dẫn
đến nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp mà bản thân vốn tự có không thể đáp
ứng nổi mà các doanh nghiệp phải biết tận dụng những dòng chảy của vốn
trong xã hội. Nhu cầu này của các doanh nghiệp đã được các ngân hàng đáp
ứng bằng cách ngân hàng đã tập trung được tiền nhàn rỗi để đáp ứng cho nhu
cầu cần thiết cho các doanh nghiệp, nhằm đẩy sản xuất kinh doanh trong nền
kinh tế phát triển.
Nước ta đang trong thời kỳ tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước rất cần vốn để đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ
thuật, đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ, máy móc, chuyển dịch nền
kinh tế, phát triển sản xuất trong nước cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Để thực
hiện được điều đó thì chúng ta không thể thiếu được vốn trung và dài hạn
trong nền kinh tế.
2.4.2. Tín dụng trung và dài hạn với nhiệm vụ ổn định tiền tệ, ổn định giá
cả.
Với chức năng tập trung, tận dụng những nguồn vốn nhàn rỗi trong
xã hội, tín dụng ngân hàng đã trực tiếp làm giảm khối lượng tiền mặt tồn tại
trong lưu thông. Lượng tiền mặt dư thừa này không được huy động và sử
Lê Xuân Diễn Ngân hàng 44A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
dụng một cách kịp thời thì có thể gây ảnh hưởng đến tình trạng lưu thông
tiền tệ, dẫn đến mất cân đối trong quan hệ Tiền - Hàng, điều đó làm cho hệ
thống giá cả bị biến động. Do vậy, trong nền kinh tế lạm phát thì tín dụng
ngân hàng được xem như một trong những biện pháp góp phần làm giảm
lạm phát.
Mặt khác, tín dụng ngân hàng còn tạo điều kiện mở rộng các phương
pháp thanh toán không dùng tiền mặt. Do đó, tín dụng ngân hàng cũng là
một trong những nhân tố tích cực làm giảm khối lượng tiền mặt sử dụng
trong nền kinh tế, giúp cho ngân hàng nhà nước dễ dàng quản lý và điều
hoà lưu thông tiền tệ.
Trong những năm gần đây, ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát
triển, trong công tác quản lý vĩ mô của ngân hàng nhà nước nhằm thực hiện
các mục tiêu trong từng thời kỳ thì lãi suất tín dụng đã trở thành một trong
những công cụ điều tiết, nhạy bén và linh hoạt trong việc bơm, hút tiền
trong lưu thông, giúp cho sự tăng trưởng của nền kinh tế với khối lượng
tiền tệ được phù hợp.
Như vậy, chúng ta có thể thấy tín dụng đã góp phần rất lớn trong
việc ổn định tiền tệ, tạo điều kiện ổn định giá cả từ đó sẽ có một thị trường
ổn định, nó là tiền đề để thu hút đầu tư trong nước và ngoài nước và giúp
cho sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển được ổn định.
3. Chất lượng tín dụng trung dài hạn.
3.1. Quan điểm về chất lượng tín dụng.
Chúng ta đều biết rằng hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại
nhiều thu nhập nhất cho ngân hàng, nhưng đồng thời nó cũng là hoạt động
có nhiều rủi ro nhất, đặc biệt là tín dụng trung dài hạn. Do vậy các ngân
hàng luôn tìm cách nâng cao chất lượng tín dụng. Chất lượng tín dụng được
hiểu là sự đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng phù hợp với sự phát triển
kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Hiệu quả
Lê Xuân Diễn Ngân hàng 44A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
của tín dụng không chỉ được xem xét trên góc độ của ngân hàng, của doanh
nghiệp mà còn được xem xét trên góc độ nền kinh tế xã hội.
- Chất lượng tín dụng xét từ góc độ ngân hàng Thương mại: Chất
lượng tín dụng thể hiện ở phạm vị, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp
với khả năng, thực hiện theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng và
phải đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoàn
trả đúng hạn và có lãi. Chất lượng hoạt động tín dụng phải thể hiện chỉ tiêu
lợi nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn
bảo đảm đúng quy định và hợp lý. đảm bảo cơ cấu nguồn vốn trong nền
kinh tế.
- Chất lượng hoạt động tín dụng xét từ góc độ khách hàng: Sự am
hiểu về khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng hiểu được nhu cầu tín dụng của
khách hàng, đảm bảo thoả mãn nhu cầu kịp hợp lý về vốn cho khách hàng.
Trong điều kiện cạnh tranh thì chất lượng tín dụng là hết sức quan trọng
với ngân hàng. Vì vậy chất lượng tín dụng là đáp ứng được nhu cầu hợp lý
của khách hàng, lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản, thu hút được khách hàng,
nhưng vẫn phải đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định, đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của ngân hàng.
- Chất lượng hoạt động tín dụng xét từ góc độ nền kinh tế: Hoạt
động tín dụng của các ngân hàng trong những năm gần đây thể hiện rõ nét
sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới. Tín dụng phục
vụ sản xuất kinh doanh ngày càng lớn mạnh tạo được nhiều việc làm cho
người lao động, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, góp phần tăng trưởng kinh
tế.
3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn.
- Chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn: Chỉ tiêu này biểu hiện qua
nợ quá hạn, là khoản nợ mà thời gian tồn tại của nó vượt quá thời hạn cho
vay theo thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng cộng với thời gian đã
được gia hạn thêm nếu khách hàng yêu cầu và được ngân hàng chấp thuận.
Lê Xuân Diễn Ngân hàng 44A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Thông thường đây được coi là những khoản vay có vấn đề, là những khoản
vay đã quá hạn ít nhất là 90 ngày. Nợ qúa hạn là chỉ tiêu quan trọng và phổ
biến nhất khi đánh giá hiệu quả tín dụng đối với ngân hàng. Tuy nhiên, khi
đánh giá nợ quá hạn cần nghiên cứu chi tiết hơn thông qua việc phân loại
nợ quá hạn. Có hai loại nợ quá hạn.
- Nợ qúa hạn có khả năng thu hồi, là những khoản nợ mà người vay
vẫn có thể trả nợ được ngân hàng. Lý do của khoản nợ bị chậm này có thể
là chủ quan hoặc khách quan.
- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi: là các khoản nợ mà người
vay không có khả năng trả nợ ngân hàng, có thể là hành vi lừa đảo, hoặc
làm ăn thua lỗ, phá sản dẫn đến khách hàng không còn khả năng trả nợ
ngân hàng.
Các chỉ tiêu đánh giá:
Tỷ lệ nợ trung dài hạn quá hạn =
Dư nợ trung dài hạn quá hạn
Tổng dư nợ trung dài hạn
Ngoài ra, để đánh giá chi tiết hơn, các ngân hàng còn phân loại nợ
qúa hạn theo phần trăng khả năng thu hồi (80%, 70%…).
Việc phân loại này được căn cứ vào: Thời gian qúa hạn của khoản
nợ, tình hình sản xuất kinh doanh, hành vi thái độ của người trả nợ.
- Chỉ tiêu đánh giá thu nhập:
Chỉ tiêu lợi nhuận =
Lợi nhuận tín dụng trung dài hạn
Dư nợ tín dụng trung dài hạn bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi nhuận của tín dụng trung và
dài hạn. Một khoản tín dụng dù ngắn hạn hay dài hạn không thể được xem
là có chất lượng cao nếu không đem lại lợi nhuận thực tế cho ngân hàng.
Tuy nhiên, đối với nhiều ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng Thương mại
quốc doanh thì lợi nhuận nhiều khi không phải là mục tiêu quan trọng nhất,
mà mục tiêu quan trọng là thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước
là điều quan trọng hơn. Nói như vậy không có nghĩa là ngân hàng không
Lê Xuân Diễn Ngân hàng 44A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
quan tâm đến lợi nhuận. Vì sự tồn tại và phát triển của chính ngân hàng thì
họ không thể cho vay các món vay có lợi nhuận bằng không hoặc âm.
- Tốc độ chu chuyển vốn:
Vòng quay của vốn tín dụng
trung dài hạn
=
Doanh số thu nợ tín dụng trung
dài hạn
Dư nợ tín dụng trung dài hạn
bình quân
- Tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung - dài hạn:
Chỉ tiêu này cho ta biết ngân hàng thu nợ theo kế hoặc trong hợp
đồng tín dụng bao nhiêu để có thể tiếp tục cho vay dự án mới. Vòng quay
càng lớn tức tỷ lệ trên sẽ càng lớn, chứng tỏ vốn ngân hàng càng quay được
nhiều vòng và thể hiện khả năng kinh doanh của khách hàng là tốt, điều
này có lợi cho khách hàng và ngân hàng.
3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung dài hạn.
3.3.1. Nhân tố từ phía ngân hàng.
- Thông tin tín dụng: Thông tin ngày càng trở nên cần thiết, nhất là
trong lĩnh vực kinh tế. Ai là người nắm giữ thông tin và xử lý thông tin tốt,
người đó có nhiều cơ hội để chiến thắng. Thông tin tín dụng là yếu tố cơ
bản trong quản lý tín dụng. Nhờ có thông tin tín dụng ngân hàng có cơ sở
để đánh giá năng lực và uy tín của khách hàng. Thông tin tín dụng càng
nhanh càng chính xác và toàn diện thì khả năng phòng chống rủi ro trong
cho vay càng tốt. Hiện nay pháp lệnh về tài chính và kế toán thống kê chưa
đủ chặt chẽ, chính xác và kịp thời về tình hình tài chính. Chính vì vậy nếu
thông tin không được đầy đủ và chính xác sẽ dẫn đến rủi ro cao cho các
khoản vay. Các ngân hàng thường thu thập thông tin từ các nguồn sau: Từ
Trung tâm Thông tin Tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, từ Phòng Thông
tin Tín dụng của các Ngân hàng khác, và từ các phương tiện truyền tin (báo
chí, đài truyền hình, truyền thanh…) và phỏng vấn trực tiếp người vay.
Lê Xuân Diễn Ngân hàng 44A
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét