Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

Tài liệu TIỂU LUẬN: Ảnh hưởng của thuốc GHA lên một số chỉ số tim mạch trên động vật thực nghiệm cấp và bán cấp doc


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu TIỂU LUẬN: Ảnh hưởng của thuốc GHA lên một số chỉ số tim mạch trên động vật thực nghiệm cấp và bán cấp doc": http://123doc.vn/document/1050152-tai-lieu-tieu-luan-anh-huong-cua-thuoc-gha-len-mot-so-chi-so-tim-mach-tren-dong-vat-thuc-nghiem-cap-va-ban-cap-doc.htm





Theo quy chế đánh giá tính an toàn, tính hiệu quả của chế phẩm thuốc mới
trước khi đưa vào điều trị lâm sàng của Bộ Y tế (1993), chúng tôi tiến hành
nghiên cứu chế phẩm thuốc trên động vật thực nghiệm.
Mục tiêu của đề tài:
1. Xác định độc tính cấp và bán cấp của chế phẩm GHA trên động vật thực
nghiệm.
2. Đánh giá ảnh hưởng cấp và bán cấp của chế phẩm GHA lên hệ tim -
mạch trên động vật thực nghiệm.



II. Tổng quan

2.1. Huyết áp, các yếu tố ảnh hưởng đến huyết áp động mạch.
HA là áp lực của máu trong một đoạn mạch nhất định, nó là kết quả của hai
yếu tố chính: cung lượng tim và sức cản ngoại vi[3].
2.1.1. Cung lượng tim:
Cung lượng tim được xác định bằng thể tích tống máu cuối thì tâm thu nhân
với tần số tim [3], [8].
- Thể tích tống máu tâm thu phụ thuộc vào thể tích máu cuối thì tâm trương
ở thất trái và sức bóp của thất trái.
- Thể tích máu cuối thì tâm trương phụ thuộc vào thể tích máu toàn bộ và
hoạt động của hệ tĩnh mạch ngoại vi.
- Thể tích máu toàn bộ phụ thuộc vào thể tích huyết cầu và thể tích huyết
tương.
- Hoạt động của hệ mạch ngoại vi phụ thuộc vào các thụ cảm thể -
adrenergic, khi kích thích các thụ cảm thể này sẽ gây co mạch.
- Tần số tim và sức bóp cơ tim phụ thuộc vào thụ cảm thể 
1
-adrenergic, khi
kích thích sẽ làm tăng nhịp tim, tăng sức co bóp cơ tim .
2.1.2. Sức cản ngoại vi:
Sức cản ngoại vi phụ thuộc vào độ nhớt của máu và tình trạng của tiểu động
mạch [3], [8].
Tiểu động mạch giãn làm giảm sức cản ngoại vi, chẳng hạn khi kích thích
các thụ cảm thể 
2
- adrenergic, khi tăng các chất giãn mạch như bradykinin,
prostaglandin (PGA, PGE); tiểu động mạch co làm tăng sức cản ngoại vi như khi
kích thích các thụ cảm thể  - adrenergic, khi tăng catecholamin máu, khi hoạt
hoá hệ renin - angiotensin [3],[8].
2.2. Quan điểm của y học hiện đại về bệnh tăng huyết áp.



Theo hằng số sinh học người Việt Nam; người trưởng thành có HA tâm thu
(HATTh) trong giới hạn 90-140 mmHg, HA tâm trương (HATTr) trong giới hạn
60-90 mmHg. Nếu HATTh  140 mmHg và/ hoặc HATTr  90 mmHg là tăng HA
[10], [17].
2.2.1. Cơ chế bệnh sinh của tăng HA:
Các nhà sinh lý và lâm sàng tim mạch đã cố gắng nghiên cứu tìm hiểu để
giải thích cơ chế bệnh sinh của tăng HA nguyên phát, một số yếu tố đã được công
nhận, song còn nhiều điều chưa sáng tỏ. Đến nay, các nhà khoa học đều thừa nhận
tăng HA có liên quan đến: [2], [8], [18].
- Vai trò của hệ thần kinh giao cảm: ảnh hưởng đến cung lượng tim và sức
cản ngoại vi.
- Vai trò của hệ renin - angiotensin - aldosteron (hệ RAA): kiểm soát lượng
máu lưu hành.
- Các chất nội sinh điều hoà mạch như: oxyt nitric, các endothelin, các kinin,
sự thay đổi chức năng của thụ cảm thể áp lực, cơ thể bị giảm chất điều hoà HA
CGRP (calcitonin gene relaxted peptid) cũng là yếu tố gây tăng HA và quá trình
tự vữa xơ.
- Vai trò của yếu tố di truyền: có nhiều giả thuyết cho rằng đây là bệnh lý do
đa gen quy định và chịu ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường.
Các yếu tố trên tác động đến khối lượng máu lưu hành và thành mạch (giai
đoạn đầu gây co thắt các tế bào cơ trơn ở thành động mạch, giai đoạn sau gây phì
đại tế bào cơ trơn thành mạch, dẫn đến tăng sức cản ngoại vi).
2.2.2. Điều trị:
Ngoài điều trị nguyên nhân, việc điều trị tăng HA cần chú ý đến chế độ làm
việc, ăn uống, rèn luyện thân thể tự thích nghi, tự điều chỉnh giữ HA ổn định [10].
Trong điều trị tăng HA, các thuốc sau đây thường được xem xét và sử dụng
cho phù hợp với từng bệnh nhân và mức độ bệnh [7],[10].
- Nhóm thuốc lợi tiểu: Furosemid, Hypothiazid, Indapamid…



- Nhóm thuốc ức chế hoạt động của hệ thần kinh giao cảm: Reserpin,
Alphamethyl-dopa, Clonidin, Prazosin, Propranolol, Acebutolol…
- Nhóm thuốc làm giãn mạch: Hydralazin, Verapamil, Nifedipin.
- Nhóm thuốc ức chế men chuyển: Captopril, Benazepril Enalapril,
Perindoprol…
- Nhóm thuốc đối kháng các thụ cảm thể của angiotensin II: Losartan,
Irbesartan…
Các thuốc trên còn một vài tác dụng phụ, hiệu quả điều trị không duy trì lâu
dài sau khi ngừng thuốc[1].
2.3. Biện chứng luận trị bệnh tăng Huyết áp của y học cổ truyền.
2.3.1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:
Y học Cổ truyền(YHCT) không có bệnh danh tăng HA mà từ lâu đã mô tả
trong các phạm trù “Huyễn vựng”, “Đầu thống”, “Can phong”, “Can hoả” tức là
đau đầu, hoa mắt, mặt đỏ, tai ù, hồi hộp đánh trống ngực. Các triệu chứng này
tương đương với triệu chứng của bệnh tăng HA theo quan điểm YHHĐ. Về cơ chế
bệnh sinh YHCT cho rằng chủ yếu là do rối loạn khí huyết âm dương của hai tạng
Can và Thận. Nguyên nhân chủ yếu là do tinh thần căng thẳng kéo dài, hay cáu
gắt, giận dữ, ăn uống không điều hoà, làm việc quá sức sẽ tổn thương đến tỳ, vị và
rối loạn chức năng tạng phủ, thường có biến chứng não gọi là “Trúng phong”[6].
2.3.2. Một số bài thuốc điều trị:
Nguyên tắc điều trị cơ bản là điều hoà khí huyết, điều hoà âm dương của hai
tạng can và thận. Kiện tỳ, an thần, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, ăn uống hợp lý.
Trong khi vận dụng pháp trị lâm sàng có thể dùng độc pháp có thể phối hợp các
phương pháp khác nhau, phải linh hoạt sử dụng tuỳ theo diễn biến kết quả lâm
sàng [4].



Một số bài thuốc: [4], [11], [16].
Bài thuốc 1: cỏ nhọ nồi, cỏ xước, măng vòi, lá bạc hà, nước vo gạo.
Bài thuốc 2: bạch truật, đẳng sâm, hạt sen, ý dĩ, tâm sen, đăng tâm,
xương bồ, hạt muồng, ngưu tất, hoài sơn.
Bài thuốc 3: bán hạ chế, trần bì, tinh tre, hạ khô thảo, tỳ giải, rễ cỏ
tranh, thảo quyết minh, hoè hoa, ngưu tất.
2.4. Tổng quan một số vị thuốc trong bài thuốc GHA.
2.4.1. Thành phần của chế phẩm “GHA”
* Hoa Kim ngân: Flos Lonicerae.
Tính vị: ngọt, lạnh.
Tác dụng: thanh nhiệt giải độc, sơ tán phong nhiệt, phổ kháng khuẩn rộng,
có tác dụng ức chế liên cầu khuẩn, trực khuẩn lỵ… ức chế bệnh do vi rút gây nên,
có tác dụng chống viêm, giải độc, giảm cholesterol máu.
Chỉ định: điều trị mụn nhọt giai đoạn đầu, sưng nóng đỏ da,viêm ruột thừa
cấp, viêm phổi [5], [12], [15].
* Rễ Huyền sâm: Radix Sirophulariae.
Tính vị: đắng, ngọt, mặn, hàn.
Tác dụng: có tác dụng hạ huyết áp, giảm đường máu mức độ nhẹ. Ngoài ra
có tác dụng giãn mạch, tăng cường tuần hoàn cục bộ, dùng để điều trị viêm tắc
động tĩnh mạch.
Chỉ định: chứng ôn bệnh nhập doanh gây sốt cao về đêm, tâm phiền, miệng
khát, lưỡi hồng giáng, mạch sác thường dùng cùng sinh địa [5], [12], [15].
* Thân Rễ Đại hoàng: Rhizoma Rhei.
Tính vị: đắng, lạnh.
Tác dụng: tả ha công tích, chỉ huyết, giải độc, hoạt huyết khứ ứ. Tăng cường
nhu động ruột, ức chế hấp thu nước ở đại tràng. Ngoài ra còn có tác dụng kiện vị,
lợi mật, hạ HA, cầm máu, giảm cholesterol máu.



Chỉ định: chứng bệnh ôn nhiệt, nhiệt kết tiên bí, sốt cao không giảm. Điều trị
lý thực nhiệt gây táo bón kéo dài [5], [12], [15].
* Rễ Phòng kỷ: Radix Stephaniae.
Tính vị: đắng, cay, hàn.
Tác dụng: khứ phong thấp, chỉ thông, lợi thuỷ chỉ thũng, giảm đau, hạ sốt,
tiêu viêm, chống quá mẫn, lợi niệu, giảm HA.
Chỉ định: chứng phù thũng toàn thân, tiểu tiện ít. Điều trị thấp nhiệt ủng trệ,
bụng chướng có dịch [5], [12], [15].
* Lá Thạch vĩ: Folium Pyrrosiae.
Tính vị: đắng, ngọt, hơi hàn.
Tác dụng: lợi niệu, thông lâm, thanh phế, chỉ khái.
Chỉ định: điều trị thấp nhiệt lâm chứng, thường dùng với sa tiến tử, hoạt
thạch [5], [12], [15].
* Vỏ Nhục quế: Cortex Cinamomi.
Tính vị: cay, ngọt, nóng.
Tác dụng: ôn kinh thông mạch, giãn huyết quản, tăng cường tuần hoàn vành
và tuần hoàn não, giảm trợ trệ huyết quản, chống tụ tập tiểu cầu.
Chỉ định: điều trị thận dương bất túc, mệnh môn hoả suy gây liệt dương [5],
[12], [15].
* Rễ Đan sâm: Radix Salviae Miltiorrhizae.
Tính vị: đắng, hơi hàn.
Tác dụng: hoạt huyết điều kinh, lương huyết tiêu ung, an thần, giãn động
mạch vành tăng lưu lượng tuần hoàn vành, cải thiện thiếu máu cơ tim, điều chỉnh
nhịp tim, giãn mạch ngoại vi, chống ngưng kết, ức chế tụ tập tiểu cầu, ức chế hình
thành cục máu đông, giảm mỡ máu.
Chỉ định: điều trị phụ nữ kinh nguyệt không đều, điều trị mụn nhọt sưng đau,



thường dùng cùng với ngân hoa, liên kiều [5], [12], [15].
* Rễ Ngưu tất: Radix Achyranthis Bidentatae.
Tính vị: đắng, ngọt.
Tác dụng: hoạt huyết thông kinh, bổ can thận cương cân cốt, lợi niệu thông
lâm, thực nghiệm trên chuột thấy có tác dụng giảm viêm các khớp và làm giảm
sưng nề. Ngoài ra có tác dụng hạ HA, lợi niệu.
Chỉ định: điều trị các chứng ứ huyết trở trệ gây kinh bế, điều trị can thận hao
hư gây đau lưng mỏi gối. Điều trị đau đầu, hoa mắt , mắt đỏ [5], [12], [15].
* Mẫu lệ (Vỏ con Hà): Concha Ostreae.
Tính vị: mặn, sáp, hơi hàn.
Tác dụng: bình can tiềm dương.
Chỉ định: điều trị chứng can dương thượng cang, đau đầu chóng mặt [5],
[12], [15].
* Rễ Hoàng kỳ: Radix Astragali.
Tính vị: ngọt, hơi ôn.
Tác dụng: bổ khí thăng dương, lợi niệu tiêu thũng, lợi niệu, chống lão suy,
hạ HA.
Chỉ định: điều trị tỳ vị khí hư, khí đoản, ăn ít, đại tiện lỏng nát, tứ chi mệt
mỏi [5], [12], [15].
* Rễ Đương quy: Radix Angelicae Sinensis.
Tính vị: ngọt, cay, ấm.
Tác dụng: bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh, nhuận tràng, giảm tụ tập tiểu cầu,
chống lại sự đông máu, tăng cường sản sinh hồng cầu, giảm thiếu máu cơ tim,
giãn mạch, cải thiện tuần hoàn ngoại vi, giảm mỡ máu.
Chỉ định: điều trị tâm can huyết hư, chóng mặt, hồi hộp [5], [12], [15].
* Rễ Bạch thược: Radix Paconiae Alba.
Tính vị: đắng, chua, ngọt, hơi hàn.



Tác dụng: dưỡng huyết, điều kinh, bình can, giảm co quắp, ức chế co thắt cơ
trơn tử cung, đại trường, trấn tĩnh, giảm đau, giãn mạch, hạ HA.
Chỉ định: điều trị chứng huyết hư, âm hư nội nhiệt [5], [12], [15].
* Vỏ quả Ngũ vị tử: Fructus Schisandrae.
Tính vị: chua, ngọt, ẩm.
Tác dụng: liễm phế, tư thận, an thần, giảm ho, tiêu đàm, giảm HA, lợi đờm,
bảo vệ tế bào gan, ức chế một số loại trực khuẩn kể cả trực khuẩn mủ xanh.
Chỉ định: điều trị phế thận lưỡng hư, dùng trong chứng tiêu khát [5], [12],
[15].
* Kim bất hoán (Củ Bình vôi): Stephania Glabra.
Tính vị : đắng, hơi hàn.
Tác dụng: trên động vật thực nghiệm có tác dụng trấn tĩnh và gây ngủ giống
như diên hồ sách, tác dụng giảm đau rõ rệt [5], [12], [15].
* Thạch quyết minh (Vỏ ốc Cửu khổng): Haliotis Diversicolor Reeve.
Tính vị: mặn, hàn.
Tác dụng: bình can tiềm dương, thanh can minh mục, trấn tĩnh.
ứng dụng: dùng trong can dương thượng cang, đau đầu, chóng mặt [5], [12],
[15].
* Cành Câu đằng: Ramulus Pynchophylla.
Tính vị: ngọt, hơi hàn.
Tác dụng: tức phong chỉ kinh, thanh nhiệt bình can.
Chỉ định điều trị trẻ em bị kinh phong gây sốt cao, trị chứng can dương
thượng cang gây đau đầu, chóng mặt, buồn nôn [5], [12], [15].



2.4.2. Công thức và dạng bào chế của “GHA”
* Công thức:
Vị thuốc Tỷ lệ
Thân rễ Đại hoàng
Vỏ Nhục quế
Vỏ quả Ngũ vị tử
Cành Cầu đằng
Rễ Bạch thược
Rễ Huyền sâm
Kim Bất hoán
Thạch quyết minh
Mẫu lệ
Rễ Đan sâm
Rễ Hoàng kỳ
Rễ Đương quy
Rễ Ngưu tất
Lá Thạch vĩ
Rễ Phòng kỷ
Hoa Kim ngân
1
1
1
3
3
3
3
4
4
4
4
4
4
4
4
5

* Dạng bào chế: Cao lỏng 1/1 (1 gam dược liệu khô tương đương với 1ml
cao)



III. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu được tiến hành trên động vật thực nghiệm bao gồm chuột nhắt,
thỏ và ếch.
* Chuột nhắt trắng: có trọng lượng 22  2 g/con, gồm 60 con không phân
biệt giống, chia làm 5 lô, mỗi lô 12 con để nghiên cứu độc tính cấp.
* Thỏ trưởng thành: có trọng lượng từ 2,0  0,25 kg/con, số lượng 23 con,
chia làm 2 nhóm để nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc lên một số chỉ số huyết học,
hoá sinh máu, HA và điện tim.
Nhóm nghiên cứu cấp diễn: 11 thỏ chia làm 2 lô.
- Lô thực nghiệm (uống thuốc): 06 con.
- Lô chứng (uống NaCl 0,9%): 05 con.
Nhóm nghiên cứu bán cấp diễn: 12 thỏ chia làm 2 lô.
- Lô thực nghiệm (uống thuốc): 07 con.
- Lô chứng (uống NaCl 0,9%): 05 con.
* ếch trưởng thành: có trọng lượng 100-120 g/con, số lượng 15 con để
nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc lên hệ mạch.
* Động vật do Ban Chăn nuôi động vật Học viện Quân y cung cấp, được
nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm tại Bộ môn Sinh lý học Học viện Quân y
đảm bảo đủ thức ăn, nước uống.
3.2. Chất liệu nghiên cứu và liều dùng.
* Chất liệu nghiên cứu: thuốc GHA dạng cao lỏng 1/1 do Bộ môn Dược học
quân sự, HVQY cung cấp.
* Liều dùng cho nghiên cứu cấp diễn: thỏ uống thuốc một lần với liều 4ml
cao lỏng cho 1 kg(tương đương 4 g/kg thể trọng).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét