Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

“Bàn về chế độ kế toán tài sản cố định thuê tài chính tại đơn vị đi thuê”.

thiểu ghi trong hợp đồng theo thời hạn thuê và khoản thanh toán cần thiết cho việc
mua tài sản đó.
- Gía trị hợp lý: Là giá trị tài sản có thể được trao đổi hoặc gía trị một khoản nợ
được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao
đổi ngang giá.
- Gía trị còn lại của tài sản cho thuê: Là giá trị ước tính ở thời điểm khởi đầu thuê
tài sản mà bên cho thuê dự tính sẽ thu được từ tài sản cho thuê vào lúc kết thúc hợp
đồng cho thuê.
- Gía trị còn lại của tài sản thuê được đảm bảo:
+ Đối với bên thuê: Là phần giá trị còn lại của tài sản thuê được bên thuê hoặc bên
liên quan với bên thuê đảm bảo thanh toán cho bên cho thuê (gía trị đảm bảo là số
tiền bên thuê phải trả cao nhất trong bất cứ trường hợp nào).
+ Đối với bên cho thuê: Là phần giá trị còn lại của tài sản thuê được bên thuê hoặc bên
thứ ba có khả năng tài chính không liên quan với bên cho thuê, đảm bảo thanh toán.
- Gía trị còn lại của tài sản thuê không được đảm bảo: Là phần gía trị còn lại của
tài sản thuê được xác định bởi bên cho thuê không được bên thuê hoặc bên liên quan
đến bên thuê đảm bảo thanh toán hoặc chỉ được một bên liên quan với bên cho thuê,
đảm bảo thanh toán.
- Thời gian sử dụng kinh tế: Là khoảng thời gian mà tài sản được ước tính sử dụng
một cách hữu ích hoặc số lượng sản phẩm hay đơn vị tương đương có thể thu được
từ tài sản cho thuê do một hoặc nhiều người sử dụng tài sản.
- Thời gian sử dụng hữu ích: Là khoảng thời gian sử dụng kinh tế còn lại của tài
sản thuê kể từ thời điểm bắt đầu thuê, không giới hạn theo thời hạn hợp đồng thuê.
- Đầu tư gộp trong hợp đồng thuê tài chính: Là tổng khoản thanh toán tiền thuê tối
thiểu theo hợp đồng thuê tài chính (đối với bên cho thuê) cộng giá trị còn lại của tài
sản thuê không được đảm bảo.
- Doanh thu tài chính chưa thực hiện: Là số chênh lệch giữa tổng khoản thanh
toán tiền thuê tối thiểu cộng gía trị còn lại không được đảm bảo trừ giá trị hiện tại
của các khoản trên tính theo tỉ lệ lãi suất ngầm định trong hợp đồng thuê tài chính.
- Đầu tư thuần trong hợp đồng thuê tài chính: Là số chênh lệch giữa đầu tư gộp
trong hợp đồng thuê tài chính và doanh thu tài chính chưa thực hiện
- Lãi suất ngầm định trong hợp đồng hợp đồng thuê tài chính: Là tỷ lệ chiết khấu
tại thời điểm thuê tài chính, để tính giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối
thiểu và gía trị hiện tại của giá trị còn lại không được đảm bảo để cho tổng của
chúng đúng bằng giá trị hợp lý của tài sản thuê.
- Lãi suất biên đi vay: Là lãi suất mà bên thuê sẽ phải trả cho một hợp đồng thuê tài
chính tương tự hoặc là lãi suất tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản mà bên thuê sẽ
phải trả để vay một khoản cần thiết cho việc mua tài sản với một thời hạn và với
một đảm bảo tương tự.
- Tiền thuê có thể phát sinh thêm: Là một phần của khoản thanh toán tiền thuê, nhưng
không cố định và được xác định dựa trên một số yếu tố nào đó ngoài yếu tố thời gian, ví
dụ: phần trăm trên doanh thu, số lượng sử dụng, chỉ số giá, lãi suất thị trường.
1.2.2 Một số quy định chung đối với hoạt động thuê tài chính TSCĐ
Theo Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/02/2001 của Thủ tướng Chính
phủ quy định va quyền và nghĩa vụ của bên thuê và bên cho thuê TSCĐ thuê tài
chính như sau:
Quyền và nghĩa vụ của bên thuê:
- Có quyền lựa chọn thương lượng và thoả thuận với bên cung ứng tài sản thuê về
đặc tính kỹ thuật, chủng loại, giá cả, việc bảo hiểm, cách thức và thời hạn giao nhân,
lắp đặt và bảo hành tài sản thuê.
- Được trực tiếp nhận tài sản thuê từ bên cung ứng.
- Trường hợp hợp đồng bị huỷ bỏ trước khi tài sản thuê được giao cho bên thuê do lỗi
của bên thuê,bên thuê phải hoàn trả mọi thiệt hại cho Công ty cho thuê tài chính.
- Phải sử dụng tài sản thuê theo đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng.
- Phải chịu mọi rủi ro về mất hỏng đối với tài sản thuê và những rủi ro mà tài sản
thuê gây ra cho bên thứ ba.
- Phải chịu trách nhiệm bảo dưỡng, sữa chữa tài sản thuê trong thời hạn thuê;
- Không được chuyển quyền sử dụng tài sản thuê cho bên thứ ba nếu không được
công ty cho thuê tài chính đồng ý trước bằng văn bản;
- Không được dùng tài sản thuê để cầm cố, thế chấp;
- Bên thuê có nghĩa vụ trả tiền thuê đúng thời hạn được quy định trong hợp đồng và về
nguyên tắc phải chịu các khoản chi phí có liên quan đến tài sản thuê như : chi phí nhập
khẩu, thuế , chi phí đăng ký hợp đồng và tiền bảo hiểm đối với tài sản thuê;
- Có nghĩa vụ hoàn trả tài sản thuê cho Công ty cho thuê tài chính khi kết thúc thời hạn
thuê và chịu mọi chi phí liên quan đến việc hoàn trả tài sản thuê, trừ trường hợp được
quyền sở hữu, mua tài sản thuê hoặc tiếp tục theo quy định trong hợp đồng;
- Có nghĩa vụ hoàn trả tài sản thuê cho Công ty cho thuê tài chính khi kết thúc thời hạn
thuê và chịu mọi chi phí liên quan đến việc hoàn trả tài sản thuê, trừ trường hợp được
quyền sở hữu, mua tài sản thuê hoặc tiếp tục theo quy định trong hợp đồng.
Quyền và nghĩa vụ của Công ty cho thuê tài chính:
- Có quyền yêu cầu bên thuê cung cấp đầy đủ, toàn bộ các báo cáo quý, năm
về tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh và các vấn đề có liên quan đến tài sản
thuê;
- Được quyền sở hữu và đính ký hiệu sở hữu trên tài sản thuê trong suốt thời
hạn cho thuê;
- Có quyền yêu cầu bên thuê bồi thường mọi thiệt hại phát sinh do bên thuê
không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo quản sữa chữa, thanh
toán tiền bảo hiểm tài sản thuê trong thời hạn cho thuê.
- Được quyên chuyển nhượng các quyền của mình trong hợp đồng cho một
công ty cho thuê tài chính khác mà không cần sự đồng ý của bên thuê. Trong trường
hợp này, Công ty cho thuê tài chính phải thông báo trước bằng văn bản cho bên
thuê.
- Có quyền yêu cầu bên thuê đặt tiền ký quỹ bảo đảm cho hợp đồng hoặc yêu
cầu có người bảo lãnh đối với bên thuê.
- Có trách nhiệm đăng ký hợp đồng, làm thủ tục mua bảo hiểm đối với tài sản
cho thuê.
- Chịu trách nhiệm ký hợp đồng mua hàng, thanh toán tiền mua tài sản để cho
thuê với bên cung ứng theo các điều kiện đã được thoả thuận trong hợp đồng mua
hàng, Công ty cho thuê tài chính không chịu trách nhiệm về tài sản không được giao
hoặc giao không đúng với các điều kiện do bên thuê thoả thuận với bên cung ứng.
Trường hợp tài sản thuê được nhập khẩu, Công ty cho thuê tài chính có nghĩa vụ
hoàn tất mọi thủ tục nhập khẩu cần thiết.
- Thực hiện các nghĩa vụ của mình và phải bồi thường mọi thiệt hại cho bên
thuê trong trường hợp tài sản thuê không được giao đúng hạn cho bên thuê do Công
ty cho thuê tài chính vi phạm hợp đồng mua hàng.
1.2.3 Phương pháp hạch toán TSCĐ thuê tài chính và cách ghi nhận TSCĐ thuê
tài chính trong báo cáo tài chính tại đơn vị đi thuê
1.2.3.1 Phương pháp hạch toán TSCĐ thuê tài chính tại đơn vị đi thuê
a. Tài khoản sử dụng
Để theo dõi tình hình đi thuê TSCĐ dài hạn, kế toán sử dụng tài khoản 212 –
TSCĐ thuê tài chính.
Bên nợ: Phản ánh nguyên giá TSCĐ thuê tài chính tăng.
Bên có: Phản ánh nguyên giá của TSCĐ thuê tài chính giảm do chuyển trả lại cho
bên cho thuê khi hết hạn hợp đồng hoặc mua lại thành TSCĐ của doanh nghiệp.
Số dư bên nợ: Phản ánh nguyên giá của TSCĐ thuê tài chính hiện có. b.Sơ đồ
hạch toán:
TK
623,627
641,642
Khi trích
TK 111, 112 TK 142
Khi phát sinh
các chi phí trực
tiếp ban đầu khi
nhạn TSCĐ
thuê
TK 244
Khi chi tiền ký
quỹ đảm bảo
thanh toán tiền
thuê
TK 635
Định kỳ nhận được
hoá đơn chi tiền trả nợ
Nợ
gốc
TK 133
Nợ lãi
Thuế
GTGT
623,627,641,642
GTGT
Thuế
(PP khấu trừ)
(PP trực tiếp)
TK 315
Khi chi tiền trả nợ
thuê TSCĐ chính
TK 342
Cuối kỳ k/c số nợ
đến hạn trả vào kỳ
sau
Khi nhận
Số nợ phải
trả kỳ này
TSCĐ
TK 111,112
CP trực
tiếp
phát sinh
khi nhận
TSCĐ
TK 212
Khi hết thời hạn
thuê
trả TSCĐ thuê cho
bên cho thuê
TK 2141
TK 2142
TK 211
Khi mua lại TS thuê
TK
111,112
Khi phải trả
thêm tiền
K/c số
Khấu hao
TSCĐ
KHTS
thuê tài
chính
K/c số chi phí trực tiếp ban đầu
phát sinh khi nhận TSCĐ thuê
KẾ TOÁN TSCĐ THUÊ TÀI CHÍNH
(Trường hợp khoản nợ phải trả xác định theo
giá mua chưa có thuế GTGT)
NGUYÊN
GIÁ
TÀI
SẢN
CỐ
ĐỊNH
THUÊ
TÀI
CHÍNH
KẾ TOÁN TSCĐ THUÊ TÀI CHÍNH
(Trường hợp khoản nợ phải trả xác định theo
giá mua có cả thuế GTGT)
K/c số chi phí trực tiếpban đầu
phát sinh khi nhận TSCĐ thuê
TK 111, 112 TK 142
Khi phát sinh các chi
phí trực tiếp ban
đầu trước khi nhận
TSCĐ thuê
TK 244
Khi chi tiền ký
quỹ
đảm bảo thanh
toán tiền thuê
Nguyên giá
TSCĐ thuê
TK 212
Trả lại TSCĐ thuê
cho bên cho thuê
Khi hết hạn thuê
TK 2142
TK
623,627
641,642
Khi trích
KHTS thuê
Tài chính
TK 2141
K/c số
Khấu hao
TSCĐ thuê
TK
111,112
CP trực tiép
Phát sinh
khi nhân
TSCĐ
TK 111, 112
Trả
thêm tiền
TK 211
K/c giá trị TSCĐ
Thuê khi hết hạn
thuê đơn vị mua lại
TK 315
Khi nhận được
Hoá đơn chi
tiền trả luôn
Cuối kỳ K/c số nợ
đến hạn trả vào
kỳ sau
Nhận hoá đơn
Chưa thanh
toán
TK 342
TK 635
Nợ lãi
TK 138
Định kỳ nhận hoá
đơn tính thuế GTGT
Vào chi phí SXKD
(PP trực tiếp
TK 133
623,627,641,642
Định kỳ nhận hoá
đơn tính thuế GTGT
vào chi phí SXKD
Số nợ phải trả kỳ này
Số nợ phải trả

Các kỳ tiếp theo
Số thuế GTGT
đầu vào
1.2.3.2 Cách ghi nhận TSCĐ thuê tài chính trong báo cáo tại đơn vị đi thuê
Bên thuê ghi nhận tài sản thuê tài chính là tài sản của nợ phải trả trên Bảng cân đối
kế toán với cùng một giá trị bằng với giá trị hợp lý của tài sản thuê tại thời điểm
khởi đầu thuê tài sản. Nếu giá trị hợp lý của tài sản thuê cao hơn giá trị hiện tại của
khoản thanh toán tiền thuê tối thiêu cho việc thuê tài sản là lãi suất ngầm định trong
hợp đồng thuê thì sử dụng lãi xuất biên đi vay của bên thuê tài sản để tính giá trị
hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu.
Khi trình bày các khoản nợ phải trả về thuê tài chính trong báo cáo tài chính,
phải phân biệt nợ ngắn hạn và dài hạn.
Chi phí trực tiếp phát sinh ban đầu liên quan đến hoạt động thuê tài chính,
như chi phí đàm phán ký hợp đồng được ghi nhận vào nguyên giá.
Khoản thanh toán tiền thuê tài sản thuê tài chính phải được chia ra thành chi phí tài
chính và khoản phải trả nợ gốc. Chi phí tài chính phải được tính theo tong kỳ kế
toán trong suốt thời hạn thuê theo tỷ lệ lãi suất định kỳ cố định trên số dư nợ còn lại
cho mỗi kỳ kế toán.
Thuê tài chính sẽ phát sinh chi phí khấu hao tài sản và chi phí tài chính cho
mỗi kỳ kế toán. Chính sách khấu hao tài sản thuê phải nhất quán với chính sách
khấu hao tài sản cùng loại thuộc sở hữu của doanh nghiệp đi thuê. Nếu không chắc
chắn là bên thuê sẽ có quyền sở hữu tài sản khi hết hợp đồng thuê thì tài sản thuê sẽ
được khấu hao theo thời gian ngắn hơn giữa thời hạn thuê hoặc thời gian sử dụng
hữu ích của nó.
Khi trình bày tài sản thuê trong báo cáo tài chính phải tuân thủ các quy định
của Chuẩn mực kế toán “TSCĐ hữu hình”.
1.2.4 So sánh giữa chuẩn mực kế toán Quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt Nam
về TSCĐ thuê tài chính
Phần lớn quy định hiện hành về TSCĐ thuê tài chính ở Việt nam tương thích với nội
dung của chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và có sự tiếp thu từ chuẩn mực kế toán
quốc tế để ngày càng hoàn thiện.
Hầu hết các đơn vị đi thuê và đơn vị cho thuê đều áp dụng theo yêu cầu của chuẩn
mực và đem lại thuận lợi cho các công ty tham gia vào hoạt động tài chính. Việc
phân loại cho thuê là thuê hoạt động hay thuê tài chính được xác định ngay tại thời
điểm khởi đầu cho thuê.
Việc kế toán của bên thuê cũng hạch toán như nhau: Tại thời điểm khởi đầu thuê tài
sản, tài sản và nợ tương ứng cho việc thanh toán tiền thuê sau này được ghi nhận
theo cùng một giá trị trong bảng cân đối kế toán. Các chi phí trực tiếp ban đầu liên
quan đến hoạt động thuê được vốn hoá vào tài sản. Thanh toán tiền thuê bao gồm
chi phí tài chính và nợ phải trả.
Bên đi thuê có trách nhiệm tính, trích khấu hao TSCĐ và chi phí sản xuất kinh
doanh theo định kỳ trên cơ sở áp dụng chính sách khấu hao nhất quán với chính sách
khấu hao của tài sản cùng loại thuộc sở hữu của doanh nghiệp đi thuê (theo quy định
của Chuẩn mực kế toán “Tài sản cố định hữu hình” và chuẩn mực kế toán “Tài sản
cố định vô hình”).
IAS đã quy định điều kiện một tài sản thoả mãn là thuê tài chính là thời hạn cho thuê
chiếm phần lớn thời gian sử dụng hữu ích của tài sản. VAS cũng quy định điều này.
Các thông tin trên báo cáo tài chính của bên cho thuê tài chính phải đảm bảo các chỉ
tiêu: Tiền thuê phát sinh thêm được ghi nhận là doanh thu trong kỳ; phải lập dự
phòng luỹ kế cho các khoản phải thu khó đòi về khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu;
diễn giải khái quát về những thoả thuận cho thuê quan trọng. Đồng thời trên báo cáo
tài chính của bên đi thuê cũng phải có các chỉ tiêu: Giá trị còn lại của tài sản là đối
tượng của hợp đồng thuê tài chính tại thời thời điểm lập báo cáo; Tiền cho thuê bất
thường được ghi nhận là chi phí trong kỳ; diễn giải khái quát về những thoả thuận
thuê quan trọng.
Bên cạnh đó còn có một số khác biệt giữa hai chuẩn mực trên:
+Xét về hình thức trình bày chuẩn mực: IAS 17 trình bày các vấn đề theo các tiêu
thức cụ thể có liên quan đối với từng bên thuê và bên cho thuê: khoản thanh toán
tiền thuê tối thiểu, giá trị còn lại của tài sản thuê được đảm bảo; ghi nhận thuê tài
sản trong báo cáo tài chính và trình bày báo cáo tài chính. Trong khi đó VAS (chuẩn
mực 06) lại trình bày mỗi vấn đề cho từng bên.
+Xét về nội dung:
VAS quy định rằng việc phân loại tài sản thuê nên dựa vào bản chất của nghiệp vụ
không nên dựa vào hình thức của hợp đồng trong khi đó theo IAS việc phân loại chỉ
mang tính hướng dẫn, phần lớn các tiêu thức này chỉ mang tính chất định tính vì vậy
rất khó áp dụng.
Việc xác định giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu cũng có sự
khác nhau. VAS quy định khoản tiền này chiếm phần lớn giá trị hợp lý của tài sản
thuê trong khi IAS lại yêu cầu khoản thanh toán này xấp xỉ giá trị hợp lý của tài sản
cho thuê.
Về các chỉ tiêu được trình bày trên báo cáo tài chính ở bên đi thuê cũng có sự khác
biệt. Trong IAS 17 có quy định thêm một số chỉ tiêu như: Yêu cầu đối với nhà
xưởng, máy móc và thiết bị cho thuê; Số tiền thanh toán thuê lại tối thiểu trong
tương lai dự tính thu được dưới hình thức cho thuê lại không thể huỷ bỏ vào ngày
lập bảng cân đối kế toán.
1.2.5 Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính trong nền kinh tế thị trường Việt
Nam hiện nay
1.2.5.1 Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính đối với nền kinh tế.
-Hoạt động cho thuê tài chính góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế.Trong xu
thế hội nhập và giao lưu quốc tế ngày nay, cho thuê tài chính góp phần giúp nước ta
đa dạng hoá việc thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài cho đầu tư phát triển thông
qua các loại máy móc, thiết bị thuê mà chúng ta nhận được. Đặc biệt trong điều kiện
nền kinh tế còn thấp thì hoạt động cho thuê tài chính càng có vai trò quan trọng
trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài bằng máy móc, thiết bị giúp các doanh
nghiệp hiện đại hoá sản xuất, tăng năng lực hoạt động, tạo điều kiện cho nền kinh tế
phát triển. Mặt khác cho thuê tài chính là họat động tín dụng có mức độ rủi ro thấp
hơn các hình thức tín dụng khác vì bên cho thuê vẫn nắm quyền sở hữu tài sản nên
bên đi thuê không may bị phá sản thì bên cho thuê mặc nhiên thu hồi tài sản của
mình. Do đó có thể khuyến khích các tổ chức kinh doanh tiền tệ (các ngân hàng
thương mại,công ty tài chính) đầu tư vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh này. Và
để thực hiện hoạt động cho thuê tài chính các tổ chức kinh doanh tiền tệ phải tìm
cách để thu hút vốn nhàn rỗi ở các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế phục vụ
cho hoạt động này.
-Cho thuê tài chính góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị, đẩy nhanh
tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế. Thông qua hoạt động cho thuê
tài chính, các loại máy móc, thiết bị hiện đại có điều kiện để đưa vào các doanh
nghiệp góp phần nâng cao trình độ công nghệ sản xuất, đáp ứng được nhu cầu đổi
mới công nghệ với tốc độ nhanh từ đó đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
1.2.5.2 Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính đối với người cho thuê.
-Cho thuê tài chính là hình thức tài trợ vốn có độ an toàn cao.Trong hình thức tài
trợ này, quyền sở hữu tài sản vẫn thuộc người cho thuê vì vậy họ có quyền kiểm tra,
giám sát việc sử dụng tài sản. Trường hợp có biểu hiện đe doạ sự an toàn của tài sản
cho thuê thì người cho thuê có thể thu hồi tài sản. Do vậy người cho thuê tránh được
thiệt hại có thể mất vốn đầu tư.
Khoản vốn đầu tư qua hoạt động cho thuê tài chính chắc chắn sẽ được sử dụng
đúng mục đích, vì vậy đảm bảo khả năng trả nợ của người đi thuê,điều nay cũng có
nghĩa là đảm bảo khả năng thu hồi vốn đầu tư của người cho thuê. Mặt khác do cho
thuê tài chính là hình thức tài trợ bằng hiện vật nên hạn chế được ảnh hưởng của
lạm phát, người cho thuê có thể bảo toàn được giá trị của vốn đầu tư.
- Cho thuê tài chính là phương thức kinh doanh cho phép người cho thuê linh
hoạt trong kinh doanh. Do tiền thuê và lãi thuê được người đi thuê trả dần hàng kỳ,
vì vậy trong thời gian cho thuê, vốn đầu tư được thu hồi dần cho phép người cho
thuê tái đầu tư vốn vào các hoạt động kinh doanh khác để kiếm lời và luôn giữ được
nhịp độ hoạt động.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét