LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "khắc phục mặt tiêu cực của kinh tế thị trường ở việt nam": http://123doc.vn/document/1052238-khac-phuc-mat-tieu-cuc-cua-kinh-te-thi-truong-o-viet-nam.htm
xuống. Nhng hạn chế của ông là không phân biệt đợc lợi nhuận và giá trị
thặng d.
3. Học thuyết giá trị thặng d của kinh tế chính trị học Mác-Lênin:
Mác viết: Tôi là ngời đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao
động biểu hiện trong hàng hoá.
Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị lao động vì
lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt là lao động cụ thể và lao động
trừu tợng.Lao động của ngời sản xuất hàng hoá nếu coi là sự hao phí sức
lực của con ngời nói chung, không kể hình thức cụ thể của nó nh thể nào
gọi là lao động trừu tợng.
Lao động bao giờ cũng là sự hao phí sức óc, sức thần kinh và bắp thịt
của con ngời. Nhng bản thân sự hao phí lao động về mặt sinh lý đó cha phải
là lao động trừu tợng. Chỉ trong xã hội có sản xuất hàng hoá mới có sự cần
thiết khách quan phải qui các lao động cụ thể khác nhau vốn không thể so
sánh đợc với nhau thành một thứ lao động đồng nhất có thể so sánh với
nhau đợc, tức là phải qui lao động cụ thể thành lao động trừu tợng. Vì vậy,
lao động trừu tợng là một phạm trù lịch sử. Lao động trừu tợng nó tạo ra
giá trị của hàng hoá.
Mác và Anghen cũng là ngời đầu tiên xây dựng lý luận về giá trị thặng
d một cách hoàn chỉnh vì vậy, lý luận giá trị thặng d đợc xem là hòn đá tảng
to lớn nhất trong toàn bộ học thuyết kinh tế của Mác. Qua thực tế xã hội t
bản lúc bấy giờ Mác thấy rằng giai cấp t bản thì ngày càng giàu thêm còn
giai cấp vô sản thì ngày càng nghèo khổ và ông đã đi tìm hiểu nguyên nhân
vì sao lại có hiện tợng này. Cuối cùng, ông đã phát hiện ra rằng nếu t bản là
T đa vào quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá thì số tiền thu về lớn hơn
số tiền ứng ra. Ta gọi là T
(T
> T ) hay: T
= T + T
CMác gọi T là giá trị thặng d. Ông cũng thấy rằng mục đích của lu
thông tiền tệ với t cách là t bản không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị.
mục đích lu thông T - H - T
là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng d lên sự
vận động T - H - T
là không có giới hạn. Công thức này đợc Mác gọi là
công thức chung của t bản.
Vậy giá trị thặng d (m) là phần giá trị mới dôi ra ngoài ra trị sức lao
động do công nhân tạo ra và bị nhà t bản chiếm đoạt. Qua đó chúng ta thấy
t bản là giá trị đem lại giá trị thặng d bằng cách bóc lột công nhân làm thuê.
học viện ngân hàng Lớp K29G
Phân viện Bắc Ninh
Đề án kinh tế chính trị Lơng Thị Kim Dung
Để nghiên cứu yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị thặng d trong quá trình sản
xuất của t bản, CMác đã chia t bản ra làm hai bộ phận: t bản bất biến và t
bản khả biến.
Bộ phận t bản tồn tại dới hình thái t liệu sản xuất mà giá trị đợc bảo
tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lợng trong quá
trình sản xuất gọi là t bản bất biến, ký hiệu là C. Còn bộ phận t bản biểu
hiện dới hình thức giá trị sức lao động trong quá trình sản xuất đã tăng thêm
về lợng gọi là t bản khả biến, ký hiệu là V.
Nh vậy, muốn cho t bản khả biến hoạt động đợc phải có một t bản bất
biến đã đợc ứng trớc với tỉ lệ tơng đơng. Và qua sự phân chia này ta nhận
thấy t bản khả biến tạo ra giá trị thặng d vì nó dùng để mua sức lao động.
Còn t bản bất biến thì có vai trò gián tiếp trong việc tạo ra giá trị thặng d.
Từ đây ta có thể kết luận: Giá trị của một hàng hoá bằng giá trị t bản bất
biến mà nó chứa đựng, cộng với sự tăng thêm t bản bất biến đó (tức là giá
trị thặng d đã đợc sản xuất ra). Nó đợc biểu hiện bằng công thức:
Giá trị = C + V + m
Giá trị t liệu sản xuất chuyển vào sản phẩm C. Giá trị sức lao động của
ngời công nhân (mà nhà t bản trả cho ngời công nhân) là V. Giá trị mới do
ngời công nhân sáng tạo ra: V + m.
Nh thế nhà t bản bỏ ra một lợng t bản để tạo ra giá trị là C + V. Nhng
giá trị mà t bản thu vào là C + V + m. Phần m dôi ra là phần mà nhà t bản
bóc lột của ngời công nhân.
ở trên chúng ta đã nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng d. Nhng
muốn hiểu hơn về nó ta cần phải nghiên cứu bóc lột t bản về mặt lợng. Các
phạm trù tỷ suất giá trị thặng d và khối lợng giá trị thặng d mà ta nghiên
cứu sau đây sẽ biểu hiện về mặt lợng của sự bóc lột.
Tỷ suất giá trị thặng d là tỷ số giữa giá trị thặng d và t bản khả biến.
Ký hiệu là m ta có:
Tỷ suất giá trị thặng d=m/V
Tỷ suất giá trị thặng d nói lên lợng giá trị mà nhà t bản chiếm đoạt của
công nhân. Nếu gọi M là khối lợng giá trị thặng d mà công nhân tạo ra, ta
có:
M=m x V
học viện ngân hàng Lớp K29G
Phân viện Bắc Ninh
Đề án kinh tế chính trị Lơng Thị Kim Dung
M nói lên qui mô bóc lột của nhà t bản đối với công nhân. Nhà t bản
luôn tìm cách tạo ra giá trị thặng d nhiều nhất bằng nhiều cách, bằng nhiều
thủ đoạn. Trong đó Mác chỉ ra hai phơng pháp mà chủ nghĩa t bản sử dụng
đó là sản xuất giá trị thặng d tơng đối và sản xuất giá trị thặng d tuyệt đối.
Ngoài ra còn có phơng pháp sản xuất giá trị thặng d siêu ngạch.
Mác đã chỉ ra trong những giai đoạn phát triển siêu ngạch chủ nghĩa t
bản, khi kỹ thuật còn thấp hay tiến bộ chậm thì việc tăng giá trị thặng d
tuyệt đối bằng cách kéo daì tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời
gian lao động cần thiết hay không thay đổi. Nhng phơng pháp này còn có
hạn chế về thời gian, về thể chất và tinh thần của ngời công nhân. Sự bóc lột
này đã dẫn đến nhiều cuộc bãi công, đấu tranh của các nghiệp đoàn. Mặt
khác đến giai đoạn phát triển sản xuất bằng cơ khí, khi mà kỹ thuật phát
triển cao có thể làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các
nhà t bản dựa vào tăng năng suất lao động để tăng giá trị thặng d và nâng
cao trình độ bóc lột.
Nhà t bản sản xuất ngày càng tăng giá trị thặng d bằng cách rút ngắn
thời gian lao động cần thiết do đó kéo dài tơng ứng thời gian lao động thặng
d trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi. Phơng pháp này gọi là
phơng pháp sản xuất giá trị thặng d tơng đối, phơng pháp này không có giới
hạn.
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng d chỉ là sự hiểu hiện qua sảu phẩm còn
thực tế để thu đợc tiền thì sự chuyển hoá đó phải nh thế nào. Vì công thức
chung của chủ nghĩa t bản là T - H - T nên mục đích cuối cùng của nhà t bản là
thu đợc T còn giá trị thặng d chỉ là nền tảng để thu đợc T (T > T). Mác đã
giúp ta giải quyếtvấn đề này vì ông đã tìm ra một đại lợng biểu hiện giá trị
thặng d đó là lợi nhuận (P). Do đó các giá trị thặng d khi đợc đem so sánh với
tổng t bản ứng trớc thì mang hình thức biến tớng thành lợi nhuận. Từ đó có thể
thấy P chính là con đẻ của tổng t bản ứng trớc: C+V.
chi phí thực tế xã hội và chi phí sản xuất t bản chủ xuất phát từ giá
trị hàng hoá: C+V+m. Muốn sản xuất hàng hoá phải chi phí một lao động
nhất định bao gồm chi phí cho mua t liệu sản xuất C gọi là lao động quá
khứ và lao động tạo ra giá trị mới (V+m). Đứng trên quan điểm toàn xã hội,
quan điểm của ngời lao động thì chi phí đó là chi phí thực tế để tạo ra giá trị
hàng hoá (C+V+m). Nhng đối với nhà t bản thì họ không hao phí lao động
học viện ngân hàng Lớp K29G
Phân viện Bắc Ninh
Đề án kinh tế chính trị Lơng Thị Kim Dung
để sản xuất ra hàng hoá nên là t bản chỉ xem hết bao nhiêu t bản chứ không
tính xem chi phí hết bao nhiêu lao động cần thiết. Thực tế họ chỉ ứng ra sờ
t bản để mua t liệu sản xuất (C) và mua sức lao động (V). Chi phí đó đợc
Mác gọi là chi phí t bản chủ nghĩa và ký hiệu là k(k= c + v).
Giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa có sự chênh lệch
nhau một lợng đúng bằng m. Do đó nhà t bản bán hàng hoá sẽ thu về một
phần lời đúng bằng giá trị thặng d m, số tiền này gọi là lợi nhuận.
Giá trị hàng hoá lúc này bằng chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa cộng
với lợi nhuận.
Giá trị = k + P
Về mặt lợng P có nguồn gốc là kết quả lao động không công của công
nhân làm thuê.
Tỷ suất lợi nhuận (P) là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị
thặng d và toàn bộ t bản ứng trớc.
P =
m.100%
C + V
Tỷ suất lợi nhuận không phản ánh trình độ bóc lột của nhà t bản mà nó
nói lên mức lãi của việc đầu t. Nó cho nhà t bản biết họ đầu t vào đâu thì có
lợi. Do đó việc thu lợi nhuận - P và theo đuổi tỷ suất lợi nhuận - P là động
lực thúc đẩy nhà t bản, là mục tiêu cạnh tranh của các nhà t bản. Do mục
tiêu đạt đợc lợi nhuận cao nhất nên giữa các nhà t bản luôn luôn diễn ra sự
cạnh tranh gay gắt. Các quá trình cạnh tranh của nhà t bản đợc Mác phân
chia thành hai loại: Cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp
trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm mục đích
tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch.
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các nhà t bản ở các
ngành sản xuất khác nhau nhằm tìm nơi đầu t có lợi hơn. ở các ngành khác
nhau, sản xuất khác nhau do đó có những điều kiện khác nhau, tỷ suất lợi
nhuận khác nhau. Các nhà sản xuất chọn những điều kiện sản xuất có lợi
cho mình nhất để thu đợc nhiều lợi nhuận, các nhà t bản thì tìm nơi để đầu
t thu đợc lợi nhuận cao nhất đối với họ. C.Mác viết: Do ảnh hởng của cạnh
tranh những tỷ suất lợi nhuận khác nhau đó san bằng đi thành một tỷ suất
lợi nhuận chung, đó là con số bình quân của tất cả những tỷ suất lợi nhuận
khác nhau. Lợi nhuận của một t bản có một lợng nhất định thu đợc, theo tỷ
học viện ngân hàng Lớp K29G
Phân viện Bắc Ninh
Đề án kinh tế chính trị Lơng Thị Kim Dung
suất lợi nhuận chung đó, không kể cấu tạo hiện có nh thế nào gọi là lợi
nhuận bình quân.
Quá trình bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận là sự hoạt động của quy luật
tỷ suất lợi nhuận bình quân trong xã hội t bản. Sự hoạt động của quy luật tỷ
suất lợi nhuận bình quân trong xã hội t bản biểu hiện bởi sự hoạt động của
quy luật giá trị thặng d trong thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa t bản.
Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân đã
che dấu hơn nữa thực chất bóc lột của chủ nghĩa t bản. Sự hình thành P và
P không làm chấm dứt quá trình cạnh tranh trong xã hội t bản, trái lại cạnh
tranh vẫn tiếp diễn.
Cùng với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân ta thấy một bộ
phận hàng hoá đợc bán cao hơn giá trị của chúng, còn bộ phận khác lại bán
thấp hơn giá trị của chúng cũng theo một tỷ lệ nh thế. Chỉ có bán hàng hoá
theo những giá cả đó thì tỷ suất lợi nhuận trong các công ty mới có thể
đồng nhất và ngang với nhau, dù cấu thành hữu cơ của các nhà t bản đều
khác nhau. Những giá cả có đợc bằng cách lấy chi phí sản xuất của hàng
hoá cộng với lợi nhuận bình quân gọi là giá cả sản xuất.
Vậy: Giá cả sản xuất = k +
P
Trớc đây khi cha xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả xoay
quanh giá trị hàng hoá. Giờ đây giá cả của hàng hoá xoay quanh giá cả sản
xuất. Về mặt lợng, giá cả sản xuất và giá trị có thể không bằng nhau. Chính
trong mối quan hệ này, giá trị vẫn là cơ sở, là nội dung bên trong của giá cả
sản xuất, giá cả thị trờng.
Nh vậy lợi nhuận đợc tạo ra từ sản xuất, giờ ta sẽ xét đến các hình thức
chuyển hoá của lợi nhuận.
II - Các hình thức chuyển hoá của lợi nhuận.
Lợi nhuận đợc chuyển hoá thành: lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận th-
ơng nghiệp,lợi tức và tỷ suất lợi tức, lợi nhuận ngân hàng địa tô, lợi nhuận
độc quyền.
1. Lợi nhuận công nghiệp
Trong công nghiệp để cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho thị trờng các
nhà sản xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh, họ
muốn chi phí cho các đầu vào ít nhất và bán hàng hoá với giá cao nhất để
học viện ngân hàng Lớp K29G
Phân viện Bắc Ninh
Đề án kinh tế chính trị Lơng Thị Kim Dung
khi trừ đi các chi phí còn số d dôi để không chỉ sản xuất giản đơn mà còn
tài sản xuất mở rộng không ngừng tích luỹ phát triển, sản xuất, củng cố và
tăng cờng vị trí của mình trên thị trờng. Lợi nhuận ở đây chính là phần
chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Cần tối đa hoá lợi nhuận
hoặc cực tiểu hoá chi phí sản xuất là hành vi làm tăng lợi nhuận hoặc giảm
chi phí sản xuất, tức là phải làm gì để đạt đợc lợi nhuận cực đại cho doanh
nghiệp. Tổng doanh thu của doanh nghiệp là số tiền mà doanh nghiệp kiềm
chế đợc nhờ bán hàng hoá,dịch vụ trong một thời kỳ nhất định. Trong tổng
doanh thu đó có một phần lợi nhuận kiếm đợc. Và quá trình bán này cũng
đợc t bản công nghiệp chia một phần lợi nhuận đó, một phần này gọi là lợi
nhuận thơng nghiệp.
2. Lợi nhuận thơng nghiệp
Chúng ta đã đề cập đến quan điểm của chủ nghĩa trọng thơng, ở đó họ
cho rằng lợi nhuận là kết quả của sự trao đổi không ngang giá. Họ coi trọng
thơng nghiệp là sự lừa gạt không một ngời nào thu đợc lợi mà không làm
thiệt kẻ khác. Quan điểm này hoàn toàn sai lầm và nguyên nhân của sự sai
lầm này là do họ tách rời quá trình lu thông và quá trình sản xuất ra khỏi
nhau.
Khác với t bản thơng nghiệp trớc, chủ nghĩa t bản thơng nghiệp hiện
đại thì t bản thơng nghiệp là một bộ phận của t bản công nghiệp tách rời ra
phục vụ quá trình lu thông hàng hoá của t bản công nghiệp. T bản thơng
nghiệp chỉ hạn chế ở chức năng mua và bán, nó không sáng tạo ra giá trị và
giá trị thặng d. Nó chỉ làm nhiệm vụ thực hiện giá trị và giá thặng d. Nhìn
bề ngoài lợi nhuận thơng nghiệp là do mua rẻ, bán đắt do lu thông tạo ra.
Nhng thực chất lợi nhuận thơng nghiệp là một phần giá trị thặng d đợc
sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà t bản công nghiệp nhờng cho
nhà t bản thơng nghiệp. Nhà t bản công nghiệp nhờng cho nhà t bản thơng
nghiệp một phần bởi vì t bản thơng nghiệp chỉ hoạt động trong lĩnh vực lu
thông đó là một khâu, một giai đoạn của quá trình sản xuất - tức là một
khâu trong quá trình chu chuyển của t bản, không có giai đoạn đó thì quá
trình tái sản xuất không thể tiếp tục đợc. Và dĩ nhiên nhà t bản thơng
nghiệp cũng không phải là hoạt động không công đợc mà họ cũng đòi hỏi
phải có lợi nhuận. Điều này bắt buộc nhà t bản công nghiệp phải nhờng một
học viện ngân hàng Lớp K29G
Phân viện Bắc Ninh
Đề án kinh tế chính trị Lơng Thị Kim Dung
phần lợi nhuận của mình cho t bản thơng nghiệp. Vậy: lợi nhuận thơng
nghiệp là số chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hoá.
Nhng điều đó không có nghĩa là nhà t bản thơng nghiệp bán hàng hoá
cao hơn giá trị của nó, mà là nhà t bản thơng nghiệp mua hàng hoá thấp hơn
giá trị và khi bán thì anh ta bán đúng giá trị của nó. Và vì nhà t bản thơng
nghiệp tham gia vào việc phân chia giá trị thặng d (m) cho nên đời sống của
xã hội t bản hai loại giá sản xuất: Giá cả sản xuất công nghiệp và giá cả sản
xuất thực tế. Sự hình thành lợi nhuận thơng nghiệp đã che dấu thêm một b-
ớc quan hệ bóc lột t bản chủ nghĩa. Do việc phân phối lợi nhuận giữa t banr
công nghiệp và t bản thơng nghiệp diễn ra theo quy luật tỷ suất lợi nhuận
bình quân thông qua cạnh tranh.
3. Lợi tức và tỉ suất lợi tức
Trong quá trình tuần hoàn và chu chuyển của t bản công nghiệp luôn
có số t bản tiền tệ ứng trớc tạm thời nhàn rỗi ví dụ nh tiền lơng quỹ khấu
hao của t bản cố định, tiền dùng để mua nguyên vật liệu nhng cha đến kỳ
mua và bộ phận giá trị thặng d tích lũy (dới dạng tiền T) để mở rộng sản
xuất nhng cha sử dụng đến,
Số tiền nhàn rỗi nh thế không đem lại một thu nhập nào cho nhà t bản.
Nhng đối với nhà t bản thì tiền phải đẻ ra tiền. Vì vậy nhà t bản cho ngời
khác vay để lấy lãi. Tổng số giá trị mà anh ta cho ngời khác vay là t bản cho
nên nó sẽ quay trở về tay anh ta. Nhng nếu chỉ có việc tổng số giá trị ấy
quay trở về tay anh ta thôi, thì đó không phải là sự quay trở về của một giá
trị đã đem cho vay với t cách là t bản, mà chỉ là việc hoàn lại một giá trị đã
cho vay. Muốn quay trở về với t cách là t bản, thì tổng số giá trị ứng ra
không những phải vẫn giữ đợc nguyên vẹn, mà còn phải sinh sôi nảy nở và
tăng thêm lên trong quá trình vận động. Tức là nó phải quay về kèm theo
một giá trị thặng d: T + T, và ở đây, T này là lợi tức hay là cái phần lợi
nhuận trung bình không nằm lại ở trong tay nhà t bản hoạt động, mà rơi vào
tay nhà t bản tiền tệ. Việc nhà t bản tiền tệ cho các nhà t bản vay tiền còn đ-
ợc gọi là T bản cho vay - Và nguồn gốc của lợi tức chính là một phần giá trị
thặng d do công nhân sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất. Nhng việc nhà t
bản cho vay thu đợc lợi tức che dấu mất thực chất bóc lột t bản chủ nghĩa.
Dựa vào công thức vận động t bản cho vay ở trên chúng ta hoàn toàn vạch
trần đợc điều đó.
học viện ngân hàng Lớp K29G
Phân viện Bắc Ninh
Đề án kinh tế chính trị Lơng Thị Kim Dung
Lợi tức vận động theo quy luật tỉ suất lợi tức. Tỷ suất lợi tức là tỉ lệ
tính theo % giữa tổng số lợi tức và số t bản tiền tệ cho vay. Tỷ suất lợi tức
cao hay thấp phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận bình quân, tỷ lệ phân chia lợi
nhuận thành lợi tức và thu nhập của xí nghiệp mà nhà t bản hoạt động, phụ
thuộc vào quan hệ cung cầu của t bản cho vay.
4. Lợi nhuận ngân hàng
Lợi nhuận ngân hàng là thu nhập của nhà t bản ngân hàng khi kinh
doanh nghiệp vụ ngân hàng. Trong CNTB, lợi nhuận ngân hàng là hình thái
biến tớng riêng biệt của giá trị thặng d. Nghiệp vụ chính của ngân hàng là
thu nhận tiền gửi và cho vay. Lợi tức của việc cho vay của ngân hàng lớn
hơn lợi tức tiền gửi, con số chênh lệch ấy là nguồn gốc của lợi nhuận ngân
hàng. Tuy vậy không phải toàn bộ con số chênh lệch ấy đều là lợi nhuận
ngân hàng mà là lợi nhuận ngân hàng chỉ là con số còn lại sau khi đã trừ đi
một phần để bù vào chi phí nghiệp vụ ngân hàng (lơng nhân viên, sổ
sách, ).
Ngân hàng cho các nhà trực tiếp kinh doanh vay. Nhà t bản lấy số tiền
đó để sản xuất ra giá trị thặng d (t bản công nghiệp) hoặc thực hiện giá trị
thặng d (t bản thơng nghiệp), sau đó đem một phần giá trị thặng d thu đợc
làm thành lợi tức trả cho ngân hàng. Do đó lợi nhuận ngân hàng cũng là giá
trị thặng d.
Sự cạnh tranh giữa các ngành trong xã hội t bản cũng là do lợi nhuận
ngân hàng bằng lợi nhuận bình quân, nếu không chủ ngân hàng sẽ chuyển
vốn sang kinh doanh ngành khác.
5. Địa tô:
Nhà t bản kinh doanh nông nghiệp phải thuê ruộng đất và thuê công
nhân để tiến hành sản xuất. Do đó t bản phải tính ra một phần giá trị thặng
d do công nhân tạo ra để trả cho địa chủ dới hình thức địa tô.
Địa tô TBCN là phần giá trị thặng d còn lại sau khi đã trừ đi phần lợi
nhuận bình quân của nhà t bản kinh doanh ruộng đất.
Địa tô = m -
P
học viện ngân hàng Lớp K29G
Phân viện Bắc Ninh
Đề án kinh tế chính trị Lơng Thị Kim Dung
chơng ii: vai trò của lợi nhuận
trong nền kinh tế việt nam hiện nay.
I - Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trờng
1. Lợi nhuận thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển
Lợi nhuận đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế. Nó ảnh hởng tới cả
chính trị xã hội, văn hoá, nó len lỏi vào mọi mặt của đời sống xã hội trong
mọi nền kinh tế thị trờng. Mà ta vẫn biết rằng mọi sự vật hiện tợng đều có
tính hai mặt của nó là tích cực và tiêu cực nh thế nào đó để phát huy mọi
tính u việt và vai trò của lợi nhuận.
Với mục đích lợi nhuận các nhà t bản tìm đủ mọi cách để có đợc nhiều
lợi nhuận. Trớc đây họ có thể tạo ra lợi nhuận bằng cách kéo dài ngày lao
động của công nhân nhng phơng pháp đó đã gặp phải sự chống đối mãnh
liệt của công nhân chính vì lẽ đó mà họ chuyển sang bóc lột một cách tinh
vi hơn. Nhà t bản áp dụng kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất và bắt buộc
ngời công nhân phải làm việc có năng suất cao hơn. Nhng chính mục đích
áp dụng kỹ thuật mới đã làm cho các nhà t bản đầu t ngày càng nhiều vào
khoa học kỹ thuật đặc biệt là vấn đề nghiên cứu, cho nên nó đã khuyến
khích các tài năng cá nhân phát triển do vậy mà những phát minh lần lợt đ-
ợc ra đời đặc biệt trong thế kỷ XIX đến XX. Nó đã đa lực lợng sản xuất
phát triển một cách nhanh chóng yếu tố này đã giúp cho nhà t bản không
chỉ thu đợc lợi nhuận đơn thuần mà còn thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Ngời
công nhân chính là ngời trực tiếp sử dụng, vận hành công nghệ mới vì vậy
để quá trình sử dụng đợc tiếp diễn với hiệu quả kinh tế cao thì ngời công
nhân bắt buộc phải nâng cao trình độ, nâng cao tay nghề nếu không họ sẽ bị
đào thải bởi quy luật phát triển. Còn về mặt nhà t bản thì họ cũng hiểu rằng
để đạt đợc hiệu quả cao, tận dụng đợc hết các chức năng của công nghệ tiên
tiến thì họ phải có một đội ngũ công nhân lành nghề với trình độ kỹ thuật
cao. Vì vậy quá trình đầu t cho chiến lợc nâng cao trình độ lao động của
nhà t bản và yêu cầu cấp thiết phải nâng cao trình độ của mình của ngời
công nhân đã diễn ra. Qua đó trình độ của ngời công nhân từng bớc đợc
nâng cao trình độ trở thành yêu cầu tất yếu của các nớc phát triển và các n-
học viện ngân hàng Lớp K29G
Phân viện Bắc Ninh
Đề án kinh tế chính trị Lơng Thị Kim Dung
ớc đang phát triển. Do nhận biết đợc vai trò quan trọng của những lao động
có tay nghề cao nên hiện nay đang diễn ra tình trạng mua chuộc, lôi kéo
những nhà khoa học, những công nhân giỏi về phía mình bằng các biện
pháp kinh tế, tinh thần. Điều này dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám ở
các nớc đang phát triển trở thành một tình trạng báo động cần ngăn chặn.
2. Lợi nhuận thúc đẩy quan hệ sản xuất phát triển
Ta đã biết lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện
chứng với nhau, lực lợng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất chính vì lẽ
đó lợi nhuận thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển thì ắt phải khiến cho quan
hệ sản xuất phát triển theo.
Do tác động của lợi nhuận, do sự phân chia lợi nhuận dới hình thức
nhiều hình thức khác nhau một cách hết sức chặt chẽ giữa các bên tham gia
vào quá trìn phân chia đã làm cho chế độ sở hữu ngày càng đợc củng cố và
phát triển. Quan hệ sở hữu từng bớc đợc thắt chặt hơn, rõ ràng hơn giữa nhà
t bản và ngời lao động nói riêng, giữa các cá nhân trong xã hội nói chung.
Bên cạnh đó mục đích lợi nhuận luôn đặt các nhà kinh tế, các tổ chức
kinh tế trớc yêu cầu "hiệu quả". Làm thế nào để chi phí ít nhất mà lợi nhuận
thu về là lớn nhất. Điều đó đòi hỏi tính chuyên môn hoá cao và sự sắp xếp
lại các tổ chức quản lý. Có thể giảm biên chế một số bộ phận không cần
thiết, hoạt động không có hiệu quả. Tổ chức lại các bộ phận quản lý và thiết
lập mối quan hệ giữa chúng để quá trình hoạt động đợc nhịp nhàng thông
suốt tránh sự trì trệ không cần thiết trong một số khâu nào đó làm ảnh hởng
tới cả hệ thống quản lý. Hạn chế bớt một bộ phận quản lý cồng kềnh còn
giúp cho các nhà kinh tế giảm bớt đợc một phần chi phí (tiền lơng) đồng
nghĩa với việc tăng lợi nhuận.
Xuất phát từ mục tiêu ổn định và phát triển có kế hoạch phân bổ lực l-
ợng lao động hợp lý, trong nền kinh tế phải cân đối tốt để khai thác tốt
nguồn tài nguyên, kết hợp hặt chẽ và thích đáng lợi ích xã hội, tập thể và cá
nhân ngời lao động, giáo dục quan điểm thái độ và kỹ thuật cho ngời lao
động. Tất cả những vấn đề đặt ra ở trên đều xuất phát từ lợi nhuận, chính nó
đã thúc đẩy quá trình phân phối theo lao động diễn ra mạnh mẽ theo
nguyên tắc làm nhiều thì hởng nhiều, làm ít hởng ít. Nhng cùng với sự phát
triển của kinh tế thì ngoài phân phối theo lao động còn có sự phân phối
ngoài thù lao lao động thông qua các quỹ phúc lợi tập thể và xã hội Trong
học viện ngân hàng Lớp K29G
Phân viện Bắc Ninh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét