Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Lịch sử nhà Minh


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Lịch sử nhà Minh": http://123doc.vn/document/558369-lich-su-nha-minh.htm


Nhà Minh
Nhà Minh (Chữ Hán: 明 朝 ; Hán-Việt: Minh
Triều) là tên của triều đại cai trị Trung Quốc từ
1368 đến 1644. Đây là triều đại cuối cùng ở
Trung Quốc do tộc Hán lãnh đạo, thay thế nhà
Nguyên của người Mông Cổ trước khi rơi vào
tay nhà Thanh của người Mãn Châu. Nhà Minh
cai trị toàn bộ Đại Minh Quốc ( 大 明 國 Dà
Míng Guó) hay nước Trung Quốc sau này. Dù
kinh đô nhà Minh, Bắc Kinh, thất thủ năm 1644,
con cháu họ vẫn kế tục ngôi vua và quyền lực
(hiện thường được gọi chung là Nhà Nam
Minh)cho tới tận năm 1662.
Dưới thời nhà Minh, một quân đội với lực lượng
thuỷ quân đông đảo được xây dựng, gồm cả
những chiếc thuyền bốn cột buồm với lượng giãn
nước 1.500 tấn và một đội quân thường trực lên
tới một triệu người. Hơn 100.000 tấn sắt được
sản xuất ra hàng năm tại Bắc Trung Quốc
(khoảng 1 kg trên đầu người), nhiều cuốn sách
được in theo kỹ thuật xếp chữ rời. Đã có những
tư tưởng phán kháng mạnh mẽ trong dân chúng
chống lại sự cai trị của bộ tộc "phi Hán" trong
thời nhà Thanh sau đó, và sự tái lập nhà Minh
luôn được kêu gọi thực hiện cho tới tận thời cận đại.
Mục lục
• 1 Khởi thủy
• 2 Tuyên nố Thiên Mệnh
• 3 Lịch sử
• 4 Chính phủ
• 5 Văn hóa và xã hội
• 6 Khoa học và kỹ thuật
• 7 Khám phá và cô lập
• 8 Chinh phục quân sự
• 9 Xây dựng Vạn lý trường thành
• 10 Ảnh hưởng văn hóa và chính trị
• 11 Chính trị nhà Minh
o 11.1 Chế độ phiên vương
o 11.2 Tập trung quyền lực
 11.2.1 Loại bỏ chức vụ Tể Tướng
 11.2.2 Quan liêu
 11.2.3 Mưu sát công thần
 11.2.4 Mạng lưới chỉ điểm
o 11.3 Hành chính
o 11.4 Luật pháp
1
Bản đồ Đại minh dưới thời Hoàng đế Vĩnh Lạc
o 11.5 Quân sự
o 11.6 Giáo dục và khao cử
o 11.7 Sưu dịch và tô thuế
o 11.8 Đẳng cấp phụ nữ
• 12 Ngoại giao
• 13 Kinh tế
o 13.1 Cách mạng nông nghiệp
o 13.2 Cách mạng thương mại
o 13.3 Thủ công nghiệp
o 13.4 Mạng lưới giao thông vận tải và tiền tệ
• 14 Thời kỳ cường thịnh của triều Minh
• 15 Suy tàn
o 15.1 Những người kế tục Thành Tổ
o 15.2 Hoạn quan nắm quyền
o 15.3 Khó khăn tài chính
o 15.4 Yếu kém quân sự
• 16 Sụp đổ
o 16.1 Sự xuất hiện của Mãn Châu
o 16.2 Lý Tự Thành khởi nghĩa
o 16.3 Nam Minh sụp đổ
o 16.4 Nguyên nhân thất bại
• 17 Kinh đô
o 17.1 Nam Kinh (1368-1421)
o 17.2 Bắc Kinh (1421-1644)
o 17.3 Các kinh đô phụ
• 18 Minh lăng
o 18.1 Hiếu Minh lăng
o 18.2 Thập Tam Lăng
o 18.3 Cây và bia mộ thời Minh
• 19 Dân số
• 20 Di sản
• 21 Các Hoàng đế Nhà Minh
• 22 Sự Kiện
• 23 Xem thêm
• 24 Đọc thêm
Khởi thủy
Hốt Tất Liệt thành lập ra đế quốc Đại Nguyên để cai trị các vùng đất nằm dưới sự thống trị của
người Mông Cổ. Đế quốc được chia thành nhiều Hãn quốc khác nhau, do những hoàng thân trong gia
tộc của Thành Cát Tư Hãn cai trị. Riêng vùng đất phát tích của người Mông Cổ và vùng lãnh thổ
Trung Quốc thuộc quyền quản lý trực tiếp của Đại Hãn. Theo nhiều nhà nghiên cứu, do sự kỳ thị của
người Mông Cổ với người Hán ở Trung Quốc là nguyên nhân số một dẫn tới sự chấm dứt của triều
đại này. Sự kỳ thị này dẫn tới những cuộc nổi dậy của nông dân buộc nhà Nguyên phải rút lui về các
thảo nguyên Mông Cổ. Tuy nhiên, những nhà sử học như JAG Roberts chưa chấp nhận giả thuyết đó.
Những nguyên nhân khác gồm việc phát hành quá nhiều tiền giấy khiến gia tăng lạm phát lên gấp
mười lần ở thời Thuận Đế, cùng với tình trạng lũ lụt của sông Hoàng Hà, hậu quả của tình trạng bỏ
bê các dự án tưới tiêu. Cuối thời nhà Nguyên, nông nghiệp trở nên trì trệ. Khi hàng trăm nghìn người
dân bị bắt đi làm phu tại sông Hoàng Hà, chiến tranh bùng nổ. Một số nhóm người Hán Trung Quốc
nổi loạn, cuối cùng nhóm do Chu Nguyên Chương lãnh đạo được giới trí thức ủng hộ trở nên lớn
2
Minh Thái Tổ(1368 - 1398)
mạnh nhất. Cuộc nổi dậy thành công và nhà Minh được thành lập ở Nam Kinh năm 1368. Chu
Nguyên Chương lên ngôi Hoàng đế và lấy hiệu là Hồng Vũ, đặt quốc hiệu là Minh, xác lập quyền
thống trị quốc gia cho gia tộc Chu.
Những người Mông Cổ ở Trung Quốc cai trị với nhiều quan lại, binh lính và những người hầu hạ -
Thổ Nhĩ Kỳ, Ả rập, một ít người Âu, Nữ Chân và Ba Tư. Người Mông Cổ theo truyền thống của
mình ủng hộ nhiều tôn giáo – không chỉ Phật giáo mà cả Hồi giáo, Đạo giáo và Thiên chúa giáo cùng
được tôn thờ bởi những người Mông Cổ ở Trung Quốc. Và dưới sự cai trị của Mông Cổ, sự ảnh
hưởng của Khổng giáo trong triều đình giảm sút.
Vua Mông Cổ cai trị Trung Hoa là Hốt Tất Liệt, chết năm
1294 ở tuổi bảy mươi chín. Cháu nội của ông, Nguyên Thành
Tông, kế tục ông, hoà bình với Nhật Bản và tiếp tục giữ được
sự thịnh vượng đáng có. Nguyên Thành Tông là người chu
đáo và có năng lực, nhưng các ông vua tiếp sau ông sau khi
ông chết sớm vào năm 1307 lại yếu kém hơn ông và Hốt Tất
Liệt. Trong hai sáu năm từ 1307 đến 1333 có bảy ông vua cai
trị.
Cháu trai của Nguyên Thành tông, Khaisah cai trị từ 1308.
Ông chỉ định những người bất tài vào các vị trí chính phủ,
gồm cả các tu sỹ Phật giáo và Đạo giáo, và ông chi tiền vào
các đền đài và cung điện hoang phí và tăng gấp ba nguồn cung
tiền giấy. Sau cái chết của ông năm 1311, em trai ông,
Ayruabarwada, nắm quyền lực ở tuổi hai sáu. Tuy nhiên
Ayrubarwada có trình độ cai trị đối lập nổi lên chống lại ông
trong triều đình vì coi ông là quá thân thiện với người Trung
Quốc. Ông chết năm 1320, và con trai cả của ông, Shidebala, kế tục, ở tuổi mười tám. Shidebala đưa
ra các cải cách chống tham nhũng, ủng hộ những người Phật giáo Tây Tạng chống lại Hồi giáo và bị
ám sát năm 1322. Ông được kế tục bởi Yesun Temur, người có phong cách truyền thống Mông Cổ
nhất. Những người ủng hộ ông tham dự vào việc ám sát Shidebala, và ông tự tách mình khỏi họ và
quay trở lại truyền thống của Mông Cổ đối xử với mọi tôn giáo công bằng. Yesun Termur chết năm
1328 và con trai út của ông Khaishan, hai tư tuổi cầm quyền trong một tháng trước khi thoái vị
nhường ngôi cho người anh lớn hơn, Khoshila, và quay lại nắm quyền một năm sau khi Koshila chết
– có thể là một vụ ám sát. Tugh Temur giỏi tiếng Trung Quốc. Ông là một hoạ sỹ, ủng hộ giáo dục,
sống đạm bạc và sa thải 10,000 quan chức triều đình. Tugh Temur chết năm 1332.
Nối ngôi Tugh Temur năm 1333 là một chú bé mười ba tuổi, Toghon Temur, có tiếng đồn là con của
Koshila. Từ đầu thời gian cai trị của mình, các quan của Toghan Temur đã điều hành mọi hoạt động
nhà nước. Vị tể tướng của ông lo lắng vì ông thấy sự yếu kém của Mông Cổ ở Trung Quốc. Ông tái
áp đặt sự chia để trị giữa người Mông Cổ và người Trung Quốc, ra lệnh người Trung Quốc không
được học tiếng Mông Cổ, tịch thu vũ khí của người Trung Quốc và các công cụ bằng sắt, đặt ra ngoài
vòng pháp luật nghệ thuật ca hát và kể chuyện của người Trung Quốc, và coi việc huỷ diệt đa phần
dân số Trung Quốc.
Sự chống đối của người Trung Quốc với sự cai trị Mông Cổ tăng lên. Người Mông Cổ không chỉ
khác người Trung Quốc ở ngôn ngữ mà còn ở cách ăn mặc và các thói quen khác, và người Trung
Quốc coi người Mông Cổ là mọi rợ. Họ không thích cách ăn uống của người Mông Cổ, và họ coi
người Mông Cổ bốc mùi (vì bẩn).
Bộ máy quân sự Mông Cổ đã suy sút. Các đội quân thông thường của Mông Cổ đã bị đưa vào làm
3
Hốt Tất Liệt.
các việc trồng cấy để tự nuôi mình – có sử dụng nô lệ. Trong nhiều thập kỷ hoà bình khả năng chiến
đấu của chiến binh Mông Cổ đã bị giảm. Một số chiến binh Mông Cổ cũng không thành công trong
việc làm ruộng và mất ruộng đất. Một số thành những kẻ lang thang, trong khi các sĩ quan Mông Cổ
vẫn là một tầng lớp quý tộc ăn lương tách biệt khỏi những binh sĩ thông thường.
Khó khăn đã nổ ra giữa những người Mông Cổ ở Crimea năm 1347, và khó khăn tàn phá người
Mông Cổ ở Trung Quốc. Các trận lũ lụt tàn phá Trung Quốc. các lực lượng quân đội đồn trú Mông
Cổ tiếp tục chiếm giữ các điểm chiến lược ở Trung Quốc, nhưng người Mông Cổ kém số lượng rất
nhiều và không được chuẩn bị để chiến đấu với cuộc nổi dậy vĩ đại.
Các sỹ quan chỉ huy Mông Cổ bắt đầu điều khiển chính phủ, và Toghon Temur chuyển qua hình thức
bán nghỉ hưu. Người ta bảo ông chỉ thích các chú bé đồng tính và cầu nguyện với các vị sư Phật giáo
ở Tây Tạng. Sự truỵ lạc của Toghon Temur và sự sùng bái của ông đối với Phật giáo Tây Tạng càng
làm tăng sự bất bình của các nhà Nho. Và những sự chống đối Toghon Temur nổi lên cả bên trong
Phật giáo. Một giáo phái Phật giáo bí mật, Bạch Liên (Sen trắng), bắt đầu
tổ chức nổi loạn và tiên đoán sự xuất hiện của một đấng cứu thế Phật
giáo.
Mới đầu cuộc nổi loạn diễn ra ở quanh Quảng Châu năm 1352. Một nhà
sư Phật giáo và là một chú bé cựu ăn mày, Chu Nguyên Chương, quẳng
áo lễ, gia nhập nổi loạn, và trí thông minh khác người của mình đã giúp
ông dẫn đầu đội quân khởi nghĩa. Tới năm 1355 cuộc nổi loạn đã lan rộng
ra đa phần Trung Quốc, dẫn tới tình trạng vô chính phủ. Chu Nguyên
Chương được lòng dân chúng bởi ông cấm quân lính cướp bóc. Năm
1356, Chu Nguyên Chương chiếm được Nam Kinh và biến nó thành thủ
đô của ông, và ở đó ông được một trí thức Khổng giáo giúp đỡ tung ra các
tuyên bố cho ông và tổ chức các lễ nghĩ tuyên bố Mệnh Trời. Và ông
đánh bại các đội quân làm loạn khác.
Trong lúc ấy, người Mông Cổ đánh lẫn
nhau, làm giảm sút khả năng đàn áp nổi loạn
của họ. Năm 1368, Chu Nguyên Chương mở
rộng quyền kiểm soát tới Quảng Châu, cùng
năm đó vị vua cai trị người Mông Cổ
Toghan Temur bỏ chạy đến Karakorum. Chu
Nguyên Chương và quân đội vào thủ đô cũ
của Mông Cổ, Bắc Kinh và năm 1371 quân
của ông đến Tứ Xuyên. Năm 1387 – sau hơn
ba mươi năm chiến tranh – Chu Nguyên
Chương đã giải phóng toàn bộ Trung Quốc.
Ở triều Hồng Vũ, tầng lớp nho sĩ Khổng
giáo, bị kìm hãm trong gần một thế kỷ dưới
triều Nguyên, một lần nữa lại chiếm được
vai trò chủ chốt trong việc điều hành đế chế.
Người Trung Quốc đã có được ảnh hưởng
trên toàn vùng Turkestan. Các quốc gia châu
Á ven biển đã gửi các phái bộ mang theo đồ
nộp cống tới Hoàng đế Trung Quốc. Bên
4
Minh Thái Tổ
Đây là mảnh duy nhất còn lại trên thế giới của một đồ
vật sơn mài lớn được chế tạo tại "Xưởng sơn mài
Hoàng gia" tại Bắc Kinh ở đầu thời nhà Minh. Với
trang trí rồng và phượng, nó được chế tạo để sử dụng
trong hoàng cung. Có lẽ ở khoảng thời Minh Tuyên
Tông (1426-1435). Hiện được trưng bày tại Bảo tàng
Victoria và Albert ở Luân Đôn.
trong nước, Đại Vận Hà được mở rộng ra đến giới hạn xa nhất chứng minh tác dụng kích thích của
nó đối với thương mại.
Tuy nhiên, cuộc thám hiểm đáng ngạc nhiên nhất thời kỳ này là chuyến ra khơi trên 317 chiếc tàu
thủy của Trịnh Hoà, đi ngang qua Ấn Độ Dương và các quần đảo tại Đông Nam Á. Là một hoạn
quan Hồi giáo đầy tham vọng, một nhân vật tài trí không xuất thân từ tầng lớp trí thức Khổng giáo,
Trịnh Hòa đã chỉ huy bảy chuyến thám hiểm từ năm 1405 tới 1433, sáu chuyến trong số đó diễn ra ở
thời Vĩnh Lạc. Có lẽ ông đã đi tới tận Mũi Hảo Vọng và có thể cả châu Mỹ theo giả thuyết 1421.
Chuyến đi năm 1403 của Trịnh Hòa với một đội ngũ tàu biển là một thắng lợi trong việc tìm kiếm
những con đường trên biển cho mục đích thúc đẩy thương mại, chứ không phải để kiếm lợi nhuận.
Những lợi ích của các con đường thương mại và lợi ích của
những con đường tôn giáo cũng gắn kết với nhau. Cả hai đều
mang lại cảm giác bất an cho tầng lớp trí thức Khổng giáo
mới: Các con đường tôn giáo thúc đẩy thương mại và khám
phá và những lợi ích do chúng mang lại sẽ khiến nguồn vốn
của nhà nước được đầu tư vào đó chứ không phải vào những
nỗ lực chống lại giới tăng lữ của giới trí thức nho giáo.
Chuyến thám hiểm đầu tiên năm 1405 gồm 317 chiếc thuyền
và 28,000 người thời ấy là hạm đội thám hiểm lớn nhất trên
thế giới. Những chiếc tàu nhiều lớp boong của Trịnh Hòa chở
tới 500 quân và cả hàng hóa xuất khẩu, đa số là hàng tơ và đồ
sứ, và chở về nước những đồ xa xỉ nước ngoài như gia vị và
các loại gỗ nhiệt đới.
Động cơ kinh tế của những chuyến thám hiểm vĩ đại này có
thể chiếm phần quan trọng, và nhiều chiếc tàu có những cabin
riêng lớn dành cho các thương gia. Nhưng mục đích tối cao có lẽ vẫn là chính trị; nhằm khám phá
thêm các quốc gia khác và đưa họ vào danh sách chư hầu nộp cống cho Trung Quốc cũng như đánh
dấu sự thống trị của Đế quốc Trung Hoa. Tính chất chính trị của những cuộc thám hiểm của Trịnh
Hòa cho thấy ảnh hưởng to lớn của tầng lớp quan lại cấp cao. Dù có sức mạnh to lớn và chưa từng
có, nhưng những chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa không giống với những thám hiểm của Châu Âu
diễn ra sau đó trong thế kỷ 15, chúng không được thực hiện với ý định mở rộng chủ quyền của Trung
Quốc ra bên ngoài. Biểu thị sự cạnh tranh bên trong tầng lớp quan lại cao cấp, những cuộc thám hiểm
đó cũng đã ngày càng trở thành những vấn đề tranh chấp chính trị. Trịnh Hòa được các hoạn quan
cấp thấp trong triều ủng hộ nhưng lại bị phản đối mạnh mẽ từ phía các quan lại theo Khổng giáo. Sự
phản kháng lớn tới mức trên thực tế họ đã tìm
cách tịch thu bất kỳ một văn bản sử nào của
triều đình có ghi chép về các chuyến viễn du
đó. Và cũng phải công nhận rằng, những
cuộc tấn công của người Mông Cổ diễn ra đã
khiến cán cân nghiêng về phía các quan lại
Khổng giáo.
Tới cuối thế kỷ 15, các thần dân của đế quốc
bị cấm chế tạo các con thuyền có thể đi biển
hay rời khỏi đất nước. Một số nhà sử học cho
rằng biện pháp này được đưa ra để chống lại
cướp biển. Nhưng ở giai đoạn giữa thế kỷ 16,
5
Thuyền của Trịnh Hòa so với thuyền
của Columbus's
Chậu hoa thời nhà Minh này là một ví dụ về [đồ gốm]
men ngọc Long Tuyền (
龙泉青瓷
). Nó được trưng bày
tại Viện Smithsonian ở Washington, D.C.
thương mại đã được tái khởi động lại khi bạc thay thế vị trí tiền giấy. Giá trị của bạc tăng lên nhanh
chóng so với các loại hàng hóa khác trên toàn thế giới, và cả thương mại và lạm phát đều tăng lên khi
Trung Quốc bắt đầu nhập khẩu bạc.
Các nhà sử học ở thế kỷ 17 như John Fairbank III và Joseph Levinson đã cho rằng sự phát triển
thương mại này một lần nữa lại rơi vào tình trạng đình trệ, và rằng khoa học và triết học bị hạn chế
trong những khuôn khổ truyền thống chặt chẽ ngăn chặn mọi nỗ lực phát kiến cái mời. Các nhà sử
học tán thành giả thuyết này cho rằng trong thế kỷ 15, theo nghị định của triều đình các tàu đi biển
loại lớn đã bị giải giới; việc chế tạo các tàu đi biển cũng bị ngăn cấm; công nghiệp sắt dần tàn lụi.
Chinh phục quân sự
Sự khởi đầu của nhà Minh được đánh dấu bởi
những chiến dịch quân sự khi họ tìm cách củng cố
và mở rộng quyền lực.
Trong những năm cầm quyền đầu tiên của mình, vị
vua đầu tiên nhà Minh, Chu Nguyên Chương, đã
đưa ra những chỉ dẫn như những huấn thị cho các
thế hệ sau này. Chúng gồm những lời khuyên cho
rằng các nước ở phương bắc là rất nguy hiểm và là
một mối đe dọa đối với chính thể nhà Minh. Trái
lại, ông cho rằng các nước phương nam không phải
là một mối đe doạ, vì thế cũng không phải là một
mục tiêu cần tấn công. Đúng vậy, dù tuân theo hay
không tuân theo những chỉ dẫn này, chính các
nước phương nam là mục tiêu xâm lấn và mở rộng
của nhà Minh trong những thế kỷ tiếp sau. Sự dính
líu tới các nước phương nam như Đại Việt, Miến
Điện mà không mang lại lợi ích cụ thể nào rõ ràng
đã làm nhà Minh suy yếu.
Xây dựng Vạn lý trường thành
Sau khi quân đội nhà Minh bị đánh bại tại trận Thổ Mộc
và phải chịu đựng những cuộc cướp phá do người Mông
Cổ dưới sự lãnh đạo của vị hãn mới, Altan Khan (Yêm
Đáp Hãn), tiến hành nhà Minh đã phải chấp nhận một
chiến lược mới để đối phó với những kị sĩ phương bắc đó:
một bức tường thành vĩ đại và không thể xâm nhập.
Hầu như khoảng 100 năm trước (1368) nhà Minh đã bắt
đầu xây dựng một pháo đài mới với kỹ thuật tiên tiến mà
ngày nay chúng ta gọi là Vạn lý trường thành. Được xây
dựng với một chi phí khổng lồ, bức tường chạy dọc theo
các biên giới của đế chế Minh. Phải chấp nhận lùi bước
tránh vùng đất thuộc quyền kiểm soát của người Ordos
Mông Cổ, phía nam Hoàng Hà, bức thành chạy dọc theo
biên giới phía bắc hiện nay của các tỉnh Sơn Tây và Thiểm
Tây hiện nay. Chi phí cho việc xây dựng vượt quá rất
6
Quan hệ nước ngoài của nhà Minh năm 1580
Nghệ thuật hội họa đời Minh miêu tả
những phụ nữ- Khoảng năm 1580
nhiều so với các chiến dịch quân sự chống lại người Mông Cổ trong vòng 80 năm trước đó của nhà
Mình và tiếp tục tăng lên tới tận khi hoàn thành (năm 1644).
Nhiều người cho rằng Chu Nguyên Chương muốn tập trung quyền lực tuyệt đối trong tay mình, bãi
bỏ chức vụ Tể tướng và vì thế cũng triệt tiêu sự chống đối có thể đối với các vị hoàng đế bất tài. Tuy
nhiên, vị trí Tể tướng bị bãi bỏ này lại được thay thế bởi một chức vụ mới, gọi là "Đại học sĩ". Ray
Huang, Giáo sư Sate University cho rằng các Đại học sĩ, bên ngoài có vẻ không quyền hành gì,
nhưng thực tế nắm nhiều ảnh hưởng phía sau ngai vàng. Vì uy tín và sự tin cậy của dân chúng giành
cho họ, các Đại học sĩ có thể đóng vai trò trung gian giữa hoàng đế và các quan lại, nhờ vậy làm cân
bằng và ổn định các lực lượng trong triều đình
Ở thời Minh, các mạng lưới cảnh sát chìm phát triển rộng rãi trong quân đội. Vì quá khứ hèn mọn
của Chu Nguyên Chương trước khi trở thành hoàng đế, ông rất căm ghét các quan lại tham nhũng và
hiểu rõ các nguy cơ có thể dẫn tới các cuộc nổi loạn. Ông đã tạo ra Cẩm y vệ, để bảo vệ cẩn mật
riêng cho mình và hoạt động như một đội cảnh sát chìm trong khắp đế
chế. Dù có được rất ít thành công trong thời gian tồn tại, đội ngũ này
nổi tiếng vì sự tàn bạo trong việc xử lý các vụ phạm tội hơn là một lực
lượng cảnh sát thật sự. Trên thực tế, nhiều người dân bị họ bắt giữ là
người lương thiện. Cẩm y vệ đã reo rắc nỗi sợ hãi trên khắp đất nước,
nhưng quyền lực của họ đã bị giảm sút khi ảnh hưởng của các hoạn
quan trong triều ngày càng tăng lên. Các hoạn quan đã tạo ra ba nhóm
mật vụ phục vụ cho lợi ích của họ: Đông xưởng, Tây xưởng và Nội
xưởng. Cả ba nhóm đều không kém Cẩm y vệ về mặt tàn bạo và có lẽ
còn ở mức cao hơn, bởi vì họ chính thức là một công cụ của hoạn
quan nhằm loại trừ các đối thủ chính trị chứ không còn mang một
chức năng nào khác.
Luật pháp
Luật pháp ra đời ở thời Hồng Vũ được coi là một trong những thành
tựu lớn nhất thời đại. Míng shih cho rằng ngay từ đầu năm 1364, triều
đình đã bắt đầu soạn thảo các văn bản luật được gọi là Đại Minh Luật.
Chu Nguyên Chương rất quan tâm tới dự án này và ông đã yêu cầu các vị quan phụ trách làm luật
phải đưa ra được một bộ luật dễ hiểu và bao hàm toàn diện cuộc sống, không để lại những kẽ hở
khiến các vị quan lại cấp dưới lợi dụng nhằm diễn giải sai ý nghĩa ngôn từ. Luật pháp triều Minh đã
có bước tiến lớn so với nhà Đường trong cách đối xử với nô lệ. Theo luật nhà Đường, nô lệ hầu như
bị coi ngang hàng với súc vật. Nếu họ bị một công dân tự do giết, luật pháp không hề trừng phạt kẻ
giết người. Luật mới bảo vệ những người nô lệ cũng như các công dân tự do, một ý tưởng muốn
quay lại với thời cai trị của vua Quang Vũ nhà Hán đầu thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Luật pháp
nhà Minh cũng nhấn mạnh trên các mối quan hệ gia đình. Đại Minh Luật dựa trên các ý tưởng Khổng
giáo và các ý tưởng này luôn là một trong những nhân tố chính trong luật pháp Trung Quốc cho tới
cuối thế kỷ XIX.
Quân sự
Khi Minh triều thành lập, Chu Nguyên Chương đã xây dựng quân đội theo một hệ thống tổ chức
quân sự được gọi là "Vệ Sở" (衛所, Wei-so) (tương tự như hệ thống "Phủ Binh" (Fu-ping) của nhà
Đường). Theo đó, Cơ sở của quân đội được tổ chức thành các vệ, mỗi vệ có 5.600 người. Dưới vệ tổ
chức thành các sở nhỏ hơn (Thiên hộ sở, Bách hộ sở). Các vệ thuộc quyền thống suất của Đô đốc
phủ, nhưng quyền điều động lại thuộc Binh bộ. Theo Ming Shih Gao, ý đồ của người sáng lập nhà
7
Lệnh bài của Cẩm Y vệ
Minh là nhằm có được một quân đội mạnh mẽ trong khi vẫn tránh được những liên kết giữa các chỉ
huy và quân lính.
Xem chi tiết: Nông nghiệp thời Minh
Các nhà sử học coi Chu Nguyên Chương là một vị vua tàn nhẫn nhưng đầy tài năng. Từ khi bắt đầu
lên ngôi, ông dành rất nhiều sự quan tâm tới việc phân phối đất đai tới những người nông dân độc
lập. Các chính sách của ông có vẻ khá chú ý tới những người nghèo khổ, và ông muốn giúp những
người nghèo đó cũng như gia đình họ. Ví dụ, năm 1370 một chiếu chỉ quy định rằng một số vùng đất
ở tỉnh Hồ Nam và tỉnh An Huy sẽ được phân chia cho những nông dân trẻ bắt đầu tới tuổi thành niên.
Để ngăn ngừa ý định tước đoạt hay mua lại những mảnh đất đó của các địa chủ, triều đình đồng thời
thông báo việc sang nhượng chúng là không được chấp nhận. Tới khoảng giữa thời Hồng Vũ, một
chỉ dụ được đưa ra tuyên bố rằng những người đang canh tác tại các khu đất hoang được quyền sở
hữu chúng và sẽ được miễn thuế hoàn toàn. Chỉ dụ này rất được lòng dân. Năm 1393, số lượng đất
canh tác tăng lên tới 8,804,623 ching (?) và 68 mẫu (?), một kỷ lục chưa từng đạt tới ở các triều đại
trước đó.
Một trong những nhân tố quan trọng nhất trong việc phát triển nông nghiệp là tích trữ nước. Chu
Nguyên Chương rất chú trọng tới tưới tiêu nông nghiệp trên khắp đất nước, và vào năm 1394 một số
cống sĩ (sinh viên) từ Quốc tử giám đã được cử tới tất cả các tỉnh nhằm phát triển các hệ thống tưới
tiêu. 40,987 hồ nước và mương dẫn đã được thi công.
Vì chính mình cũng xuất thân từ một gia đình nông dân, Chu Nguyên Chương biết rất rõ người nông
dân phải chịu khổ cực như thế nào dưới ách của tầng lớp quý tộc và những kẻ giàu có. Nhiều người
trong số họ, sử dụng ảnh hưởng đối với quan lại địa phương, không chỉ để xâm lấn đất đai của nông
dân, mà còn đút lót cho các quan lại cấp dưới để trốn thuế và dồn gánh nặng đó lên vai nông dân.
Nhằm ngăn chặn những hành vi đó, Chu Nguyên Chương đưa ra hai kế hoạch rất quan trọng là
"Hoàng sách" và "Ngư Lân đồ sách", nhằm đảm bảo cả nguồn thu của chính phủ từ thuế đất và người
dân đều giữ được quyền lợi của mình.
Chu Nguyên Chương tổ chức quân đội theo Vệ Sở
và duy trì nó nhờ vào hệ thống quân điền. Theo đó,
quân đội tự túc khả năng cung ứng cho mình bằng
cách tham gia sản xuất tự túc trong các quân điền để
giảm bớt chi phí cho nhà nước. Trước đó, với quân
đội lên tới hơn một triệu người, Chu Nguyên
Chương hiểu rất rõ những khó khăn để cung ứng đủ
cho một số lượng quân sự đông đảo như vậy, và ông
đã chấp nhận phương pháp kiểu định cư quân sự
này. Ở thời bình, mỗi người lính được cấp 40 tới 50
mẫu đất. Những người có khả năng sẽ tự bảo đảm
được nhu cầu của mình, nếu không sẽ được chính
phủ cung cấp thêm. Vì thế đế chế đảm bảo có được
những lực lượng mạnh mà không chất thêm gánh
nặng lên người dân. Míng Shih cho rằng 70% binh sỹ đóng dọc theo biên giới lo việc trồng cấy trong
khi số còn lại đảm nhiệm việc phòng thủ. Trong lãnh thổ quốc gia, chỉ 20% là cần thiết để bảo vệ các
thành phố và số còn lại tự lo nuôi sống mình. Vì thế một triệu binh lính nhà Minh có khả năng sản
xuất ra năm triệu tạ (picul) lương thực, không chỉ đủ cung cấp cho số lượng binh sĩ đông đảo đó mà
còn đủ trả lương cho các sĩ quan.
8
Tranh vẽ thời Minh mô tả những binh sĩ cận vệ
của Hoàng đế Gia Tĩnh (1522-1567)
Với một ác cảm đối với thương mại tương tự các nhà nho Khổng giáo, Chu Nguyên Chương cũng
ủng hộ việc thành lập các cộng đồng nông nghiệp tự túc. Những địa chủ phong kiến mới nổi cuối
thời nhà Tống và nhà Nguyên bị tịch thu tài sản ở thời nhà Minh. Một lượng lớn đất đai bị chính phủ
sung công, chia lẻ và cho thuê; nô lệ tư nhân bị cấm. Vì vậy sau khi Hoàng đế Vĩnh Lạc chết, các
nông dân có sở hữu đất chiếm số đông trong nông nghiệp Trung Quốc.
Cách mạng thương mại
Xem chi tiết: Thương Mại thời Minh
Thành kiến của Chu Nguyên Chương đối với tầng lớp thương nhân không hạn chế được số lượng các
thương gia. Trái lại, thương mại đạt tới tỷ lệ lớn hơn so với các thế kỷ trước đó và tiếp tục phát triển,
bởi vì các nền công nghiệp đang trên đà lớn mạnh cần tới sự hợp tác của các thương gia. Tại một số
tỉnh, đất đai bạc màu và dân cư quá đông đúc là những lực đẩy lớn buộc dân chúng phải tham gia vào
thị trường trao đổi hàng hoá. Một cuốn sách, "Từ điển tân thư" (?)("Tu pien hsin shu"), đã miêu tả
chi tiết về những hoạt động của các thương gia thời kỳ đó. Cuối cùng, chính sách của Chu Nguyên
Chương nhằm ngăn cấm thương mại chỉ còn tác dụng gây trở ngại tới việc đánh thuế các thương gia
của chính phủ. Chu Nguyên Chương thực tế đã tiến hành hạn chế thương mại và các thương gia đối
với các mặt hàng nhu yếu phẩm như muối. Ví dụ, chính phủ giao kèo với các nhà buôn về việc vận
chuyển lương thực tới biên giới. Đổi lại, chính phủ cấp các phiếu muối cho các nhà buôn, và họ có
thể bán lại số muối đó cho nhân dân. Những giao kèo như vậy mang lại các khoản lợi lớn cho giới
thương gia.
Thương mại tư nhân tiếp tục hoạt động bí mật bởi vì cảnh sát và chính phủ không thể kiểm soát toàn
bộ bờ biển, và bởi vì các quan chức và các gia đình học giả địa phương tại các tỉnh ven biển trên thực
tế hợp tác với các nhà buôn để chế tạo tàu thuyền phục vụ thương mại. Buôn lậu diễn ra chủ yếu với
Nhật Bản và các nước Đông Nam Á, và nó càng tăng lên khi các mỏ bạc được tìm thấy ở Nhật Bản
vào những năm đầu thế kỷ 16. Bởi vì bạc là hình thức tiền tệ chính ở Trung Quốc, đa số dân đều sẵn
sàng chấp nhận mạo hiểm để đi thuyền đến Nhật hay Đông Nam Á nhằm bán hàng hóa để đổi lấy
bạc hay mời các nhà buôn Nhật Bản tới bờ biển Trung Quốc để buôn bán tại các cảng bí mật. Những
nỗ lực của nhà Minh nhằm chấm dứt tình trạng 'cướp biển' đó là nguyên nhân dẫn tới những cuộc
chiến tranh Nụy khấu (倭寇, wokou, giặc Nhật) trong những năm 1550 và 1560. Sau khi thương mại
tư nhân với Đông Nam Á được tái cho phép năm 1567, thị trường đen không còn tồn tại nữa. Thương
mại với Nhật Bản vẫn bị ngăn cấm, nhưng các nhà buôn có thể đơn giản vượt qua nó bằng cách buôn
bán thông qua Đông Nam Á. Tương tự, bạc từ những nhà buôn Tây Ban Nha, Pêru cũng tham gia
vào thị trường với số lượng rất lớn, và không hề có một sự hạn chế nào với việc đó ở Manila. Số
lượng bạc to lớn chảy vào Trung Quốc giúp tiền tệ hóa nền kinh tế
(thay thế sự trao đổi bằng tiền mặt), và càng thúc đẩy thêm sự phát
triển thương mại.
Hoàng đế Chu Đệ (Minh Thành Tổ) là một người mạnh mẽ nên
ông có khả năng tiếp nối chính sách ngoại giao của vua cha. Tuy
nhiên, những người kế tục Chu Đệ không có nhiều ảnh hưởng trên
những công việc đối ngoại, điều này khiến quân đội đế chế giảm
sút nhiều sức mạnh. Nếu như ở phía nam người Việt giành lại độc
lập năm 1427, thì ở phía bắc người Mông Cổ nhanh chóng tìm lại
sức mạnh của mình. Bắt đầu từ khoảng năm 1445, người Ngõa
Thích (Oirat Horde) với vị vua mới của họ là Khiết Tiên (Esen
Taiji), đã trở thành một mối đe dọa quân sự đối với Trung Quốc.
Anh Tông Chu Kỳ Trấn, do sự chi phối của thái giám Vương
9
Minh Thành Tổ(1402-1424)
Chấn, đã đích thân chỉ huy một chiến dịch tấn công người Oirat vào năm Chính Thống thứ 14 (1449),
nhưng chiến dịch này lại trở thành một thảm họa cho Trung Quốc khi quân đội của họ bị tiêu diệt còn
nhà vua bị bắt sống. Sau này ở thời Gia Tĩnh, đến lượt thủ đô của đế chế rơi vào tay người Mông Cổ.
Cùng lúc ấy, những tên cướp biển Nhật Bản tiến hành những cuộc cướp bóc dọc bờ biển - những
vùng bờ biển này rộng lớn tới mức nó hầu như không thể được bảo vệ bởi quân đội triều đình. Sau
đó, người Nhật dưới sự lãnh đạo của Hideyoshi bắt đầu lập kế hoạch chinh phục Triều Tiên và Trung
Quốc. Tuy đánh bại được quân Nhật nhưng nhà Minh phải chịu những tổn thất lớn về tài chính. Tới
những năm 1610, nhà Minh trên thực tế đã mất quyền kiểm soát vùng đông bắc Trung Quốc. Một bộ
lạc hậu duệ của nhà Kim trước kia nhanh chóng mở rộng lãnh thổ về phía nam tới tận Sơn Hải Quan,
tức là ngay đối diện Vạn lý trường thành.
Sự suy tàn của nhà Minh trở nên rõ rệt hơn ở nửa sau giai đoạn cai trị của họ. Đa phần các hoàng đế
Minh không quan tâm tới triều chính và quyền lực tối cao có lúc rơi vào tay của những quan lại trong
triều, có lúc lại rơi vào tay các hoạn quan. Thêm vào đó, những cuộc xung đột nội bộ giữa các quan
lại trong triều càng khiến cho giới hoạn quan có cơ hội lũng đoạn triều đình. Những vụ việc như vậy
xảy ra thường xuyên cho tới tận khi nhà Minh chấm dứt.
Việc truyền ngôi từ cha sang con một lần nữa lại làm
sự lãnh đạo mất khả năng. Vào năm 1506 Chính
Đức, một đứa trẻ mười bốn tuổi con vua Minh là
Hoằng Trị nối ngôi. Hoằng Trị đã cảnh báo rằng con
mình là Chính Đức rất có xu hướng về tình yêu sự dễ
dàng và chơi bời. Và Chính Đức trở thành một người
cai trị thích giải trí như âm nhạc, đấu vật, ảo thuật và
nhào lộn, ông cũng thích cưỡi ngựa, bắn cung và săn
bắn, và không chú ý lắm tới công việc quốc gia.
Chính Đức bị ốm và chết năm 1521 ở tuổi 31, và vì
ông không có con trai, quyền lực được trao cho một
trong những đứa con nuôi của ông, Gia Tĩnh, người
mới mười lăm tuổi. Vị hoàng hậu nhiếp chính và một
Đại thư ký cai trị trong một thời gian. Quyền lực của
các hoạn quan bị kiềm chế và sự giàu có mà các hoạn
quan đã tích luỹ được bị sung công: 70 hòm vàng và 2200 hòm bạc của riêng một hoạn quan. Nền
kinh tế được khôi phục. Nhưng cuối cùng thì Gia Tĩnh cũng lớn và vị Đại thư ký chết. Sau đó chính
phủ ngập ngừng khi Gia Tĩnh chú tâm vào Đạo giáo và sự bất tử. Ông chi tiền vào xây dựng các đền
Đạo giáo, nhưng chủ nghĩa duy linh của ông không biến ông thành một vị vua xứng đáng và ít nhất
trong mắt của mười tám người thiếp của ông. Năm 1542 họ âm mưu bóp cổ ông khi ông đang ngủ.
Tất cả số họ bị hành hình trừ người thiếp đã cảnh báo trước cho hoàng hậu. Gia Tĩnh làm rất ít để cải
thiện Trung Quốc về mặt quân sự. Các thuộc địa ở biên giới chỉ có khoảng bốn mươi phần trăm số
người có ý định chống lại người Mông Cổ và những tộc dân khác. Các sư đoàn trong nước không có
được mười phần trăm sức mạnh đúng đắn của mình. Chính phủ không trả lương cho binh lính bằng
với khẩu phần. Cái chết và sự đào ngũ làm giảm số quân, và nhiều người trong số họ bị tuyển vào
lính mà không muốn mất mạng trong các trận chiến.
Người Mông Cổ ở phía đông bắc đã liên hiệp lại dưới một người con cháu của Thành Cát Tư Hãn và
đang tiến hành các cuộc tấn công vào Trung Quốc. Trong một tháng thuộc năm 1542 họ đốt nhà cửa,
ăn cắp gia súc, ngựa và tàn sát, như được viết lại, hơn 200,000 người. Năm 1550 người Mông Cổ
tiến về cổng thành Bắc Kinh và cướp bóc và đốt cháy các vùng ngoại ô. Các cuộc cuộc tấn công cũng
đến từ những người Trung Quốc (bị cho là người Nhật) có dính đến buôn lậu với người nước ngoài.
10
Thập Tam Lăng, cách Bắc Kinh 50 km về
phía Bắc, nơi chôn cất các vị Hoàng đế nhà
Minh.
Những người đó lập nên các cơ sở ở bờ biển và cướp bóc hay chiếm các làng mạc và các thị trấn ở
gần sông.
Một đội quân tư nhân, do Thích Kế Quang tổ chức, cuối cùng đã đánh bại các quân ăn cướp từ bờ
biển, trong khi Gia Tĩnh vẫn mải mê với Đạo giáo. Gia Tĩnh rút khỏi việc điều hành chính phủ trong
một thời gian dài, và những cuộc nghiên cứu về Đạo giáo của ông cho một cuộc sống vĩnh cửu thông
qua các loại thuốc ma thuật dẫn tới việc ông chết vì thuốc độc năm 1566. Con của Gia Tĩnh, Long
Khánh, cũng không chú ý tới việc trị nước. Nhưng ông đã trục xuất mọi người Đạo giáo ra khỏi triều
đình, và một vị quan trong triều là Trương Cư Chính, đã thương lượng hoà bình với người Mông Cổ.
Long Khánh cai trị đến năm 1572 và được nối ngôi bởi Vạn Lịch, người cai trị tới năm 1620, trong
47 năm – giai đoạn cai trị dài nhất ở Trung Quốc từ đầu đời Hán mười bảy thế kỷ trước đó.
Vạn Lịch lên làm vua lúc mười tuổi, và chế độ của ông bắt
đầu với sự lãnh đạo của mẹ ông và Trương Cư Chính. Họ lập
lại kỷ luật và sự hiệu quả trong chính phủ. Tài chính được ổn
định, và các cuộc tấn công vào biên giới Trung Hoa bị đẩy lùi.
Nhưng sau khi Vạn Lịch đã lớn, và Trương Cư Chính chết,
lịch sử gần đó của các vua Trung Quốc lại lặp lại. Vạn Lịch
ngày càng sao nhãng việc quốc gia. Các vị trí chính phủ bỏ
trống, và người dân mòn mỏi ở trong tù vì không có người nào
xét xử họ. Vạn Lịch cho phép các hoạn quan có được ảnh
hưởng ở triều đình. Các hoạn quan lấy tiền thuế của ngân khố
quốc gia làm của riêng. Khi một vùng đất bị tàn phá bởi động
đất, lũ lụt hay hạn hán, Vạn Lịch muốn cứu tế, nhưng có rất ít
(nếu có) cứu tế được thành hiện thực. Và những người dân
mất hy vọng lại tụ tập thành băng đảng và nổi loạn.
Thuế cao tiếp tục đè nặng lên người dân nhưng không với tới
tầng lớp trên cao. Hàng triệu ở tầng lớp trung gian dính dáng
tới việc thu thuế, lấy phần của họ trước khi nộp tới triều đình. Tại một số tỉnh, nửa số thuế bị quý tộc
địa phương chiếm giữ. Một số người có tiền dư đem cho vay với lãi suất cắt cổ, và Vạn Lịch tiêu
hàng đống tiền nhà nước vào các cung điện và những đồ xa xỉ cho gia đình. Trong lúc đó, Vạn Lịch
trở nên béo đến mức ông không thể đứng dậy được.
Trung Quốc vốn khéo léo nhưng có quá ít lãnh đạo trí thức chủ trương cải cách chính trị và xã hội.
Các trí thức ủng hộ sự thanh bình qua việc rút lui hay quay về sự tuân phục truyền thống và sự cai trị
độc tài đúng đắn. Không giống tầng lớp tư sản ở châu Âu, không có người nhiều Trung Quốc nghĩ
tới việc tìm ra các biện pháp tốt hơn nhằm tăng năng suất thông qua cải tiến công cụ - trong khi
những người lao động nghĩ về vấn đề này lại không có phương tiện để cải thiện công cụ.
Tầng lớp tiểu quý tộc Trung Quốc, luôn là các nhà Nho ở cả trong việc trồng cấy và trong chính phủ,
đã trở thành xa lánh hơn khỏi chính phủ và quay sang phía Phật giáo và bảo trợ cho nhà chùa Phật
giáo. Điều này được thúc đẩy bởi các cuộc chiến bè phái bên trong Khổng giáo và bởi các nguy cơ từ
việc quyền lực nằm trong tay hoạn quan. Các môn sinh Khổng giáo không thích sự suy tàn trong các
tiêu chuẩn Khổng giáo. Các nhà Nho bị chia rẽ thành nhiều phe phái. Nhiều phe Khổng giáo tư nhân
phát triển, trong khi rất ít người theo Khổng giáo tìm thấy lỗi của chế độ quân chủ hay chuyên chế.
Các nhà Nho tiếp tục coi sự cứu rỗi linh hồn trong việc gia nhập vào việc cư xử theo đạo đức hơn là
thay đổi thể chế. Và họ tiếp tục coi thương mại và nghề thủ công là các thứ dành cho tầng lớp bên
dưới.
11
Minh Thần Tông(1572-1620)
Mức độ rút khỏi công việc quốc gia của Vạn Lịch rốt cuộc có lợi cho thương mại và buôn bán. Trung
Quốc sản xuất đồ sứ, tơ và vải bông. Một nền kinh tế tiền tệ đúng đắn phát triển, và các thành phố
đang phát triển của Trung Quốc có một số các nhà buôn giàu có. Nông nghiệp Trung Hoa cũng tiến
bộ - với một số loại ngũ cốc mới như ngô, khoai lang và đậu phộng từ châu Mỹ. Điều này góp phần
vào sự vươn lên của Trung Quốc - tới 100 triệu người - gấp đôi dân số khoảng năm 1368, khi nhà
Minh mới bắt đầu. Nhưng không nhiều của cải được dùng vào việc đầu tư cho phát triển kinh tế.
Thay vì đầu tư vào thương mại, tiền thường được dùng trong việc cho vay với lãi suất cắt cổ an toàn
hơn. Hơn nữa, chính phủ sử dụng thương mại như một nguồn tài sản, và quan điểm của Khổng giáo
coi thương mại là hổ thẹn, tầng lớp Trung Hoa giàu có - tiểu quý tộc và các lái buông giàu có – tiêu
rất nhiều tiền vào việc tiêu thụ. Các thương nhân cũng như các chủ đất giàu có thường coi đầu tư vào
đất đai là cách tốt hơn đầu tư phát triển buôn bán. Đa phần công nghiệp là thủ công trong tay các
nông dân, và ngay khi sức sản xuất của họ tăng lên, nó sẽ bị làm giảm xuống bởi các chủ đất. Cũng
vậy, chính phủ tài trợ cho các phường hội thủ công và đưa ra các quy định cấm cạnh tranh và phát
triển. Các ngành công nghiệp thường bị ép buộc phải bán hàng cho chính phủ với giá quá thấp. Phát
triển thương mại bị cản trở bởi những người dân thường không thể tăng khả năng tiêu thụ. Và chính
phủ tiếp tục áp đặt các giới hạn đối với ngoại thương, gồm cả việc cấm các lái buôn Trung Quốc đi
ra biển.
Vạn Lịch chết ở tuổi năm bảy, khá già cho một người béo
nặng như ông. Người kế ngôi ông là Quang Tông trị vì chưa
đầy một tháng trong năm 1620. Thiên Khải, mới mười lăm
tuổi và dốt nát lên ngôi. Sự rút lui của nhà vua khỏi công
việc quốc gia tiếp diễn. Vua Thiên Khải thích nghề thợ mộc
trong khi triều đình và bộ máy hành chính bị áp chế bởi các
hoạn quan, Ngụy Trung Hiền, người xua đuổi bất kỳ ai khỏi
chức vụ chính phủ nếu ông nghĩ rằng có thể không trung
thành với ông.
Nổi loạn xuất hiện năm 1624, được dẫn đầu bởi sáu nhà Nho
đang cố gắng phục hưng Khổng giáo “chính thống”. Họ
được gọi là sáu anh hùng. Họ là những kẻ mộng mơ và thích
phục hưng đạo đức hơn là tổ chức một cuộc đấu tranh vũ
trang, và, giống như nhà Nho Vương Mãng nhiều thế kỷ
trước, họ đã phải trả giá bằng mạng sống của mình. Họ bị tra
tấn và đánh đến chết, và bảy trăm người ủng hộ họ bị thanh
trừng khỏi các vị trí chính phủ.
Một số người ở Trung Quốc kết luận rằng sự khủng bố của Ngụy Trung Hiền và sự chấp nhận thụ
động của Thiên Khải chỉ ra rằng triều Minh đã mất Thiên mệnh. Thiên Khải chết năm 1627 và được
kế tục bởi đứa em nhu nhược, Sùng Trinh, và dưới thời Sùng Trinh Trời dường như can thiệp chống
lại nhà Minh, vì Trung Quốc (và nhiều vùng khác trên thế giới) phải chịu tình trạng thời tiết xấu bất
thường: trời lạnh, hạn hán và lũ lụt từ việc mưa quá nhiều. Cũng vậy tình trạng suy đốn thương mại
đã phát triển ở Châu Âu những năm 1620, có một số ảnh hưởng đến Trung Quốc. Khắp nước Trung
Quốc, người dân nổi lên làm loạn. Về quân sự hoàng đế vẫn yếu kém. Và nhiều cuộc đột nhập lại
xuất hiện ở phía bắc – không phải từ phía người Mông Cổ mà từ Mãn Châu, các cuộc đột nhập từ nơi
mà ngày nay ta gọi là Manchuria.
Chính người Trung Quốc đã phát triển kiểu canh tác của mình đến Mãn Châu. Ở phần Mãn Châu tên
là Cát Lâm là nơi hậu duệ của những người Nữ Chân bán du cư đã lập lên nhà Kim ở phía bắc Trung
Quốc năm 1100. Tới đầu năm 1600, trong số họ, Nurhaci đã thống nhất các bộ tộc Mãn Châu dưới
quyền quản lý của mình. Con kế vị của ông, Abahai, cai trị từ thị trấn Mukden, gọi thần dân của
12
Nỗ Nhĩ Cáp Xích (Nurhaci).
mình là Manchu. Ông liên kết với các bộ lạc Mông Cổ, lập một thoả thuận với người Triều Tiên và
dự định một cuộc tấn công Trung Quốc.
Người Mãn Châu tiến hành các cuộc xâm nhập vào phía bắc Trung Quốc cùng lúc dân cư Trung
Quốc nổi dậy chống lại vua Sùng Trinh. Năm 1644 quân khởi nghĩa Lý Tự Thành tràn vào Bắc Kinh.
Sùng Trinh tự treo cổ.
Quân Thanh tiến vào Trung Quốc, đánh bại quân khởi nghĩa Lý Tự Thành. Trong bảy năm tiếp theo
các cuộc chiến đấu bên ngoài Bắc Kinh tiếp diễn, người Mãn Châu chiếm được các vị trí quân sự
chiến lược, những người ủng hộ nhà Minh chạy sang Đài Loan, và không chịu hàng Mãn Châu mãi
tới tận năm 1683. Mãn Châu nắm quyền ở Bắc Kinh và cuối cùng chiếm toàn bộ Trung Quốc. Các
vua Trung Quốc bây giờ thuộc gia đình Mãn Châu gọi là nhà Thanh, một triều đại cai trị tới tận thế
kỷ 19.
Các nhà sử học còn tranh cãi về sự "tiến bộ" khá chậm chạp của chủ nghĩa trọng thương và công
nghiệp hoá theo kiểu Châu Âu từ thời nhà Minh. Vấn đề này đặc biệt đáng quan tâm, nếu ta thấy sự
tương đương giữa mức độ thương mại hóa của kinh tế nhà Minh, ở thời được gọi là "tư bản phôi
thai" ở Trung Quốc, với chủ nghĩa tư bản thương nghiệp ở phương Tây. Vì thế, các nhà sử học đã
tìm cách giải thích tại sao Trung Quốc không "tiến bộ" ở mức tương đương trong thế kỷ cuối cùng
của nhà Minh. Tuy nhiên, ở thời điểm đầu thế kỷ 21, một số giả thuyết dẫn tới cuộc tranh luận đã bị
phản bác. Các nhà sử học kinh tế như Kenneth Pomeranz đã bắt đầu đưa ra lý lẽ cho rằng về mặt kỹ
thuật và kinh tế Trung Quốc tương đương với Châu Âu cho tới tận năm 1750 và rằng sự khác biệt
xảy ra là vì những nguyên nhân toàn cầu như khả năng tiếp cận tới các nguồn tài nguyên thiên nhiên
từ thế giới mới.
Dù sao, đa số tranh luận tập trung vào sự đối nghịch về chính trị và các hệ thống kinh tế giữa Đông
và Tây. Cho rằng giả thuyết gây ra điều đó là những sự chuyển đổi kinh tế, gồm cả những thay đổi xã
hội, và chúng lại dẫn tới những hậu quả về chính trị, thì ta có thể hiểu tại sao sự lớn mạnh của chủ
nghĩa tư bản, một hệ thống kinh tế trong đó vốn được đưa vào sản xuất để tạo ra nhiều vốn hơn, là
một cái gì đó tương tự lực đẩy tạo nên sự trỗi dậy của Châu Âu hiện đại. Dù thế nào chăng nữa, ta có
thể tìm thấy những dấu vết Chủ nghĩa tư bản ở nhiều giai đoạn khác nhau trong lịch sử phương Tây.
Chủ nghĩa tư bản thương mại là giai đoạn đầu tiên và rõ ràng liên kết với các khuynh hướng lịch sử ở
Trung Quốc thời nhà Minh, như các khám phá địa lý, thuộc địa hoá, phát minh khoa học, và sự tăng
trưởng trong thương mại giữa các nước. Nhưng ở châu Âu, các chính phủ thường bảo vệ và khuyến
khích tầng lớp giàu có tư bản, đa phần là thương nhân, thông qua các chính sách nhà nước, các khoản
trợ cấp, và những điều khoản độc quyền như Công ty Đông Ấn Anh. Các nước theo chế độ quân chủ
chuyên chế ở thời kỳ này thường coi những khoản lợi nhuận tiềm năng mà các nhà buôn thu được là
nhân tố hỗ trợ cho sự mở rộng và tập trung hóa quốc gia của họ.
Vấn đề này thậm chí còn bất thường hơn nếu ta cho rằng trong thế kỷ cuối cùng của nhà Minh, một
nền kinh tế tiền tệ đích thực đã xuất hiện cùng với những thương vụ ở mức độ lớn cũng như những
cơ sở công nghiệp tư nhân và nhà nước, ví dụ như những trung tâm dệt may lớn ở phía đông nam. Ở
một số khía cạnh, vấn đề này là trung tâm trong những cuộc tranh luận về sự suy tàn của Trung Quốc
so với phương Tây hiện đại ít nhất cho đến thời Cách mạng vô sản. Các nhà sử học Mác xít Trung
Quốc, đặc biệt ở thập niên 1970 coi thời nhà Minh là một trong những giai đoạn "tư bản sơ khai",
một sự miêu tả có vẻ khá chính xác, nhưng không giải thích được sự suy tàn của thương mại và sự
tăng cường các biện pháp quản lý thắt chặt thương mại ở thời nhà Minh. Vì vậy, các nhà sử học Mác
xít mặc nhiên cho rằng chủ nghĩa trọng thương kiểu Châu Âu và công nghiệp hóa có thể đã phát triển
và nó không liên quan gì tới cuộc chinh phục của người Mãn Châu, sự mở rộng chủ nghĩa thực dân
Châu Âu, đặc biệt sau thời của các cuộc Chiến tranh nha phiến.
13
Tuy nhiên các học giả hậu hiện đại ở Trung Quốc đã cho rằng quan điểm này là quá đơn giản hóa và
ít nhất cũng không chính xác. Việc ngăn cấm các tàu đi biển, như được chỉ ra, là với ý định kìm chế
cướp biển và đã được dỡ bỏ ở giữa thời Minh dưới sức ép mạnh mẽ của tầng lớp quan lại, những
người đã chỉ ra những ảnh hưởng xấu của nó tới các vùng kinh tế ven biển. Các nhà sử học đó, gồm
Jonathan Spence, Kenneth Pomeranz, và Joanna Waley-Cohen phủ nhận việc Trung Quốc đã hoàn
toàn "đóng cửa với bên ngoài" và cho rằng quan điểm đó về nhà Minh là mâu thuẫn với khối lượng
tăng trưởng của thương mại và mậu dịch giữa Trung Quốc và Đông Nam Á. Khi người Bồ Đào Nha
tới Ấn Độ, họ chứng kiến một mạng lưới thương mại đang phát triển mạnh mẽ và sau đó họ đã theo
nó để tới Trung Quốc. Trong thế kỷ 16 những người Châu Âu bắt đầu xuất hiện trên những bờ biển
phía đông và tìm ra Macao, vùng định cư đầu tiên của Châu Âu ở Trung Quốc. Như đã được ghi
chép, từ thời Hồng Vũ, vai trò của hoàng đế đã trở nên độc đoán hơn, dù Chu Nguyên Chương cần
tiếp tục sử dụng cái gọi là Đại học sĩ để hỗ trợ ông trong hàng núi giấy tờ công việc hành chính, gồm
cả các bản ghi nhớ (đơn thỉnh nguyện và thư tiến cử tới triều đình), các chỉ dụ trả lời, các báo cáo đủ
thể loại, và các bản ghi chép về thuế.
Không như các hoàng đế sau này, Chu Nguyên Chương hiểu rõ vai trò tiêu cực của các hoạn quan
triều đình như thời nhà Tống, đã giảm bớt nhiều số lượng của họ, cấm họ tiếp cận với các giấy tờ,
nhấn mạnh rằng cần phải để họ mù chữ và hành quyết những kẻ dám bàn tới công việc quốc gia. Dù
Chu Nguyên Chuơng có ác cảm lớn với hoạn quan, thậm chí một văn bản tóm lược trong cung của
ông đã quy định rằng: "Các hoạn quan không được tham gia chính sự", các hoàng đế về sau này lại
khôi phục vai trò của họ trong công việc triều đình.
Chu Đệ cũng là người ham hoạt động và rất có khả năng trong vai trò nhà cai trị, nhưng một sự sắp
đặt những kẻ thừa kế kém cỏi đã được đặt ra. Đầu tiên, dù
thời Hồng Vũ vẫn giữ một số thói quen Mông Cổ, như
trừng phạt thể xác, điều này đã là một sự quá đáng đối với
tầng lớp nho sĩ vốn quen với khái niệm cai trị bằng đạo đức
("đức trị"), thời Vĩnh Lạc còn vượt quá các giới hạn đó,
hành quyết các gia đình đối thủ chính trị của mình, giết hại
tùy tiện hàng nghìn người. Thứ ba, triều đình Vĩnh Lạc hay
chế độ Đại học sĩ, là một bộ máy không linh hoạt trong việc
củng cố và trở thành một bộ máy không có khả năng hoạt
động tốt. Tuy nhiên, trước đó, các hoàng đế có tài hơn đã
thông qua hay giám sát tất cả các quyết định do hội đồng
này đưa ra. Chính Chu Nguyên Chương nói chung cũng
được coi là một hoàng đế mạnh mẽ, người mang lại sự khởi
đầu cho một triều đình mạnh và hiệu quả còn kéo dài tới sau
thời đại của ông, nhưng việc tập trung hóa quyền lực đã
chứng minh là bất lợi đối với những vị hoàng đế tầm
thường.
Sự xuất hiện của Mãn Châu
Sự sụp đổ của nhà Minh xảy ra trong một thời gian dài và
nó khởi nguồn ngay từ năm 1600 với sự xuất hiện của Mãn
Châu dưới sự lãnh đạo của Nurhaci (Nỗ Nhĩ Cáp Xích). Với
ưu thế pháo binh của mình, nhà Minh liên tục đẩy lùi người
Mãn Châu, đặc biệt trong các năm 1623 và 1628. Tuy nhiên, họ không thể chiếm lại được quyền
kiểm soát của mình đối với người Mãn Châu và cả vùng đất đó. Từ năm 1629 về sau này, nhà Minh
kiệt sức với những vụ tranh giành quyền lực bên trong và những vụ tấn công ở miền bắc từ phía
14
Hoàng Thái Cực

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét