Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

những giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (oda) tại việt nam giai đoạn 2001-2005


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "những giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (oda) tại việt nam giai đoạn 2001-2005": http://123doc.vn/document/1055443-nhung-giai-phap-nham-day-nhanh-tien-do-giai-ngan-nguon-von-ho-tro-phat-trien-chinh-thuc-oda-tai-viet-nam-giai-doan-2001-2005.htm


Chuyên đề tốt nghiệp
2.1-Phân loại theo tính chất
-ODA không hoàn lại : Đây là nguồn vốn ODA mà nhà tài trợ cấp cho
các nớc nghèo không đòi hỏi phải trả lại. Cũng có một số nớc khác đợc nhận
loại ODA này khi gặp phải các vấn đề nghiêm trọng nh thiên tai, dịch bệnh
Đối với các nớc đang phát triển, nguồn vốn này thờng đợc cấp dới dạng các
dự án hỗ trợ kỹ thuật, các chơng trình xã hội hoặc hỗ trợ cho công tác chuẩn bị
dự án. ODA không hoàn lại thờng là các khoản tiền nhng cũng có khi là hàng
hoá, ví dụ nh lơng thực, thuốc men hay một số đồ dùng thiết yếu.
ODA không hoàn lại thờng u tiên và cung cấp thờng xuyên cho lĩnh vực
giáo dục, y tế. Các nớc Châu Âu hiện nay dành một phần khá lớn ODA không
hoàn lại cho vấn đề bảo vệ môi trờng, đặc biệt là bảo vệ rừng và các loài thú
quý.
-ODA vốn vay u đãi : đây là khoản tài chính mà chính phủ nớc nhận phải
trả nớc cho vay, chỉ có điều đây là khoản vay u đãi. Tính u đãi của nó đợc thể
hiện ở mức lãi suất thấp hơn lãi suất thơng mại vào thời điểm cho vay, thời
gian vay kéo dài, có thể có thời gian ân hạn. Trong thời gian ân hạn, nhà tài trợ
không tính lãi hoặc nớc đi vay đợc tính một mức lãi suất đặc biệt. Loại ODA
này thờng đợc nớc tiếp nhận đầu t vào các dự án cơ sở hạ tầng xã hội nh xây
dựng đờng xá, cầu cảng, nhà máy Muốn đợc nhà tài trợ đồng ý cung cấp, nớc
sở tại phải đệ trình các văn bản dự án lên các cơ quan có thẩm quyền của
chính phủ nớc tài trợ. Sau khi xem xét khả thi và tính hiệu quả của dự án, cơ
quan này sẽ đệ trình lên chính phủ để phê duyệt. Loại ODA này chiếm phần
lớn khối lợng ODA trên thế giới hiện nay.
-Hình thức hỗn hợp : ODA theo hình thức này bao gồm một phần là ODA
không hoàn lại và một phần là ODA vốn vay u đãi. Đây là loại ODA đợc áp
dụng phổ biến trong thời gian gần đây. Loại ODA này đợc áp dụng nhằm mục
đích nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.
2.2-Phân loại theo mục đích:
-Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực đợc cung cấp để đầu t xây dựng cơ sở
hạ tầng kinh tế - xã hội và môi trờng. đây thờng là những khoản cho vay u đãi.
-Hỗ trợ kỹ thuật : là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức,
công nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu
tiền đầu t phát triển thể chế và nguồn nhân lực Loại hỗ trợ này chủ yếu là
viện trợ không hoàn lại.
2.3-Phân loại theo điều kiện :
5
Chuyên đề tốt nghiệp
-ODA không ràng buộc : Là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng
buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.
-ODA có ràng buộc :
+Ràng buộc bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là nguồn ODA đợc cung cấp
dành để mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ chỉ giới hạn cho một số
công ty do nớc tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát ( đối với viện trợ song phơng ),
hoặc công ty của các nớc thành viên (đối với viện trợ đa phơng).
+Ràng buộc bởi mục đích sử dụng: Nghĩa là nớc nhận viện trợ chỉ đợc
cung cấp nguồn vốn ODA với điều kiện là phải sử dụng nguồn vốn này cho
những lĩnh vực nhất định hay những dự án cụ thể.
-ODA ràng buộc một phần: Nớc nhận viện trợ phải dành một phần ODA
chi ở nớc viện trợ (nh mua sắm hàng hoá hay sử dụng các dịch vụ của nớc
cung cấp ODA), phần còn lại có thể chi ở bất cứ đâu.
2.4-Phân loại theo hình thức:
-Hỗ trợ dự án: Đây là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án
cụ thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không
hoặc cho vay u đãi.
-Hỗ trợ phi dự án: Là loại ODA đợc nhà tài trợ cung cấp trên cơ sở tự nguyện.
Nhận thức về các vấn đề bức xúc ở nớc sở tại, nhà tài trợ yêu cầu chính
phủ nớc sở tại đợc viện trợ nhằm tháo gỡ những khó khăn đó. Khi đợc chính
phủ chấp thuận thì việc viện trợ đợc tiến hành theo đúng thoả thuận của hai
bên. Loại ODA này thờng đợc cung cấp kèm theo những đòi hỏi từ phía chính
phủ nớc tài trợ. Do đó, chính phủ nớc này phải cân nhắc kỹ các đòi hỏi từ
phía nhà tài trợ xem có thoả đáng hay không. Nếu không thoả đáng thì phải
tiến hành đàm phán nhằm dung hoà điều kiện của cả hai phía. Loại ODA này
thờng có mức không hoàn lại khá cáo, bao gồm các loại hình sau:
+Hỗ trợ cán cân thanh toán: Trong đó thờng là hỗ trợ tài chính trực tiếp
(chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá, hay hỗ trợ xuất nhập khẩu. Ngoại
tệ hoặc hàng hoá đợc chuyển vào qua hình thức này có thể đợc sử dụng để hỗ
trợ cho ngân sách.
+Hỗ trợ trả nợ: Nguồn ODA cung cấp dùng để thanh toán những món nợ
mà nớc nhận viện trợ đang phải gánh chịu.
+Viện trợ chơng trình: Là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát
với thời gian xác định mà không phải xác định chính xác nó sẽ đợc sử dụng
nh thế nào.
3-Nguồn gốc lịch sử của ODA
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Sau Đại chiến thế giới lần thứ II, nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng
khủng hoảng nghiêm trọng. Nhiều nớc tham chiến bị thiệt hại nặng nề về cả
ngời và của. Với mục đích vực dậy nền kinh tế thế giới, nhiều tổ chức tài
chính quốc tế đã đợc thành lập vào thời kỳ này. Một trong những kế hoạch tái
thiết kinh tế lúc đó là kế hoạch Marshall, tiền thân của hình thức hỗ trợ phát
triển chính thức sau này, có mục đích là hỗ trợ các nớc châu Âu khôi phục lại
nền kinh tế đã bị chiến tranh tàn phá. Ngày 14-12-1960, tại Paris, Tổ chức hợp
tác kinh tế châu Âu (OEEC ), tiền thân của tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát
triển (OECD) đợc thành lập để thực hiện kế hoạch Marshall. Các nớc tham dự
hội nghị Paris đã thống nhất mục tiêu của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Âu
gồm:
-Cải thiện mức sống và điều kiện lao động của các nớc thành viên.
-Đạt đợc tốc độ phát triển kinh tế cao và bền vững, duy trì sự ổn định về
tài chính.
-Hỗ trợ các nớc khác đặc biệt là các nớc thành viên và các nớc chịu sự
tàn phá nặng nề sau chiến tranh trong quá trình phát triển kinh tế.
-Tăng cờng phát triển thơng mại quốc tế dựa trên cơ sở đa phơng.Tổ chức
này ban đầu có 19 thành viên gồm có áo, Bỉ, Canađa, Đan Mạch, Pháp, Đức,
Hy Lạp, Aixơlen, ý , Lucxămbua, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Sỹ,
Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ. Các nớc gia nhập thêm sau đó là Nhật
Bản (năm 1964), Phần Lan (năm 1969), Ôxtrâylia (năm 1971), Niuzilân
(năm1973) và Mêhicô (năm 1994).
OECD thành lập nhiều uỷ ban để phân chia quyền hạn và nhiệm vụ trong
hoạt động của mình. Một trong số đó là ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC). Đây
là ủy ban chuyên cung cấp ODA dạng tài chính cho các nớc đang phát triển.
Thành viên của ủy ban này gồm có Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Đức, Hà Lan, Vơng
Quốc Anh, Canađa, Thụy Điển, Đan Mạch, ý, Na Uy, Ôxtrâylia, Thụy Sỹ, Tây
Ban Nha, Bỉ, áo, Phần Lan, Bồ Đào Nha, Ailen, Niuzilân, Luxcămbua và ủy
ban châu Âu.
Ban đầu, OECD chỉ tập trung viện trợ cho các nớc tham chiến trong
chiến tranh thế giới thứ II và các nớc bị chiến tranh tàn phá. Sau khi kinh tế
các nớc này đã đợc phục hồi, việc viện trợ đợc mở rộng ra các quốc gia khác
với mục đích thúc đẩy sự phát triển kinh tế trên toàn thế giới.
Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, các nớc đang phát triển thuộc phe Xã hội
chủ nghĩa trong đó có Việt Nam hầu nh không nhận đợc sự viện trợ trực tiếp
từ các nớc thuộc DAC mà chỉ nhận gián tiếp thông qua các tổ chức phi chính
7
Chuyên đề tốt nghiệp
phủ và Liên Hợp Quốc. Việt Nam trong nhiều năm liền chủ yếu nhận viện trợ
từ Liên Xô và các nớc Đông Âu. Thời kỳ này việc cung cấp ODA chịu ảnh h-
ởng rất nhiều bởi yếu tố chính trị.
Sau khi Liên Xô và hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, các nớc
Xã hội chủ nghĩa khác đã phải tiến hành cải cách chính trị cho phù hợp với
tình hình mới, các nớc t bản đã nối lại viện trợ cho Việt Nam, Trung Quốc và
Cuba. Nhìn chung hiện nay, vấn đề chính trị không còn ảnh hởng nhiều tới việc
cung cấp ODA nữa. Nhờ những cải cách mang tính chất tích cực, nớc ta nhận đợc
sự ủng hộ ngày càng lớn của cộng đồng các nhà tài trợ.
Trong những năm qua, hoạt động của viện trợ chính thức đã góp nhiều
công sức cho việc phát triển kinh tế toàn thế giới và giảm khoảng cách giàu
nghèo giữa các quốc gia. Một số nớc đã vơn lên từ đói nghèo và lạc hậu nh
Nhật Bản, Hàn Quốc, Mêhicô đã chứng minh cho những thành công của
ODA trên thế giới. Bên cạnh đó, ODA trong những năm qua còn bộc lộ nhiều
khiếm khuyết. Tuy vậy nó vẫn đóng vai trò quan trọng trong con đờng phát
triển của toàn nhân loại.
4- Vai trò của ODA đối với các nớc đang phát triển:
Trong mỗi xã hội luôn tồn tại sự hoạt động của các ngành, các lĩnh vực
không sinh lợi. Chẳng hạn nh trong lĩnh vực môi trờng, các công nhân thu dọn
vệ sinh có thể bị coi là "ăn bám" xã hội bởi lẽ công việc của họ chẳng làm ra
một đồng của cải nào cho xã hội cả. Thế nhng chỉ thiếu họ một tuần hay một
ngày thôi thì mùi xú uế sẽ bốc lên nồng nặc cả thành phố. Có hay không tồn
tại của một công viên cây xanh cũng chẳng phải là vấn đề sống còn của bất cứ
ai, nhng nếu không có nó thì mọi ngời sẽ không có chỗ nghỉ ngơi, giải trí sau
những giờ làm việc căng thẳng. Đây là những lĩnh vực mà t nhân hầu nh
không quan tâm đầu t mặc dù nó giữ vai trò thiết yếu đối với bất kỳ xã hội
hiện đại nào ngày nay. Bởi vì lĩnh vực này không sinh lời, nếu có thì cũng cần
thời gian thu hồi vốn lâu. Hãy thử tởng tợng một thành phố không có bóng
dáng công nhân quét rác hay một công viên cây xanh thì điều gì sẽ xảy ra.
Chắc chắn, ngời ta sẽ không chịu nổi sự ô nhiễm môi trờng nặng nề mà chính
họ là nguyên nhân gây ra.
Môi trờng không sinh lợi đã đành, ngay cả những lĩnh vực có sinh lợi nh-
ng hiệu quả kinh tế chậm nh giao thông, thuỷ lợi, điện, nớc cũng chẳng có
cá nhân nào dám bỏ tiền ra để xây dựng. Vì nó đòi hỏi vốn lớn và thời gian
thu hồi chậm. Do đó các công trình cộng cộng thờng phải do Nhà nớc đầu t
thực hiện.
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Thế nhng, Chính phủ các nớc đang phát triển lại gặp rất nhiều khó khăn
trong việc đầu t vào các lĩnh vực công cộng. Đây hầu hết là các nớc nghèo, đời
sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Do đó, có rất ít vốn tích lũy cho đầu t
phát triển. Dân nghèo thì số tiền thu ngân sách cũng không đợc là bao, không
đủ để xây dựng các công trình công cộng, hạ tầng kỹ thuật. Các quốc gia đang
phát triển hầu hết đều đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp, cơ sở vật chất, kỹ
thuật lạc hậu. Vì vậy vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc đang trở lên hết sức cấp bách.
Xu hớng quốc tế hoá nền kinh tế thế giới đang là điều kiện bắt buộc các
nớc đang phát triển phải tìm mọi cách nâng cao hiệu quả, tính cạnh tranh của
nền kinh tế và vấn đề thiếu vốn đang là trở ngại lớn nhất trên con đờng tìm
kiếm sự phát triển của các nớc này. Hàng năm, với tinh thần nhân đạo cao cả,
các nớc phát triển đã cung cấp một khối lợng ODA đáng kể trị giá hàng trăm
tỷ USD cho các quốc gia đang phát triển. khối lợng ODA đó có vai trò rất
quan trọng đối với các nớc này, nó cho phép họ có một khoản tiền để giải
quyết một số vấn đề cấp thiết, và đầu t vào hạ tầng cơ sở, các công trình công
cộng.
Có thể nói, một hệ thống cơ sở hạ tầng tốt sẽ là nền tảng cho sự phát triển
của một đất nớc. Tuy nhiên, hầu hết các nớc đang phát triển có hệ thống cơ sở
hạ tầng lạc hậu, không đáp ứng đợc nhu cầu cho phát triển kinh tế. Hiện nay,
xu hớng chung của các nớc đang phát triển là tìm cách thu hút nguồn vốn đầu
t nớc ngoài (FDI và ODA), bổ sung cho nguồn vốn eo hẹp trong nớc. Nguồn
vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI), có u điểm là khối lợng vốn đầu t lớn và n-
ớc tiếp nhận không phải chịu gánh nặng nợ nần. Nhng nếu muốn thu hút đợc
nhiều nguồn vốn FDI thì đòi hỏi các nớc đang phát triển phải có một hệ thống
cơ sở hạ tầng tốt, một môi trờng kinh doanh thuận lợi. Đây là những yếu tố mà
các nớc đang phát triển còn thiếu. Nếu chỉ thu hút riêng vốn FDI thì không đủ
nhu cầu ngày càng cao về vốn cho phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, phải thu
hút nguồn vốn ODA để bổ sung nhu cầu về vốn. ODA có u điểm là nớc tiếp
nhận đợc chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này vào những lĩnh vực mà
mình quan tâm. Ngoài việc sử dụng vốn ODA để giải quyết các vấn đề khác
của đất nớc thì ODA có thể tập trung cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, làm
cho môi trờng kinh doanh thuận lợi hơn. Điều này sẽ góp phần tích cực tăng
khả năng thu hút nguồn vốn FDI của các nớc đang phát triển.
II- sự cần thiết phải tăng cờng thu hút và đẩy nhanh tiến
độ giải ngân nguồn vốn ODA để phát triển nền kinh tế Việt
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Nam
1-Một số hình thức chủ yếu của ODA ở Việt Nam
1.1-Hỗ trợ theo chơng trình
Hình thức này thờng tập trung giải quyết các vấn đề xã hội nh y tế, giáo
dục và các vấn đề xã hội khác Các chơng trình thờng đợc phía nhà tài trợ
chủ động đề xuất.
Đối với lĩnh vực y tế, một số chơng trình chủ yếu của hình thức này là
chơng trình bảo vệ sức khoẻ sinh sản, chơng trình tiêm chủng cho trẻ sơ sinh,
chơng trình kế hoạch hoá gia đình, chơng trình thanh toán một số bệnh xã hội,
xây mới và cải tạo hệ thống trạm xá, chơng trình phẫu thuật nụ cời, chơng
trình cấp thuốc miễn phí cho một số vùng sâu, vùng xa Các chơng trình hỗ
trợ cho ngành y tế thờng mang tính nhân đạo cao và rất đợc sự quan tâm của
các tổ chức quốc tế.
Đối với lĩnh vực giáo dục, một số hình thức chủ yếu là xây mới và cải tạo
trờng học cho một số tỉnh gặp khó khăn, chơng trình cấp học bổng cho sinh
viên đại học, chơng trình đào tạo đại học và sau đại học
Ngoài ra hình thức này còn bao gồm nhiều chơng trình khác nh chơng
trình xoá đói giảm nghèo, chơng trình cấp cây và con giống cho bà con nông
dân, chơng trình nớc sạch nông thôn
Đối với Việt Nam, hình thức ODA hỗ trợ theo chơng trình khá quan
trọng, nó đảm bảo cho chúng ta một sự phát triển hài hoà, bền vững. Tuy vậy
khối lợng ODA thời gian qua dành cho hình thức này cha nhiều, mới chỉ giải
quyết đợc một số vấn đề cấp bách nhất. Do đó, trong thời gian tới chúng ta
phải tăng cờng thu hút ODA hỗ trợ cho các chơng trình.
1.2-Hỗ trợ theo dự án
Hình thức này khá phổ biến ở Việt Nam thời gian qua. Hỗ trợ theo dự án th-
ờng đợc thực hiện bằng nguồn vốn vay u đãi và hỗn hợp. Các dự án thờng phải
đáp ứng đợc một số yêu cầu từ phía các nhà tài trợ. Hình thức này thờng phổ biến
ở lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật nh giao thông, thủy lợi, năng lợng; cơ
sở hạ tầng xã hội và lĩnh vực nông, lâm, ng nghiệp.
Khối lợng ODA dành cho hỗ trợ dự án là rất lớn, chiếm phần lớn lợng
vốn mà các nhà tài trợ cam kết dành cho Việt Nam kể từ năm 1993 đến nay.
Đây là hình thức rất quan trọng bởi vì nó góp phần tạo đựng cơ sở vật chất
thúc đẩy nền kinh tế nớc ta phát triển.
1.3-Hỗ trợ cán cân thanh toán
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Chi ngân sách của nớc ta thời gian qua thờng lớn hơn thu hàng chục ngàn
tỷ đồng mỗi năm. Bội chi ngân sách cũng là tình trạng chung của các nớc
đang phát triển. Các nhà tài trợ đã sử dụng hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán
nh một công cụ để giữ vững sự ổn định của thị trờng tài chính quốc tế và giúp
đỡ một phần chính phủ các nớc đang phát triển giảm nhẹ gánh nặng bội chi
ngân sách. Hình thức này cha phát triển ở Việt Nam và chủ yếu đợc thực hiện
bằng các khoản vay u đãi nhỏ.
1.4-Hỗ trợ kỹ thuật
Đây là một hình thức ODA quan trọng, đặc biệt là đối với những nớc có
trình độ kỹ thuật lạc hậu nh Việt Nam. Hình thức này đợc thực hiện dới dạng
các chơng trình hợp tác kỹ thuật nh: chơng trình cử chuyên gia, chơng trình
đào tạo cán bộ kỹ thuật, chơng trình cung cấp trang thiết bị Thời gian qua,
các chơng trình này đã đóng góp một phần quan trọng vào việc nâng cao trình
độ của đội ngũ cán bộ kỹ thuật và đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ
ở Việt Nam.
2-Sự cần thiết phải tăng cờng thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân
nguồn vốn ODA để phát triển nền kinh tế Việt Nam
Đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp, đất nớc ta còn nghèo nàn và lạc
hậu, hiện nay chúng ta cha có đủ các tiền đề cần thiết cho một sự phát triển
bền vững.
Để phát triển nền kinh tế với tốc độ nhanh trong khi nền kinh tế nhỏ bé
đang thiếu vốn nghiêm trọng và tiết kiệm trong nớc còn quá thấp thì cần phải
bổ sung vốn đầu t bằng khối lợng lớn nguồn vốn nớc ngoài. Huy động vốn nớc
ngoài rất cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nền
kinh tế để hoà nhập với kinh tế thế giới, trong đó tranh thủ vốn ODA là một
chủ trơng lớn của nớc ta từ giai đoạn mở cửa.
Các công trình thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng của nớc ta hiện nay đã xuống
cấp nghiêm trọng, không thể duy trì phát triển kinh tế lâu dài. Hệ thống giao
thông đờng bộ chắp vá. Để nâng cấp, cải tạo hệ thống giao thông quốc gia
xuyên suốt từ nay đến năm 2005, mỗi năm chúng ta cần hàng chục ngàn tỷ
đồng, đó là cha kể đến hệ thống giao thông nội tỉnh. Hệ thống giao thông đ-
ờng thủy đợc xây dựng từ nhiều năm nay lại không đợc quan tâm bảo dỡng
hàng năm nên không thể đáp ứng đợc nhu cầu vận chuyển hàng hoá. Muốn
phục vụ tốt cho xuất khẩu thì trớc mắt phải nâng cấp một số cảng quan
trọng nh cảng Sài Gòn, cảng Hải Phòng, cảng Đà Nẵng; phải xây mới và
nâng cấp các cầu cảng và hệ thống kho bãi của các cảng này. Hệ thống sân
11
Chuyên đề tốt nghiệp
bay cũng cần đợc cải tạo hàng năm cho phù hợp với nhu cầu. Hệ thống thông
tin liên lạc đã phát triển rất nhanh thời gian qua cần tiếp tục phát huy và có
một số đổi mới cho thích hợp hơn. Mỗi ngành này cũng cần đầu t hàng trăm,
hàng ngàn tỷ đồng.
Bên cạnh đó, các vấn đề cũ còn tồn tại và các vấn đề xã hội mới nảy sinh
cũng đòi hỏi phải có nguồn lực để giải quyết. Một xã hội không thể phát triển
bền vững nếu trẻ em không đợc đi học, ngời già và ngời tàn tật không đợc
chăm sóc, bệnh dịch không đợc thanh toán Do đó phát triển con ngời là
chiến lợc của Đảng ta trong công cuộc phát triển kinh tế. Để giải quyết những
vấn đề đó mỗi năm chính phủ phải chi hàng chục ngàn tỷ đồng.
Hiện nay các khoản thu của ngân sách không đủ đáp ứng các nhu cầu
trên. Thuế là nguồn thu chủ yếu nhng mỗi năm vẫn bị thất thu một số lợng
lớn. Năm 1999 tổng thu ngân sách của Nhà nớc khoảng trên 70.000 tỷ đồng
trong khi tổng các khoản chi xấp xỉ 90.000 tỷ đồng. Nh vậy chúng ta phải bù
đắp bội chi ngân sách khoảng 20.000 tỷ đồng. Do đó, việc thu hút nguồn lực
bên ngoài sẽ giúp chính phủ trong việc giảm bội chi ngân sách.
Kể từ năm 1987, các công ty nớc ngoài đợc phép chính thức hoạt động
tại Việt Nam. Khối lợng vốn của các công ty này đã giúp đỡ rất nhiều cho
chính phủ trong việc khắc phục tình trạng thiếu vốn. Chính nhờ quyết định mở
cửa này, nền kinh tế Việt Nam đã có bớc tăng trởng vợt bậc trong hơn 10 năm
qua, quan hệ sản xuất tỏ ra phù hợp hơn, lực lợng lao động đợc giải phóng,
nến kinh tế trong nớc phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, về cơ bản nền
kinh tế đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài hàng chục năm qua. Vốn đầu
t trực tiếp nớc ngoài có vai trò rất lớn trong công cuộc phát triển kinh tế đất n-
ớc, tuy nhiên bên cạnh đó nó cũng bộc lộ những mặt hạn chế. Nhà đầu t chỉ
quan tâm bỏ vốn đầu t vào những lĩnh vực có khả năng sinh lợi và hiệu quả
kinh tế nhanh. Điều này đã gây ra sự phát triển mất cân đối trong nền kinh và
không thực hiện đợc nhiều mục tiêu kinh tế-xã hội khác. Ngoài ra còn có
nguy cơ mất ổn định nền kinh tế, cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 vừa
qua của các nớc khu vực Đông Nam á là một minh chứng cụ thể.
Trớc tình hình đó, Chính phủ Việt Nam đã nhận thức rõ tầm quan trọng
đặc biệt của nguồn vốn ODA đối với tiến trình phát triển nền kinh tế- xã hội
của đất nớc. Do đó, phải tăng cờng khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn này. Hiện nay, việc giải ngân chậm đang là một tồn tại rất lớn cần
sớm đợc khắc phục.
Thời gian qua, Việt Nam đã khá thành công trong việc vận động, thu hút
12
Chuyên đề tốt nghiệp
nguồn vốn ODA thông qua việc tổ chức Hội nghị các nhà tài trợ (CG). Kết
quả của những nỗ lực trên là 15,14 tỷ USD vốn ODA mà cộng đồng các nhà
tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam trong giai đoạn 1993-1999. Tuy nhiên,
muốn có đợc số vốn này để đầu t vào các chơng trình, dự án thì còn là một quá
trình từ xác định dự án, chuẩn bị dự án, thẩm định dự án, đàm phán vay vốn và
phê duyệt khoản vay cho tới thực hiện dự án. Có thể hiểu, để đa những đồng
vốn ODA mà các nhà tài trợ đã cam kết vào thực hiện các chơng trình, dự án
chính là quá trình giải ngân vốn ODA. Nh vậy, muốn tận dụng tốt nguồn vốn
ODA, biến những cam kết của các nhà tài trợ thành hiện thực, chúng ta phải
giải quyết triệt để những yếu tố gây cản trở quá trình giải ngân nguồn vốn này.
Có tăng đợc tỷ lệ giải ngân thì việc thu hút nguồn vốn ODA mới thực sự có tác
dụng. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân mới làm cho đồng vốn ODA thực sự đi vào
cuộc sống góp phần tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở Việt
Nam.
Trong những năm qua, vốn ODA thực hiện đã góp phần quan trọng vào
việc phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó có nhiều dự án đã hoàn
thành và có tác động tích cực, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Nguồn vốn ODA đã đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển hiện
nay của ngành năng lợng. Một loạt các nhà máy sản xuất điện đã đợc xây
dựng bằng vốn ODA nh nhà máy Nhiệt điện Phú Mỹ, nhà máy Nhiệt điện Phả
Lại, Thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi Việc xây dựng những nhà máy này làm
giảm bớt sự quá tải của mạng lới điện Quốc gia, đáp ứng nhu cầu về năng lợng
điện ngày càng cao cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt. Những công trình
giao thông chủ chốt của nền kinh tế Việt Nam đã đợc thực hiện bằng nguồn
vốn ODA nh cải tạo, nâng cấp và phát triển các đờng quốc lộ huyết mạch
(Quốc lộ 1, Quốc lộ 5, Quốc lộ 18, xây dựng cầu Mỹ Thuận ).
Phát triển nông nghiệp, nông thôn và miền núi đợc sự hỗ trợ của nguồn vốn
ODA thông qua một loạt các dự án phát triển cà phê, chè; chồng rừng; xây dựng
các cảng cá ; phát triển chăn nuôi; thực hiện chơng trình xoá đói giảm nghèo và
phát triển cơ sở hạ tầng ở nhiều tỉnh nghèo. Một số hệ thống thủy lợi lớn ở miền
Bắc, miền Trung, miền Nam đang đợc khôi phục và phát triển.
Nguồn vốn ODA cũng đợc sử dụng để hỗ trợ các lĩnh vực y tế, xã hội,
giáo dục và đào tạo nh Dự án giáo dục tiểu học, Dự án Hỗ trợ y tế Quốc gia
Ngoài ra, việc cải thiện, cung cấp nớc sinh hoạt tại các thành phố, thị xã và
các vùng nông thôn, miền núi là lĩnh vực u tiên cao trong sử dụng vốn ODA.
Đến nay, hầu hết các thành phố, thị xã của các tỉnh đã có các dự án ODA về
13
Chuyên đề tốt nghiệp
phát triển hệ thống cung cấp nớc sinh hoạt đợc thực hiện. Nguồn vốn ODA
cũng góp phần hỗ trợ đáng kể nhằm thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế thông
qua các khoản tín dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế, điều chỉnh cơ cấu kinh tế
mở rộng, Quỹ Miyazawa
Một số chơng trình, dự án ODA thực hiện xong và hiện đang phát huy tác
dụng tích cực trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam nh Nhà
máy nhiệt điện sử dụng khí thiên nhiên Phú Mỹ 2 - giai đoạn 1 (công suất 400
MW). Một số công trình giao thông quan trọng đã đa vào sử dụng và phát huy
hiệu quả nh Quốc lộ 5; Quốc lộ 1A đoạn Hà Nội - Vinh, đoạn TPHCM - Cần
Thơ, đoạn TPHCM - Nha Trang. Cảng Hải Phòng; các hệ thống cung cấp nớc
sinh hoạt ở Hà Nội, Lào Cai, Hoà Bình Nhiều bệnh viện ở các thành phố và
thị xã nh Bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh), Việt Đức (Hà Nội) và
9 bệnh viện ở Hà Nội Chơng trình tiêm chủng mở rộng quốc gia, các chơng
trình y tế khác (chống sốt rét, bớu cổ, AIDS - HIV ) đợc thực hiện có hiệu
quả. Nhiều trờng học nhất là các trờng tiểu học ở các tỉnh hay bị bão, lũ lụt ở
miền Bắc và miền Trung đã đợc xây dựng.
Nh vậy, ODA đã tham gia vào hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội, ODA
đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển của
Việt Nam. Trong Văn kiện Đại Hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 8 đã chỉ
rõ: "Tranh thủ thu hút nguồn tài trợ phát triển chính thức (ODA) đa phơng và
song phơng, tập trung chủ yếu cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã
hội, nâng cao trình độ khoa học công nghệ và quản lý đồng thời dành một
phần vốn tín dụng đầu t cho các ngành nông, lâm, ng nghiệp, sản xuất hàng
tiêu dùng. Ưu tiên dành viện trợ không hoàn lại cho những vùng chậm phát
triển. Các dự án sử dụng vốn vay phải có phơng án trả nợ vững chắc, xác định
rõ trách nhiệm trả nợ, không đợc gây thêm gánh nặng nợ nần không trả đợc.
Phải sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả và kiểm tra, quản lý chặt chẽ,
chống lãng phí, tiêu cực".
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét