cũng phát triển hai hình thức này chính là điều kiện tiền đề cho sự phát
triển của phương thức sản xuất. Nhưng quan hệ của lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất phải thoả mãn một số yêu cầu sau:
- Thứ nhất: Đó phải là một khái niệm chung nhất được khái quát từ các mặt
phù hợp khác nhau phản ánh được bản chất của sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với lực lượng sản xuất.
- Thứ hai: Đó phải là một khái niệm “động” phản ánh được trạng thái biến
đổi thường xuyên của sự vận động, phát triển trong quan hệ của quan hệ
sản xuất với lực lượng sản xuất.
- Thứ ba: Đó phải là một khái niệm có ý nghĩa thực tiễn. Ngoài ý nghĩa
nhận thức, khái niệm về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản
xuất được coi là thoả đáng phải có tác dụng định hướng, chỉ dẫn cho việc
xây dựng quan hệ sản xuất, sao cho những quan hệ sản xuất có khả năng
phù hợp cao nhất với lực lượng sản xuất.
Tuy nhiên khái niệm thống nhất này cũng chỉ là tương đối. Bản thân nội
dung khái niệm cũng đã nói lên tính chất tương đối của nó: thống nhất của
cái đối lập, trong thống nhất đã bao hàm và chứa đựng trong nó sự đối lập.
Đấu tranh các mặt đối lập.
Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời sự
đấu tranh chuyển hoá giữa chúng. Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong
một sự vật thống nhất như một chỉnh thể trọn vẹn nhưng không nằm yên
bên nhau mà điều chỉnh chuyển hoá lẫn nhau tạo thành động lực phát triển
của bản thân sự vật. Sự đấu tranh chuyển hoá, bài trừ và phủ định lẫn nhau
giữa các mặt trong thế giới khách quan thể hiện dưới nhiều dạng khác
nhau.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập được chia ra làm nhiều giai đoạn. Thông
thường, khi mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể hiện rõ sự xung khắc
gay gắt, người ta gọi đó là giai đoạn khác nhau. Chỉ có những mặt khác
5
nhau tồn tại trong một sự vật nhưng liên hệ hữu cơ với nhau, phát triển
ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trong của sự phát triển, thì hai
mặt đối lập ấy mới hình thành bước đầu của mâu thuẫn. Khi hai mặt đối lập
của mâu thuẫn phát triển đến giai đoạn xung đột gay gắt, nó biến thành độc
lập. Nếu hội đủ các mặt cần thiết hai mặt đối lập sẽ chuyễn hoá lẫn nhau.
Mâu thuẫn được giải quyết, sự vật mới hơn xuất hiện. Cứ như thế, đấu
tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngừng từ thấp lên
cao, chính vì vậy Lênin khẳng định “Sự phát triển là một cuộc đấu tranh
giữa các mặt đối lập”.
2. Sự chuyển hoá của các mặt đối lập :
Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đều dẫn đến sự
chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển
đến một trình độ nhất định, hội đủ các điều kiện cần thiết mới dẫn đến
chuyển hoá, bài trừ và phủ định lẫn nhau. Chuyển hoá của các mặt đối lập
chính là lúc mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời,
đó chính là quá trình diễn biến rất phức tạp với nhiều hình thức phong phú
khác nhau.
Thông thường thì mâu thuẫn chuyển hoá theo hai phương thức:
+ Phương thức thứ 1: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập
kia nhưng ở trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vật.
+ Phương thức thứ 2: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để
hình thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn.
Các mặt đối lập này lại đấu tranh chuyển hoá và phủ định lẫn nhau
để tạo thành sự vật mới hơn. Cứ như vậy mà các sự vật, hiện tượng trong
thế giới khách quan thường xuyên phát triển và biến đổi không ngừng. Vì
vậy, mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của mọi quan niệm mới.
Như chúng ta đã biết, từ khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng, tất cả các
nước xã hội chủ nghĩa đều thực hiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cơ
6
chế vận hành và quản lý kinh tế này được duy trì trong một thời gian khá
dài và xem như là đặc trưng riêng biệt của CNXH, là cái đối lập với cơ chế
thị trường của CNTB. Nền kinh tế tập trung đã được các nước Tư bản áp
dụng từ trước khi nhiều nước xác lập chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhưng các
nước TBCN đã xoá bỏ cơ chế thị trường sau khi chiến tranh kết thúc và đã
đạt được những thành tựu rất lớn về kinh tế xã hội. Nhưng công bằng mà
nói, nền kinh tế thị trường cũng chưa phải là cái duy nhất bảo đảm cho sự
tăng trưởng và phát triển của xã hội.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay. Đảng ta một lần nữa khẳng định
những giá trị khoa học bền vững của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh. Đồng thời tuyên bố lấy chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động.
+ Một số đặc điểm của kinh tế thị trường ở Việt nam nhìn từ góc độ
triết học.
Nền kinh tế nước ta hiện nay, có thể nói, đang ở trong giai đoạn quá
độ chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính, bao cấp sang nền kinh
tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Do vậy, những đặc điểm của giai đoạn quá độ trong nền kinh tế
nước ta, đương nhiên là một vấn đè có ý nghĩa, rất cần được nghiên cứu,
xem xét.
Vậy từ phương diện triết học thì những đặc điểm của nền kinh tế quá
độ của nước ta hiện nay là gì? Như chúng ta đã biết, trong nền kinh tế tập
trung-bao cấp, mọi chức năng kinh tế - xã hội của nền kinh tế đều được
triển khai trong quá trình kế hoạch hoá ở cấp độ quốc gia. Tính bao cấp của
nhà nước đối với các hoạt động của sản xuất, lưu thông, phân phối khá
nặng nề. Lợi ích kinh tế, đặc biệt là lợi ích cá nhân người lao động, một
động lực trực tiếp của hoạt động xã hội chưa được quan tâm đúng mức. Vì
thế, sự vận động của nền kinh tế nhìn chung là chậm chạp, kém năng động.
7
Kể từ đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) đến nay, theo đường lối đổi
mới, đất nước ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường với định
hướng xã hội chủ nghĩa và điều đó có nghĩa là, chúng ta đã đạt được những
thành tựu hết sức quan trọng, những thành tựu cho phép chúng ta “điều
chỉnh và bổ xung nhận thức, làm cho quan niệm về chủ nghĩa xã hội ngày
càng cụ thể; đường lối, chủ trương, chính sách ngày càng đồng bộ, có căn
cứ khoa học và thực tiễn”. Những thành tựu đó, trong một chừng mực nhất
định, cũng gián tiếp khả năng của kinh tế thị trường trong việc năng động
hoá nền kinh tế đất nước.
Thành tựu những năm đổi mới ở nước ta vừa qua đã có tác dụng làm cho
chúng quen dần với các quan hệ hàng hoá. Bước chuyển sang cơ chế thị
trường này đương nhiên không tránh khỏi có những mặt tiêu cực của nó;
nhưng dẫu sao nó cũng nói lên sức sống và khả năng tác động của các quan
hệ thị trường. Về thực chất của bước chuyển này, một số cho rằng: “Ở Việt
nam, dù nền kinh tế thị trường chỉ mới vừa được hình thành, còn đang
trong những bước chập chững ban đầu và được điều tiết một cách có ý thức
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, song cũng đã tác động khá rõ đến mọi
mặt của đời sống xã hội và để lại ở đó những dấu ấn của mình về mặt văn
hoá “Sự đan xen chi phối mãnh liệt của các nhân tố khác của đời sống xã
hội trong bối cảnh của một xã hội vừa ra khỏi cơ chế hành chính - bao cấp
đã làm cho cơ chế thị trường bị “khúc xạ” theo nhiều chiều hướng khác
nhau.
Vai trò của Nhà nước và của nền kinh tế Nhà nước trong một nền kinh
tế hướng tới thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là điều không
phải bàn cãi. Nhà nước, ngoài việc trực tiếp phải quyết định những vấn đề
của bản thân nền kinh tế còn phải đóng vai trò là nhân vật trung gian giữa
các vấn đề kinh tế và xã hội. Nhà nước với các chính sách luật lệ của mình,
một mặt, có khả năng làm cho nền kinh tế đạt tới một sự tăng trưởng có
8
hiệu quả, nhưng mặt khác, nó cũng lại chính là người lo giải quyết các vấn
đề do chính sự tăng trưởng kinh tế đó tạo ra. Trên thực tế, bộ máy quản lý
vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế còn quá cồng kềnh và kém hiệu
quả. Hầu hết các doanh nghiệp kinh tế Nhà nước đều hoạt động thiếu năng
động và hiệu quả, quá ỷ lại vào Nhà nước.
Cũng phải thừa nhận rằng, các vấn đề nói trên dù ít, dù nhiều, cũng là
các vấn đề của bản thân cơ chế quản lý. Trong nền kinh tế hiện nay, cơ chế
quản lý đang ở giai đoạn hình thành nên thường là không đồng bộ, thiếu
hụt. Chúng ta chưa thực sự tạo ra môi trường an toàn và ổn định cho sản
xuất và kinh doanh. Tính chất không rõ ràng, thiếu xác định cả trên phương
diện kinh tế - xã hội dường như đang là một cái gì đó rất phổ biến, rất đặc
trưng cho các quan hệ trong nền kinh tế nước ta. Cần thiết phải lưu ý rằng,
khác với cơ chế hành chính - bao cấp, cơ chế thị trường với các qui luật
khách quan khó nắm bắt của mình, thường biểu hiện ra như là một cơ chế
tự phát hơn, tự nhiên hơn và nằm xa sự chi phối của con người hơn. Bao
giờ cũng vậy, trong các giai đoạn quá độ, chuyển tiếp yếu tố tự phát thể
hiện vai trò của mình mạnh hơn yếu tố tự giác. Bởi vậy, trong nền kinh tế
nước ta hiện nay, việc nắm được các yếu tố tự phát, tự giác của nền kinh tế,
hiểu được phương thức hoặc tìm ra được phương pháp kiểm soát thích hợp
đối với chúng ta đều hết sức có ý nghĩa. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có
quá nhiều hiện tượng và quá trình mà chúng ta còn buông lỏng sự kiểm
soát hoặc chưa thực sự có khả năng kiểm soát sự vận động của chúng ta.
Mỗi hành trang có ý nghĩa mà công cuộc đổi mới trang bị cho chúng ta,
sản xuất hàng hoá cùng với “Nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường”, hiện đã được chúng ta hiểu là không đối lập với chủ
nghĩa xã hội. Với tính cách là sản phẩm của văn minh nhân loại, một “Cơ
hội để các cộng đồng mở cửa, tiếp xúc với bên ngoài”, kinh tế thị trường rõ
9
ràng là cái khách quan và tất yếu đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta.
Tuy nhiên, nhận ra sức mạnh của cơ chế thị trường bao nhiêu, chúng ta lại
cũng hiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời
sống xã hội. Sự tăng trưởng kinh tế đương nhiên là một mục tiêu của phát
triển xã hội; nó có khả năng tạo ra điều kiện để giải quyết các vấn đề xã
hội. Nhưng tăng trưởng kinh tế không nhất thiết đi liền với sự tiến bộ xã
hội. Do vậy, trong quan niệm của Đảng ta, để thực hiện sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội với mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng và
văn minh thì kinh tế thị trường nhất định phải có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng XHCN.
II. NHỮNG MÂU THUẪN PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH
CHUYỂN SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM.
1. Mấy vấn đề lý luận chung của chủ nghĩa Mác - Lê nin về quan hệ
giữa kinh tế và chính trị.
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin thì kinh tế quyết
định chính trị.
“Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế". Trong lịch sử phát
triển xã hội loài người không phải bao giờ cũng có vấn đề chính trị. Từ khi
xã hội có giai cấp và nhà nước xuất hiện thì vấn đề chính trị mới xuất hiện.
Vấn đề chính trị là vấn đề thuộc về quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Bản thân vấn đề chính trị ra đời hoàn toàn là do kinh tế quyết định. Chính
trị không phải là mục đích, mà chỉ là phương tiện để thực hiện mục đích
kinh tế. Khi phê phán quan niệm của Duyninh cho rằng bạo lực chính trị
quyết định kinh tế, F.Engen đã khẳng định: “Bạo lực chỉ là phương tiện,
còn lợi ích kinh tế, trái lại, là mục đích “Và trong tác phẩm” Lútvích
Phoiơbăc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” F. Engen đã chỉ rõ:
10
"Để thoả thuận những lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trị chỉ được sử
dụng làm một phương tiện đơn thuần”.
Quyền lực chính trị là công cụ mạnh mẽ nhất để bảo vệ chế độ xã hội. Sự
thống trị về chính trị của một giai cấp nhất định là điều kiện đảm bảo cho
giai cấp đó thực hiện được sự thống trị về kinh tế. Đấu tranh giai cấp, về
thực chất là đấu tranh vì lợi ích kinh tế, được thực hiện thông qua đấu tranh
chính trị. Theo F.Engen “Bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng đều là
đấu tranh chính trị, xét đến cùng, đều xoay quanh vấn đề về giải phóng
kinh tế". Để nhấn mạnh vai trò của chính trị , V.L Lênin đã khẳng định:
“Chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế". Và lập
trường chính trị đúng hay sai sẽ thúc đẩy (hoặc kìm hãm) sự phát triển của
kinh tế. V.I Lênin còn khẳng định: “Không có một lập trường chính trị
đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào giữ vững được sự
thống trị của mình và do đó cũng không thể nào hoàn thành được nhiệm vụ
của mình trong lĩnh vực sản xuất". Khi đó, việc thay đổi thể chế chính trị
cho phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế là điều kiện kiên quyết để
thúc đẩy kinh tế phát triển. Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng kinh
tế và chính trị thống nhất biện chứng với nhau trên nền tảng quyết định của
kinh tế. Đây là cơ sở phương pháp luận quan trọng trong việc nhận thức xã
hội nói chung, nhận thức công cuộc đổi mới ở Việt nam nói riêng.
Có thể nói , từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm
1986) của Đảng Cộng sản Việt nam, đất nước ta chuyển sang một giai đoạn
mới - giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mới. Khi bước vào công cuộc đổi
mới, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh đổi mới tư duy nhất là đối với cán bộ lãnh
đạo, coi đó là tiền đề để đổi mới trong hiện thực. Tuy nhiên nói như vậy
không có nghĩa là đổi mới tư duy có thể tách khỏi đổi mới trong thực tiễn.
Bản thân đổi mới tư duy là phản ánh yêu cầu đổi mới trong thực tiễn mà
gắn liền với thực tiễn cuả công cuộc đổi mới. Chính vì vậy, tổng kết thực
11
tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta là cơ sở chủ yếu nhất để không ngừng đổi
mới và phát triển tư duy.
Vào những năm đầu của công cuộc đổi mới ở nước ta, khi mà Liên Xô và
các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vấp phải những thất bại nặng nề, khi
mà chúng ta giành được những thắng lợi bước đầu, ở nước ta đã có quan
điểm cho rằng nguyên nhân thất bại của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và
Đông Âu là do các nước đó đổi mới chính trị trước đổi mới kinh tế sau; còn
nguyên nhân thành công của công cuộc đổi mới ở nước ta là đổi mới kinh
tế trước, đổi mới chính trị sau. Quan điểm này mới xem qua tưởng là chính
xác, nhưng đi vào phân tích sẽ thấy nó không phù hợp với lý luận và thực
tiễn.
Khẳng định rằng ở nước ta đổi mới kinh tế trước, đổi mới chính trị sau
cũng không phù hợp với thực tiễn. Sự thật là phải có đường lối đổi mới do
Đảng ta đề ra, trên cơ sở đó hình thành chính sách mới, luật pháp mới thì
mới có thể đổi mới kinh tế . Bản thân đường lối đổi mới của Đảng cùng với
chính sách luật pháp của nhà nước đều thuộc về chính trị . Đổi mới chính
trị phải trên cơ sở đổi mới kinh tế, gắn liền với đổi mới kinh tế và đáp ứng
yêu cầu của đổi mới kinh tế.
Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII ( tháng 6 năm 1991 ) Đảng ta
đã khẳng định:
“Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung sức
làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về
đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành
thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời với đổi mới kinh tế,
phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống
chính trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của
nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, nên việc đổi
12
mới trong hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn
bị rất nghiêm túc, không cho phép gây mất ổn định chính trị dẫn đến sự rối
loạn. Nhưng không vì vậy mà tiến hành chậm trễ đổi mới chính trị nhất là
về tổ chức bộ máy và cán bộ, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các
đoàn thể nhân dân, bởi đó là điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và
thực hiện dân chủ”.
Tư tưởng trên đã được tiếp tục phát triển một cách rõ ràng hơn ở Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6 năm 1999) của Đảng ta. Khi tổng
kết các bài học của 10 năm đổi mới. Đảng ta đã khẳng định phải"Kết hợp
chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị" Đây là một cách
khái quát mới, hoàn toàn khoa học nó phù hợp với lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin vừa phù hợp với công cuộc đổi mới ở nước ta.
Trong khi đề ra đổi mới chính trị, Đảng ta luôn nhấn mạnh phải ổn định
chính trị giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Điều này tưởng
như là một nghịch lý nhưng lại hoàn toàn có lý và khoa học.
Đối với nước ta hiện nay, ổn định về chính trị thực chất là giữ vững và
tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường vai trò của nhà nước
XHCN, bảo vệ và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Ổn định về chính trị lại không thể tách rời đổi mới về chính trị. Nhưng
đổi mới về chính trị không phải là đổi mới vô nguyên tắc, mà đổi mới là để
giữ vững ổn định về chính trị, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của
Đảng, vai trò tổ chức quản lý của Nhà nước XHCN. Đổi mới chính trị lại
phải gắn liền với đổi mới về kinh tế, phù hợp với yêu cầu phát triển của
kinh tế thì mới có thể tăng cường được vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò
tổ chức quản lý của Nhà nước XHCN, và nhờ đó mới giữ vững được sự ổn
định về chính trị. Song đổi mới về kinh tế cũng không phải là đổi mới một
cách tuỳ tiện, mà theo một định hướng chính trị nhất định. Đó chính là
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang "nền kinh tế hàng hoá
13
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa" (hay nói một cách ngắn gọn - đó là
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa) Chuyển sang nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm thực hiện mục
tiêu "Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh" Và đó cũng là cơ
sở kinh tế cho sự ổn định về chính trị.
Tóm lại : ổn định và đổi mới về chính trị là hai mặt đối lập nhưng thống
nhất biện chứng với nhau. Có ổn định thì mới có đổi mới và đổi mới là điều
kiện để ổn định. Hai mặt đó tác động qua lại với nhau và gắn bó chặt chẽ
với đổi mới kinh tế , trên nền tảng của đổi mới kinh tế.
2. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất - quan hệ sản xuất.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, vấn đề lực lượng sản xuất -
quan hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp mâu thuẫn giữa hai lực
lượng này và những biểu hiện của nó xét trên phương diện triết học và chủ
nghĩa Mác - Lênin theo đó lực lượng sản xuất là nội dung của sự vật còn
quan hệ sản xuất là ý thức của sự vật, lực lượng sản xuất quyết định quan
hệ sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố động luôn luôn thay đổi. Khi lực
lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất
cũng không còn phù hợp nữa, trở thành yếu tố kìm hãm lực lượng sản xuất
để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển cần phải thay thế quan hệ
sản xuất cũ bằng một quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Quá trình mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản
xuất lạc hậu kìm hãm nó diễn ra gay gắt và quyết liệt và cần được giải
quyết. Nhưng giải quyết nó bằng cách nào? Đó chính là các cuộc cách
mạng xã hội, chuyển đổi nền kinh tế mà cuộc chuyển đổi sang kinh tế thị
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét