LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hoàn thiện hạch toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả tiêu thụ tại công ty thương mại lâm sản hà nội": http://123doc.vn/document/1053596-hoan-thien-hach-toan-tieu-thu-hang-hoa-va-xac-dinh-ket-qua-tieu-thu-tai-cong-ty-thuong-mai-lam-san-ha-noi.htm
a- Khái niệm tiêu thụ.
Tiêu thụ có thể đợc hiểu theo nhiều cách khác nhau , song có thể hiểu tiêu
thụ hàng hoá là quá trình các doanh nghiệp thực hiện việc chuyển hoá vốn sản
xuất kinh doanh của mình từ hình thái hàng hoá sang hình thái giá trị, thực hiện
giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá thông qua quan hệ trao đổi.
Theo quan điểm của hiệp hội kế toán quốc tế thì tiêu thụ hàng hoá, lao vụ
dịch vụ là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hoá, lao vụ dịch vụ đã thực
hiện cho khách hàng, đồng thời thu đợc tiền hàng hoặc đợc quyền thu tiền bán
hàng.
Nh vậy, tiêu thụ là khâu quan trọng của hoạt động thơng mại doanh
nghiệp, tức là thực hiện mục đích của sản xuất và tiêu dùng, đa sản phẩm hàng
hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Tiêu thụ là khâu trung gian, là cầu nối
giữa một bên là sản xuất một bên là tiêu dùng. Ngày nay thì tiêu thụ còn đợc
hiểu theo nghĩa rộng hơn, tiêu thụ là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu,
từ việc nghiên cứu thị trờng, xác định nhu cầu khách hàng, tổ chức mua hàng và
xuất bán theo yêu cầu của khách hàng nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất.
Qua tiêu thụ mới khẳng định đợc năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.
Sau tiêu thụ doanh nghiệp không những thu hồi đợc tổng chi phí bỏ ra mà còn
thực hiện đợc một phần giá trị thặng d. Phần thặng d này chính là phần quan
trọng đóng góp vào ngân sách nhhà nớc, mở rộng quy mô kinh doanh.
Tuy nhiên, mục tiêu của các doanh nghiệp không phải là tiêu thụ đợc
nhiều hàng hoá mà từ những hoạt động này phải đem lại lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Đây mới là điều mà các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm, kết quả của
hoạt động tiêu thụ có vị trí quyết định sự tồn tại, phát triển hay suy thoái của
doanh nghiệp.
b- Khái niệm kết quả tiêu thụ.
Kết quả hoạt động tiêu thụ là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng về tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá , lao vụ, dịch vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh
chính và kinh doanh phụ đợc thể hiện qua chỉ tiêu lãi hoặc lỗ. Nói cách khác,
đây là phần chênh lêch giữa một bên là doanh thu thuần của tất cả các hoạt
động với một bên là toàn bộ chi phí đă bỏ ra. Số chênh lệch sẽ là chỉ tiêu cuối
cùng.
Kết quả hoạt động tiêu thụ đợc xác định nh sau:
Lãi(lỗ) = Tổng doanh thu bán hàng Tổng chi phí liên quan
Tổng chi phí = Tổng số thuế - Giảm giá - Doanh thu hàng
TTĐB, XK hàng bán bị trả lại
- Tổng giá vốn - Chi phí - Chi phí quản lý
hàng bán bán hàng doanh nghiệp
= Tổng DTT - Tổng GVHB - CPBH - CPQLDN
= Tổng lợi nhuận gộp - CPBH - CPQLDN
Tuỳ thuộc vào phơng pháp tính thuế giá trị gia tăng , nội dung của các
chỉ tiêu trên liên quan đến doanh thu và kết quả có sự khác nhau .
Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ , chỉ
tiêu doanh thu bán hàng , giảm giá , doanh thu hàng bán bị trả lại là giá bán
hay hay thu nhập cha có thuế GTGT . Ngợc lại , đối với các doanh nghiệp tính
thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp hoặc đối với các đối tợng không chịu
thuế GTGT, trong chi phí bao gồm cả thuế GTGT đầu vào và trong doanh thu
gồm cả thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt đầu ra (kể cả các
khoản phụ thu và phí thu thêm - nếu có ). Vì thế, các chỉ tiêu về doanh thu bán
hàng, giảm giá, doanh thu hàng bán trả lại đều bao gồm cả thuế GTGT đầu ra.
Các chỉ tiêu liên quan đến bán hàng đợc xác định nh sau:
* Doanh thu bán hàng : Là tổng giá trị đợc thực hiện do việc bán hàng
hoá, sản phẩm, cung cấp lao vụ, dịch vụ cho khách hàng. Tổng số doanh thu
bán hàng là số tiền ghi trên hoá đơn bán hàng, trên hợp đồng cung cáp lao vụ,
dịch vụ.
Doanh thu bán hàng sẽ đợc ghi nhận khi tất cả các điều kiện sau đợc thoả
mãn:
+ Doanh nghiệp đã trao toàn bộ cho ngời mua phần lớn rủi ro cũng nh
những lợi ích của việc sở hữu tài sản đó.
+ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý tài sản nh là ngời sở
hữu tài sản đó và không còn nắm giữ quyền điều khiển có hiệu lực đối với tài
sản đó.
+ Giá trị các khoản doanh thu đợc xác định một cách chắc chắn.
+ Tơng đối chắc chắn rằng doanh nghiệp sẽ thu đợc các lợi ích kinh tế từ
giao dịch đó.
` + Chi phí phát sinh và sẽ phát sinh trong giao dịch đó đợc xác định một
cách chắc chắn.
Theo chuẩn mực này, quyết định việc đánh giá xem lúc nào là lúc doanh
nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích của việc sở hữu sang cho ngời
mua cần phải xác định cho từng trờng hợp của mỗi giao dịch. Nếu nh doanh
nghiệp vẫn còn chịu các rủi ro lớn của việc sở hữu tài sản thì giao dịch không
đợc coi là một hoạt động bán hàng và doanh thu khi đó không đợc ghi nhận và
ngợc lại doanh thu đợc ghi nhận chỉ khi tơng đối chắc chắn rằng doanh nghiệp
sẽ thu đợc các lợi ích đem lại từ giao dịch đó. Nh vậy, ta thấy kế toán Việt Nam
đã tiếp cận đợc với chuẩn mực kế toán quốc tế, đó là sự tiến bộ của chế độ kế
toán Việt Nam
Với mỗi phơng thức bán hàng thì thời điểm ghi nhận doanh thu đợc quan
niệm khác nhau:
- Trong trờng hợp bán lẻ hàng hoá, thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm
nhận báo cáo bán hàng của nhân viên bán hàng.
- Trong trờng hợp gửi đại lý bán hàng thì thời điểm ghi nhận doanh thu là thời
điểm nhận đợc báo cáo bán hàng của bên đại lý gửi.
- Trờng hợp bán buôn qua kho, bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao
trực tiếp thì thời điểm hàng hoá đợc xác nhận là tiêu thụ và doanh thu đợc ghi
nhận là khi đại diện bên mua ký nhận đủ hàng đã thanh toán tiền hàng hoặc
chấp nhận nợ.
- Trờng hợp bán buôn qua kho, bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức
chuyển hàng thì thời điểm ghi nhận doanh thu là khi thu tiền của bên mua hoặc
bên mua nhận đợc hàng và chấp nhận thanh toán.
Nh vậy, xét trên phạm vi nhất định thì khái niệm tiêu thụ của kế toán
Việt Nam đã có nhiều đổi mới tích cực trên cơ sở vận dụng kế thừa có chọn lọc
chuẩn mực kế toán quốc tế để ngày càng phù hợp với điều kiện kinh tế của
Việt Nam. Điều này là rất quan trọng, kế thừa đợc kinh nghiệm của các nớc đi
trớc, rút ngắn đợc khoảng cách lạc hậu cũng nh thời gian và chi phí bỏ ra cho
sự tiến bộ trong hệ thống kế toán nói riêng và cho sự phát triển đất nớc nói
chung.
* Giảm giá hàng bán : Là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hoá đơn
hay hợp đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt nh hàng kém
phẩm chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời gian, địa điểm
trong hợp đồng (do chủ quan của doanh nghiệp ). Ngoài ra, tính vào khoản
giảm giá hàng bán còn bao gồm khoản thởng khách hàng do trong một khoảng
thời gian nhất định đã tiến hành mua một khối lợng lớn hàng hoá trong một đợt
(hồi khấu) và khoản giảm trừ trên giá bán thông thờng vì mua khối lợng lớn
hàng hoá trong một đợt (bớt giá).
* Hàng bán bị trả lại: Là số hàng đã đợc coi là tiêu thụ (đã chuyển giao
quyền sở hữu, đã thu tiền hay đợc ngời mua chấp nhận) nhng bị ngời mua từ
chối trả lại do ngời bán không tôn trọng hợp đồng kinh tế dã ký kết nh không
phù hợp yêu cầu, tiêu chuẩn, quy cách kỹ thuật, hàng kém phẩm chất, không
đúng chủng loại Tơng ứng với hàng bán bị trả lại là giá vốn của hàng bị trả
lại (tính theo giá vốn khi bán) và doanh thu của hàng bán bị trả lại cùng với
thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng đã bán bị trả lại (nếu có).
* Doanh thu thuần là số chênh lệch giữa tổng số doanh thu với các khoản
giảm giá, chiết khấu thơng mại, doanh thu của số hàng bán bị trả lại, thuế tiêu
thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu.
Nh vậy, phân biệt giữa doanh thu bán hàng và doanh thu thuần là một sự
thay đổi hợp lý , đúng đắn của chế độ kế toán Việt nam, phù hợp với chuẩn
mực kế toán quốc tế. Tạo cho việc thanh toán đúng, đủ doanh thu thực nhận
cũng nh việc xác định thuế thu nhập nộp cho Ngân sách nhà nớc đợc chính xác
hơn .
*Giá vốn hàng bán : Là trị giá vốn của sản phẩm, vật t, hàng hoá, lao vụ,
dịch vụ tiêu thụ. Đối với sản phẩm, lao vụ, dịch vụ tiêu thụ giá vốn là giá thành
sản xuất (giá thành công xởng) hay chi phí sản xuất. Với vật t tiêu thụ, giá vốn
là giá thực tế ghi sổ, còn với hàng hoá tiêu thụ, giá vốn bao gồm trị giá mua của
hàng tiêu thụ cộng với chi phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ.
Để có số liệu hạch toán, cũng nh xác định kết quả bán hàng của doanh
nghiệp, cần phải xác định phơng pháp tính trị giá mua thực tế của hàng hoá đã
tiêu thụ trong kỳ của doanh nghiệp. Khi hàng hoá đã tiêu thụ và xác định đợc
doanh thu thì đồng thời giá trị hàng xuất kho hoặc gửi đi bán cũng đợc phản
ánh theo gía vốn hàng bán để xác định kết quả. Việc xác định giá vốn hàng
bán căn cứ vào điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và phơng pháp tính giá hàng
hoá mà doanh nghiệp áp dụng trên nguyên tắc là sử dụng phơng pháp nào thì
phải thống nhất trong niên độ kế toán.
Việc xác định đợc giá vốn của hàng bán ra là hết sức quan trọng, nó có
ảnh hởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh, đặc biệt trong nền kinh tế thị trờng
hiện nay còn nhiều biến động thì các doanh nghiệp càng phải quan tâm trong
việc lựa chọn phơng pháp xác định giá vốn thích hợp cho mình sao cho có lợi
nhất mà vẫn phản ánh đúng đợc trị giá vốn của hàng hoá theo quy định của Bộ
tài chính
* Lợi nhuận gộp : Là chỉ tiêu phản ánh số chênh lệch giữa doanh thu
thuần với giá vốn hàng bán phát sinh trong kỳ báo cáo .
* Chi phí bán hàng : Là một bộ phận của chi phí lu thông phát sinh dới
hình thái tiền tệ để thực hiện các nghiệp vụ bán hàng hoá kinh doanh trong kỳ
báo cáo. Chi phí bán hàng bao gồm những khoản chi phí phát sinh có liên quan
đến hoạt động tiêu thụ nh : Chi phí nhân viên bán hàng, vận chuyển bao bì,
hoa hồng trả cho đại lý
* Chi phí quản lý doanh nghiệp là một loại chi phí thời kỳ, đợc tính đến
khi hạch toán lợi tức thuần của kỳ báo cáo. Chi phí quản lý doanh nghiệp phản
ánh các khoản chi chung cho quản lý văn phòng và các khoản chi kinh doanh
không gắn đợc với các địa chỉ cụ thể trong cơ cấu tổ chức kinh doanh của
doanh nghiệp nh: Chi lơng nhân viên quản lý, đồ dùng văn phòng, chi tiếp
khách, công tác phí
2- Các phơng thức tiêu thụ
Phơng thức tiêu thụ cũng là một vấn đề hết sức quan trọng trong khâu
bán hàng, để đẩy nhanh đợc tốc độ tiêu thụ, ngoài việc nâng cao chất lợng, cải
tiến mẫu mã lựa chọn cho mình những phơng pháp tiêu thụ hàng hoá sao cho
có hiệu quả là điều tối quan trọng trong khâu lu thông, hàng hoá đến đợc ngời
tiêu dùng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. Việc áp dụng linh hoạt các ph-
ơng thức tiêu thụ góp phần thực hiện đợc kế hoạch tiêu thụ của doanh nghiệp.
Sau đây là một số phơng thức tiêu thụ chủ yếu mà các doanh nghiệp hay sử
dụng :
* Phơng thức bán buôn vận chuyển thẳng:
Theo phơng thức này, hàng hoá bán cho bên mua đuợc giao thẳng từ kho
của bên cung cấp hoặc giao thẳng từ nhà ga, bến cảng mà không qua kho của
doanh nghiệp bán buôn. Trong phơng thức này đợc thực hiện bằng 2 hình thức:
- Hình thức bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán: Doanh
nghiệp bán buôn và tiến hành thanh toán với bên cung cấp về việc mua hàng
đồng thời vừa tiến hành thanh toán với bên mua về bán hàng nghĩa là đồng thời
phát sinh cả nghiệp vụ mua hàng và cả nghiệp vụ bán hàng ở đơn vị bán buôn.
Chứng từ bán hàng là hoá đơn bán hàng do đơn vị bán buôn lập. Một liên của
chứng từ gửi theo hàng cùng với vận đơn cho bên mua, hai liên gửi về phòng kế
toán để làm thủ tục thanh toán tiền bán hàng tuỳ theo hợp đồng giữa các bên,
nếu hàng giao thẳng do đơn vị bán buôn chuyển cho bên mua bằng phơng tiện
vận tải của mình hoặc thuê ngoài thì số hàng này vẫn thuộc quyền sở hữu của
đơn vị bán buôn và chỉ chuyển quyền sở hữu khi bên mua đã trả tiền hoặc chấp
nhận trả tiền . Còn bên mua đến nhận hàng trực tiếp khi giao hàng xong thì số
hàng này đợc coi là tiêu thụ.
- Hình thức bán buôn vận chuyển thẳng không tham gia thanh toán, đơn
vị bán buôn là ngời chung gian giữa bên cung cấp với bên mua, khi đó đơn vị
bán buôn uỷ nhiệm cho bên mua trực tiếp nhận hàng và làm thủ tục thanh toán
tiềm mua hàng với bên cung cấp. Theo hình thức này đơn vị bán buôn không
phát sinh các nghiệp vụ về mua bán hàng mà chỉ đợc hởng thủ tục phí do bên
cung cấp hoặc bên mua trả.
* Bán buôn hàng qua kho: Là bán buôn hàng hoá mà hàng hoá đợc xuất
phát ra từ kho bảo quản của doanh nghiệp, theo phơng thức này gồm 2 hình
thức sau:
- Theo hình thức giao hàng trực tiếp tại kho thì bên mua căn cứ vào hợp
đồng đã ký kết uỷ nhiệm ngời của đơn vị mình trực tiếp đến nhận hàng tại kho
của đơn vị bán buôn. Chứng từ bán hàng là Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho.
Một liên của chứng từ giao cho ngời nhận hàng, hai liên gửi về phòng kế toán
làm thủ tục thanh toán tiền bán hàng. Số hàng đã giao nhận xong đợc gọi là
tiêu thụ.
- Theo hình thức chuyển hàng chuyển đi cho ngời mua, đơn vị bán buôn
căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết với bên mua tiến hành chuyển hàng cho
bên mua bằng phơng tiện vận chuyển tự có hoặc thuê ngoài. Số hàng gửi đi vẫn
thuộc quyền sở hữu của đơn vị bán buôn, chỉ khi nào đơn vị bán buôn nhận đợc
tiền bán hàng hoặc bên mua xác nhận đã nhận đợc hàng và chấp nhận thanh
toán mới đợc coi là tiêu thụ.
* Bán hàng theo phơng thức gửi hàng đại lý , ký gửi: Bên bán xuất giao
cho các đơn vị, cá nhân làm đại lý. Số hàng gửi giao cho đại lý vẫn thuộc quyền
sở hữu của đơn vị ,chỉ khi nào nhận thông báo của các đại lý thì số hàng gửi đại
lý mới chính thức coi là tiêu thụ.
* Phơng thức bán lẻ: Bán lẻ là hình thức bán hàng trực tiếp cho ngời tiêu
dùng, hàng hoá sẽ không tham gia vào quá trìng lu tông, thực hiện hoàn toàn
giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá. Theo phơng thức này có các hình thức
sau:
- Phơng thức bán hàng thu tiền trực tiếp: Ngời bán hàng trực tiếp thu tiền
của ngời mua hàng và giao hàng cho khách hàng. Hết ca, hết ngày bán hàng,
nhân viên bán hàng phải nộp tiền cho thủ quỹ và lấy giấy nộp tiền bán hàng sau
đó kiểm kê hàng tồn quầy để xác định số lợng hàng đã bán ra trong ngày và lập
báo cáo bán hàng.
- Phơng thức bán hàng thu tiền tập trung : là phơng thức bán hàng mà
nghiệp vụ giao hàng và thu tiền bán hàng là tách rời nhau . ở quầy hàng có
nhân viên thực hiện viết hoá đơn bán hàng giao cho ngời mua hàng đồng thời
thu tiền bán hàng của ngời mua hàng. Ngời mua hàng mang hoá đơn bán hàng
vừa nhận đến nhận hàng ở quầy hàng và trả hoá đơn cho ngời bán hàng. Hết ca,
hết ngày nhân viên bán hàng căn cứ vào hoá đơn hay kiểm kê hàng hoá tồn
quầy để xác định số lợng hàng hoá bán trong ngày, trong ca và lập báo cáo bán
hàng
*Phơng thức bán hàng trả góp: Bán hàng trả góp là việc bán hàng thu tiền
nhiều lần .Sản phẩm hàng hoá khi giao cho ngời mua thì đợc coi là tiêu thụ, ng-
ời mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua một phần , số tiền thanh
toán chậm phải chịu một tỷ lệ lãi nhất định .
* Phơng thức hàng đổi hàng: Để thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh
đồng thời giải quyết lợng hàng tồn kho , các doanh nghiệp có thể đổi sản phẩm
hàng hóa của mình để nhận các loại sản phẩm khác, sản phẩm khi bàn giao cho
khách hàng chính thức gọi là tiêu thụ.
Tóm lại, khi mà nền kinh tế càng phát triển thì càng xuất hiện nhiều ph-
ơng thức tiêu thụ khác nhau mỗi phơng thức đều có u và nhợc điểm của nó Do
đó, mỗi doanh nghiệp căn cứ vào đặc điểm hàng hoá, quy mô, vị trí của doanh
nghiệp mà lựa chon cho mình những phơng thức tiêu thụ hợp lý, sao cho chi phí
thấp nhất mà vẫn đạt hiệu quả tối u.
3. Yêu cầu, nhiệm vụ hạch toán
Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá.
Thông qua tiêu thụ, doanh nghiệp mới có nguồn để trang trải chi phí bỏ ra trên
cơ sở đó mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Việc doanh nghiệp lựa chọn
các kênh tiêu thụ hợp lý tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh tăng
tốc độ vòng quay của vốn thực hiện đựơc mục đích kinh doanh của doanh
nghiệp là lợi nhuận và làm thế nào để tạo ra nhiều lợi nhuận là mối quan tâm
của các doanh nghiệp điều đó phụ thuộc vào việc tổ chức kiểm soát các khoản
thu, các khoản chi phí và xác định, tính toán kết quả của các hoạt động kinh
doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Nh vậy, tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả kinh doanh có ý nghĩa
sống còn đối với sự tồn tại của doanh nghiệp. Vì vậy, kế toán tiêu thụ là khâu
rất quan trọng nó liên quan đến nhiều khâu của công tác kế toán, do đó nhiệm
vụ của kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thu bao gồm:
- Phản ánh giám đốc tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch tiêu thụ
hàng hoá và xác định kết qủa doanh của doanh nghiệp nh: mức bán ra, doanh
thu bán hàng về thời gian và địa điểm theo tổng số và theo từng nhóm hàng,
quan trọng nhất là chỉ tiêu lãi thuần về hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Phản ánh đầy đủ, kịp thời và chi tiết sự biến động của hàng bán ở tất cả trạng
thái: hàng đi đờng, hàng trong kho, trong quầy, hàng gia công, hàng gửi đại
lý nhằm đảm bảo hàng hoá ở cả hai chỉ tiêu hiện vật và giá trị.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định
kết quả kinh doanh cần chú ý những yêu cầu sau:
- Xác định đúng thời điểm hàng hoá đợc coi là tiêu thụ để kịp thời lập
báo cáo bán hàng và phản ánh doanh thu. Báo cáo thờng xuyên, kịp thời tình
hình bán hàng và thanh toán với khách hàng chi tiết theo từng loại, từng hợp
đồng kinh tế nhằm giám sát chặt chẽ hàng bán về số lợng, chất lợng thời gian
đôn đốc việc thu tiền khách hàng nộp tiền về quỹ.
- Tổ chức hệ thống chứng từ ban đầu và trình tự luân chuyển chứng từ
hợp lý. Các chứng từ ban đầu phải đầy đủ hợp pháp, luân chuyển khoa học, hợp
lý, không quá phức tạp mà vẫn đảm bảo yêu cầu quản lý, nâng cao hiệu quả
công tác kế toán.
- Xác định đúng và tập hợp đầy đủ chi phí bán hàng phát sinh trong quá
trình tiêu thụ hàng hoá cũng nh chi phí quản lý doanh nghiệp, phân bổ chi phí
hợp lý cho hàng còn lại cuối kỳ và kết chuyển chi phí cho hàng tiêu thụ trong
kỳ để xác định kết quả kinh doanh chính xác.
III. Hạch toán tiêu thụ trong các doanh nghiệp áp dụng phơng
pháp kê khai thờng xuyên (KKTX)
Phơng pháp KKTX là phơng pháp theo dõi phản ánh thờng xuyên, liên
tục có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho vật t, hàng hoá trên sổ kế toán.
Trong trờng hợp áp dụng phơng pháp KKTX các tài khoản kế toán hàng tồn
kho đựơc dùng để phản ánh số hiện có, tình hình biến động tăng giảm của vật t,
hàng hoá.Vì vậy, giá trị vật t, hàng hoá tồn kho trên sổ kế toán có thể đợc xác
định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kế toán. Cuối kỳ kế toán, căn cứ vào số
liệu kiểm kê thực tế vật t , hàng hoá tồn kho trên sổ kế toán. Về nguyên tắc số
tồn kho thực tế phù hợp với số tồn kho trên sổ kế toán nếu có chênh lệch phải
truy tìm nguyên nhân và có giải pháp sử lý kịp thời.
1-Tài khoản hạch toán bán hàng.
Để hạch toán tiêu thụ thành phẩm kế toán sử dụng các tài khoản sau:
- TK156 Hàng hoá : Dùng để phản ánh trị giá thực tế hàng hoá tại kho, tại
quầy, chi tiết theo từng kho, quầy, từng loại, nhóm hàng hoá.
+ Bên nợ: Phản ánh các nghiệp vụ làm tăng giá thực tế hàng hoá tại kho,
quầy (giá mua và chi phí thu mua)
+ Bên có: - Trị giá mua của hàng xuất kho, quầy.
- Phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ.
TK156 đợc chi tiết thành:
- 1561: Giá mua hàng hoá
- 1562: Chi phí mua hàng hoá
- Tài khoản 511 Doanh thu bán hàng: Phản ánh doanh thu bán hàng cùng các
khoản nh giảm doanh thu từ đó tính doanh thu thuần về tiêu thụ bên ngoài.
Nội dung kết cấu tài khoản này nh sau:
+Bên nợ : - Số thuế phải nộp (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu) tính
trên doanh số bán trong kỳ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét