Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Lương Thế Vinh



Bài 20
Bài 20
NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI LÊ SƠ (1428 – 1527)
IV - M T S DANH NHÂN VĂN HOÁ XU T S C C A DÂN T CỘ Ố Ấ Ắ Ủ Ộ
IV - M T S DANH NHÂN VĂN HOÁ XU T S C C A DÂN T CỘ Ố Ấ Ắ Ủ Ộ

LƯƠNG THẾ VINH
LƯƠNG THẾ VINH
(1442 - ?)
(1442 - ?)
Mục lục
1 Tiểu sử
2 Giai thoại
3 Tác phẩm

Tiểu sử
Tiểu sử
Lương Thế Vinh (tên chữ Cảnh Nghị, tên hiệu Thụy Hiên; (1442–?) là một
nhà toán học, Phật học, nhà thơ người Việt. Ông đỗ trạng nguyên dưới
triều Lê Thánh Tông và làm quan tại viện Hàn Lâm. Ông là một trong 28
nhà thơ của hội Tao Đàn do vua Lê Thánh Tông lập năm 1495
Lương Thế Vinh sinh ra tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, trấn Sơn
Nam Hạ (nay là thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam
Định). Từ nhỏ Lương Thế Vinh đã nổi tiếng về khả năng học mau thuộc,
nhanh hiểu, và khả năng sáng tạo trong các trò chơi như đá bóng, thả
diều, câu cá, bẫy chim.
Năm 1463, Lương Thế Vinh đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (
trạng nguyên) khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời Lê Thánh
Tông

Các năm sau đó, ông làm quan với các chức Trực học sĩ, Thị thư
và Chưởng viện sự ở viện Hàn lâm.
Khi ông qua đời, Vua Lê Thánh Tông rất mực thương tiếc và viết
một bài thơ khóc Trạng.
Chiếu thư thượng đế xuống đêm qua
Gióng khách chương đài kiếp tại nhà
Cẩm tú mấy hàng về động ngọc
Thánh hiền ba chén ướt hồn hoa
Khí thiên đã lại thu sơn nhạc
Danh lạ còn truyền để quốc gia
Khuất ngón tay than tài cái thế
Lấy ai làm Trạng nước Nam ta

Giai thoại
Giai thoại
Về sự sáng tạo của Lương Thế Vinh hồi nhỏ, có giai thoại kể rằng một lần trong
lúc đang chơi bóng với các bạn, quả bóng lăn xuống một hố hẹp và sâu, tưởng
như không lấy lên được. Lương Thế Vinh đã nghĩ ra cách lấy bóng lên bằng việc
đổ nước vào hố và lợi dụng việc bóng nổi trên nước để lấy lại quả bóng.
Cậu rất thích thả diều, câu cá, bảy chim cùng với các trẻ chăn trậu. Nhưng diều
của Vinh thường vẫn lên cao hơn, có hình dáng khác lạ. Không hẳn "cánh thoi"
mà cũng không giống "cánh tiên". Vinh cắt một khúc dây mướp đã già cỗi, chẻ và
vót mỏng thành một cái mang rồi căng trên một thanh tre mảnh uốn cong hình
chữ U thành một cái "Ve". Buộc chiếc ve này lên diều rồi thả lên trời. Gió thổi,
màng rung lên kêu ve ve nghe rất thích. Cậu còn làm hai, ba cái "ve" to nhỏ khác
nhau buộc thành một bộ. Khi thả diều, tiếng trầm xen kẻ tiếng bổng rất du dương
vui tai, người lớn cũng say mê lắng nghe.
Cùng đi câu cá với bạn bè , nhưng bao giờ cậu cũng được nhiều cá hơn, cá to
hơn. Nhìn chiếc bẫy người lớn bẫy chuột, cậu liền nghĩ ra chiếc bẫy nhỏ xíu để
bẩy chim trả khá tinh vi làm người lớn phải ngạc nhiên, thán phục.
Người thời đó gọi cậu là "thần đồng", tiếng dùng để chỉ những người giỏi như
"thần" ở tuổi nhi đồng. Nhưng bọn trẻ chả hiểu "thần đồng " là gì. Chúng ngỡ TV
hay câu cá, thả diều, bẫY chim, chăn trâu ngoài đồng nên người ta gọi là "thần" ở
ngoài "đồng". Rồi một chuyện sau đây xảy ra, khiến bọn trẻ tưởng cậu là "thần
thánh " thực sự .

Từ đó, trẻ con trong làng truyền nhau rằng Lương Thế Vinh là thần, có
một câu "thần chú" hay lắm, có thể gọi được những vật vô tri như quả
bưởi lại với mình.
Thực ra thì khi Vinh trèo cây hái bưởi bên bờ ao, sẩy tay cậu làm rơi
quả bưởi xuống nước tưởng mất. Nhưng khi nhìn thấy bưởi nổi lên trên
mặt ao. Vinh đã lấy cành che chòi vào và đem ra bãi chơi. Lúc quả bưởi
lăn xuống hố, cậu đã chợt nhớ lại và nghĩ ra cách lấy nước đổ xuống
cho bưởi nổi lên. Vốn thích thơ, ca hò, vè. Khom cúi xuống chờ bưởi,
cậu vui miệng ứng khẩu đọc lẩm nhẩm :
Bưởi ơi bưởi
Bưởi ơi bưởi
Nghe tao gọi
Nghe tao gọi
Lên đi nào
Lên đi nào
Đừng quên lối
Đừng quên lối
Đừng bỏ tao
Đừng bỏ tao
Và bọn trẻ nghĩ răng Vinh đọc "thần chú ".

Sự sáng tạo khoa học của Lương Thế Vinh được truyền khẩu qua câu
chuyện ông tiếp đón sứ nhà Thanh là Chu Hy. Hy đã nghe nói về Lương
Thế Vinh, không những nổi tiếng về văn chương âm nhạc, mà còn tinh
thông toán học, nên thách đố Vinh cân một con voi. Lương Thế Vinh
đưa voi lên một chiếc thuyền rồi đánh dấu mép nước bên thuyền, sau đó
dắt voi lên. Tiếp theo, ông ra lệnh đổ đá hộc xuống thuyền, cho đến lúc
thuyền chìm xuống đến đúng dấu cũ. Việc còn lại là đưa từng viên đá lên
cân và cộng kết quả. Chu Hy thán phục ông nhưng tiếp tục đố ông đo bề
dày của một tờ giấy xé ra từ một quyển sách. Khi nghe ông nói chỉ cần
đo bề dày cả cuốn sách rồi chia đều cho số tờ là ra ngay kết quả, Chu Hy
ngửa mặt lên trời than
Nước Nam quả có lắm người
tài
Lương Thế Vinh cũng được gắn với một vài giai thoại với vua quan nhà Lê. Các
giai thoại này cho thấy ông ứng đáp thông minh với vua, có các lời khuyên hợp
lý cho vua và răn dạy các quan dưới cấp bỏ thói hách dịch nhân dân.

Tác phẩm
Tác phẩm
Về
Về
toán
toán


học
học
Đại thành Toán pháp
Khải minh Toán học
Về lịch sử
Về lịch sử
hát
hát


chèo
chèo
:
:
Hỷ phường Phổ lục
Về
Về
Phật
Phật


học
học
:
:
Thiền môn Khoa giáo (còn gọi là Thích điển Giáo khoa)
Bài tựa sách Nam Tông Tự Pháp Đồ (sách lịch sử đạo Phật Việt
Nam do thiền sư Thường Chiếu, tịch năm 1203, viết ra)

Lương Thế Vinh nổi tiếng với tài năng toán học. Quyển Đại thành toán
pháp của ông được đưa vào chương trình thi cử suốt 450 năm trong lịch
sử giáo dục Việt Nam. Ông cũng được xem là người chế ra bàn tính gẩy
cho người Việt, lúc đầu làm bằng đất rồi bằng trúc, bằng gỗ, sơn mầu
khác nhau, đẹp và dễ tính, dễ nhớ. Các chuyện truyền miệng dân gian
còn cho biết tài năng của ông được thể hiện từ khi nhỏ tuổi. Ông được
nhân dân gọi tên là Trạng Lường sau khi đỗ trạng nguyên.
bàn tính gẩy

Mở đầu cuốn "Toán pháp đại thành" Lương Thế Vinh đề thơ
khuyên mọi người học toán:
Trước thời biết cách thương lường,
Trước thời biết cách thương lường,
Tính toán bình phân ở Cửu chương,
Tính toán bình phân ở Cửu chương,
Thông hay mọi nhẽ điều vinh hiển,
Thông hay mọi nhẽ điều vinh hiển,
Học lấy cho tinh giúp thánh vương!
Học lấy cho tinh giúp thánh vương!

Ngoài công việc hàn lâm trong triều, Lương Thế Vinh còn được vua giao
việc thảo những văn thư ngoại giao với nhà Minh. Triều Minh thường
khen ngợi những văn thư ngoại giao này.
Dù là một nhà nho lỗi lạc, Lương Thế Vinh cũng sáng tác văn Nôm. Ông
được cho là tác giả của Thập giới Cô hồn Quốc ngữ văn, còn gọi là Phật
kinh Thập giới. Đây là áng văn Nôm cổ gồm đoạn mở đầu và 10 đoạn nói
về 10 giới cô hồn: Thiền tăng, đạo sĩ, quan liêu, nho sĩ, thiên văn-địa lý,
lương y, tướng quân, hoa nương, thương cổ và đãng tử. Mỗi đoạn có
một bài tán và kết thúc bằng bài kệ 8 câu. Vì sáng tác Phật kinh Thập
giới, Lương Thế Vinh bị các bạn đồng nghiệp chê và ông không được
ghi tên trong văn miếu Khổng Tử.
Tuy nhiên, Nhất Hạnh cho rằng Lương Thế Vinh không viết bài này vì bài
kệ của đoạn về Thiền tăng có giọng đùa bỡn, không phù hợp với một
người có nhiều cảm tình với Phật giáo như Lương Thế Vinh. Theo Lê
Mạnh Thát, Thập giới Cô hồn Văn là một tác phẩm của vua Lê Thánh
Tông (1442 - 1497).

Lương Thế Vinh cũng quan tâm nghiên cứu về âm nhạc dân gian,
như hát chèo. Ông được vua Lê Thánh Tông giao cho cùng Thân
Nhân Trung và Đỗ Nhuận chế định ra các lễ nhạc của triều đình
Thời ông sống người ta thường coi những người hát xướng là
"xướng ca vô loài". Vậy mà Lương Thế Vinh làm quan to lại rất thích
hát tuồng chèo, thi ca nhạc. Ông sáng tác nhiều mà còn trực tiếp
biểu diễn nữa. Ông đã viết bộ sách "Hý phường phả lục". Lúc về trí
sĩ, ông vẫn thích la cà nơi thôn dã, thích hát ca.
Lương Thế Vinh được nhận định là có tính cách bình dị, mến dân,
trung thực và khả năng châm biếm khôi hài trong việc răn dạy từ
vua đến quan.

Xem chi tiết: Lương Thế Vinh


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét