Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Hoạt động nhập khẩu nguyên liệu nhựa phục vụ sản xuất trong nước tại Công ty Thương mại và xuất nhập khẩu Hà Nội: thực trạng và giải pháp.


Quất). Vì vậy hiện nay phần lớn những nguyên liệu nhựa để phục vụ cho sản
xuất trong nớc đều phải nhập khẩu, còn một số nguyên liệu nhựa thì chúng ta
đã có nhà máy liên doanh trong nớc sản xuất nhng số lợng vẫn hạn chế và giá
thành còn quá cao. Vì thế vai trò của nhập khẩu nguyên vật liệu nhựa phục vụ
cho sản xuất trong nớc là rất quan trọng nó thể hiện trên các khía cạnh sau :
Nhập khẩu nguyên liệu nhựa tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng từng bớc
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc. Bởi vì khi nhập khẩu nguyên liệu nhựa
thì đòi hỏi đồng bộ về kỹ thuật nên sẽ tạo ra dây chuyền hiện đại kéo theo sự
đổi mới trong đội ngũ cán bộ kỹ thuật và quản lý tạo ra kỷ luật lao động chặt
chẽ tạo ra hiệu quả trong sản xuất. Nhập khẩu nguyên liệu còn góp phần phát
triển các nghành có mối quan hệ bổ xung với nghành đợc công nghiệp hoá
nhờ nhập khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung ứng cho sản xuất nâng
cao năng lực sản xuất trong nớc.
Nhập khẩu nguyên liệu nhựa còn có vai trò tích cực để thúc đẩy xuất
khẩu, giải quyết tình trạng thiếu nguyên liệu trong nớc tạo đầu vào cho sản
xuất nâng cao chất lợng sản phẩm nhựa xuất khẩu, đảm bảo tiêu chuẩn quốc
tế để xuất khẩu đồng thời giảm các hao phí tiết kiệm nguyên liệu đầu vào dẫn
đến giảm giá thành sản phẩm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nhựa
trong nớc trên thị trờng quốc tế.
Nhập khẩu nguyên vật liệu nhựa còn phát huy cao độ tính năng động
sáng tạo của mỗi doanh nghiệp, mỗi nghành nghề địa phơng và mỗi cán bộ
tham gia hoạt động nhập khẩu trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần có
nhiều cạnh tranh sâu sắc để tồn tại thì phải luôn luôn đổi mới, nỗ lực vơn lên
xuất phát từ lợi ích của bản thân doanh nghiệp và lợi ích của toàn bộ nền kinh
tế.
Nớc ta là một nớc giàu tài nguyên thiên nhiên nhng không phải chúng ta
luôn có đủ nguyên liệu đầu vào cho sản xuất. Nhà nớc ta luôn khuyến khích
nhập khẩu các mặt hàng trong nớc không sản xuất đợc, đặc biệt là các loại
nguyên vật liệu. Trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc khi mà

5

máy móc thiết bị đợc đổi mới thì việc nhập khẩu nguyên liệu càng trở nên cấp
thiết. Nhập khẩu nguyên liệu cho nghành nhựa sẽ đáp ứng những nhu cầu về
nguyên liệu cho các doanh nghiệp sản xuất trong nớc còn thiếu, đảm bảo cho
hoạt động sản xuất đợc liên tục. Trong những năm tới đời sống nhân dân ta
ngày càng cao sức tiêu dùng ngày càng lớn đòi hỏi số lợng nguyên liệu nhựa
nhập khẩu vào Việt nam để sản xuất thành phẩm nhựa đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng đó. Với những đặc tính đặc biệt của mình các sản phẩm nhựa có vị
trí ngày càng quan trọng trong tơng lai. Các sản phẩm nhựa không chỉ đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân mà còn cung cấp cho các lĩnh vực khác
nhau của nền kinh tế.
2.2. Vai trò của kinh doanh nhập khẩu nguyên liệu nhựa đối
với công ty TM và XNK Hà Nội :
Ngày nay hoạt động ngoại thơng của các quốc gia trên thế giới đều
phát triển mạnh mẽ, tỷ trọng của kim ngạch ngoại thơng trong tổng sản phẩm
quốc dân của mỗi nớc ngày càng lớn. Bên cạnh đó cơ cấu mặt hàng cũng có
những thay đổi sâu sắc hình thành theo hai dòng xu hớng : các nớc phát triển
chủ yếu nhập khẩu nguyên vật liệu nhiên liệu và xuất khẩu vật t thiết bị kĩ
thuật cao và ngợc lại đối với các nớc đang phát triển chủ yếu nhập khẩu
nguyên vật liệu máy móc thiết bị và xuất khẩu những sản phẩm thô có giá trị
thấp. Các nớc đang phát triển tham gia vào hoạt động ngoại thơng với vai trò
là nớc có nền kinh tế qui mô nhỏ nên bị chèn ép và phải chấp nhận giá, nhập
khẩu chủ yếu là sản phẩm kỹ thuật cao để phục vụ cho công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Một đặc trng cơ bản của các nớc đang phát
triển là tỷ trọng thiết bị, nguyên vật liệu, vật t phục vụ sản xuất trong kim
ngạch nhập khẩu cao thờng là 60- 70 % tổng kim ngạch. Vai trò của nhập
khẩu đối với các nớc đang phát triển hết sức quan trọng, nó là tác nhân thúc
đẩy quá trình tăng trởng và phát triển kinh tế đặc biệt là việc nhập khẩu
nguyên vật liệu phục vụ sản xuất trong nớc. Trớc tình hình đó, công ty thơng
mại và xuất nhập khẩu Hà Nội không thể không tham gia vào hoạt động nhập

6

khẩu nguyên liệu nhựa phục vụ sản xuất trong nớc và hoạt động kinh doanh
nhập khẩu nguyên liệu nhựa là một trong những hoạt động đem lại lợi nhuận
lớn cho công ty, đây là nguồn thu để duy trì hoạt động của công ty và bổ
sung vào nguồn vốn đang rất hạn chế của công ty.
3. Tình hình nhập khẩu nguyên liệu nhựa
Các sản phẩm nhựa ngày nay không chỉ phục vụ các nhu cầu tiêu
dùng mà còn phục vụ cho mọi ngành kinh tế nên kinh nghiệm ở các nớc phát
triển cho thấy tốc độ tăng trởng các ngành nhựa phù hợp là 2%-3% trong khi
nền kinh tế tăng trởng 1%. Để đánh giá đúng mức ứng dụng của ngành nhựa
ngời ta thờng dùng chỉ tiêu sản lợng nhựa bình quân đầu ngời.
Bảng 2: Chỉ tiêu sản lợng nhựa bình quân / ngời
Nớc Nhật, Mỹ,
Đức
Đài
Loan
Malayxia Thái Lan Indonexia
Sảnlợng
bq/ngời
100-200Kg 70Kg 28Kg 16Kg 8Kg
(Nguồn : Báo cáo về sản lợng nhựa các nớc của Tổng
công ty Nhựa)
Qua bảng trên ta thấy ở các nớc phát triển nh Nhật, Mỹ, Đức thì sản l-
ợng nhựa bình quân đầu ngời của họ rất cao gấp nhiều lần so với các nớc đang
phát triển. Còn các nớc đang phát triển ở Châu á thì sản lợng thấp hơn rất
nhiều so với các nớc phát triển. Điều này chứng tỏ rằng cùng với sự phát triển
kinh tế thì nguyên liệu nhựa đợc sử dụng ngày càng nhiều và các sản phẩm
nhựa đợc ứng dụng vào các ngành công nghiệp ngày một lớn hơn.
Nớc ta hiện nay trung tâm phát triển ngành nhựa là thành phố Hồ Chí
Minh với sản lợng chiếm 70% sản lợng ngành nhựa cả nớc với sản phẩm đa
dạng công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên sự phát triển còn đặt cho ngành nhựa
những vấn đề cần quan tâm về cơ cấu phát triển trong khi tỷ trọng các ngành
quốc doanh chỉ là 30% còn 70% sản lợng thuộc về lĩnh vực t nhân và các loại

7

hình doanh nghiệp khác. Hầu hết các cơ sở sản xuất nhựa đều là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp lớn còn rất ít do vậy khả năng đầu t trên
qui mô lớn cho các sản phẩm kỹ thuật cao rất hạn chế. Do vậy sản lợng nhựa
bình quân đầu ngời của Việt nam còn rất thấp chỉ đạt khoảng từ 2kg-5kg. Cho
đến nay nớc ta vẫn phải nhập hầu hết nguyên liệu cho ngành nhựa. Nguyên
liệu nhựa là những sản phẩm đợc chế tạo trực tiếp từ dầu thô, qua mỗi quá
trình chế biến mà tạo ra những nguyên liệu khác nhau. Tuy nớc ta đã khai
thác đợc dầu thô nhng vẫn còn cha đủ trình độ để chế tạo ra các loại nguyên
liệu nhựa cần thiết. Hiện nay các loại nguyên liệu nhựa có rất nhiều ở các nớc
phát triển và đang phát triển nh : Anh, Đức, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Nhà nớc
ta đã đặt quan hệ thơng mại với tất cả các nớc này. Mặt khác đã có một số
nhà máy liên doanh cung cấp nguyên liệu nhựa đã đi vào hoạt động nhng vẫn
cha thể đáp ứng nhu cầu trong nớc và trong những năm tới lợng nguyên liệu
nhựa nhập khẩu cũng sẽ không giảm đáng kể .
Để đạt đợc mục tiêu sản lợng bình quân trên 10kg/ngời trong những năm
sắp tới thì chúng ta cần số vốn đầu t khoảng 1 tỷ USD trong đó khoảng 50%
hy vọng huy động từ nguồn vốn nớc ngoài để đầu t xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật cho ngành nhựa. Trong những năm tới Việt Nam cần đầu t phát triển
nguồn nguyên liệu nhựa bán thành phẩm, cơ khí khuân mẫu và chế tạo thiết
bị gia công nhựa, dự án đầu t PVC compound, bột PVC, màng PP cho bao bì,
sản xuất tấm PS PVC, BMMA, tăng cờng đầu t cho các cơ sở phía Bắc và
miền Trung để đảm bảo phân vùng lãnh thổ hợp lý vì hiện nay thị trờng phía
Nam chiếm tới 70%.
Do nền kinh tế Việt nam có điểm xuất phát thấp, hầu hết nguyên liệu hoá
chất thiết bị nhập ngoại mà sản phẩm xuất khẩu cha đáng kể và mới chỉ đáp
ứng đợc các nhu cầu cấp thấp, thông thờng nên cha thực sự cạnh tranh đợc
hàng ngoại nhập.
3. Các hình thức nhập khẩu :

8

Hoạt động kinh doanh nhập khẩu hiện nay đợc tồn tại dới nhiều hình
thức rất đa dạng và phong phú. Có thể kể ra đây một vài hình thức nhập khẩu
thông dụng đang đợc áp dụng ở nớc ta hiện nay :
3.1. Nhập khẩu uỷ thác :
Đó là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp trong nớc có vốn
ngoại tệ riêng và có nhu cầu nhập khẩu một số loại mặt hàng nhng lại không
đủ điều kiện tham gia nhập khẩu trực tiếp đã uỷ thác cho một doanh nghiệp
khác có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thơng tién hành nhập khẩu hàng
theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với phía
bên nớc ngoài để làm thủ tục nhập hàng theo yêu cầu của bên uỷ thác và đợc
hởng một phần thù lao gọi là phí uỷ thác.
Đặc điểm của loại hình nhập khẩu này là :
- Doanh nghiệp nhận uỷ thác không phải bỏ vốn, không phải xin hạn
nghạch nhập khẩu (nếu có), không phải đi tìm thị trờng tiêu thụ do không tiêu
thụ hàng nhập khẩu mà chỉ đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để tìm và giao
dịch với bạn hàng nớc ngoài, ký hợp đồng và làm thủ tục nhập hàng cũng nh
thay mặt bên uỷ thác khiếu nại, đòi bồi thờng với bên nớc ngoài khi có tổn
thất phát sinh.
- Khi tiến hành nhập uỷ thác thì đại diện các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu chỉ đợc tính kim nghạch xuất khẩu chứ không đợc tính doanh số, không
phải chịu thuế doanh thu. Khi nhập uỷ thác thì các doanh nghiệp này phải lập
hai hợp đồng : Một hợp đồng mua hàng hoá với nớc ngoài, một hợp đồng uỷ
thác với nhà uỷ thác.
3.2. Nhập khẩu liên doanh :
Là loại hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế một
cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh ngiệp
xuất khẩu trực tiếp) phối hợp với nhau để tiến hành giao dịch và đề ra các chủ
trơng biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động
nhập khẩu theo hớng có lợi nhất cho cả hai bên, cùng phân chia lỗ lãi tuỳ theo
trách nhiệm của mỗi bên.

9

Đặc điểm của loại hình nhập khẩu liên doanh là :
- Các doanh nghiệp chịu ít rủi ro hơn vì mỗi doanh nghiệp tham gia
liên doanh nhập khẩu chỉ phải góp một phần vốn nhất định nên quyền hạn và
trách nhiệm của mỗi bên sẽ đợc phaan bổ dựa trên phần vốn góp đó. Rủi ro
(nếu có) sẽ đợc san sẻ cho các bên và nh thế doanh nghiệp thành viên chỉ phải
chịu phần rủi ro ít hơn. Việc phân chia chi phí, thuế doanh thu, lãi lỗ sẽ dựa
trên phần vốn góp và thoả thuận giữa các bên với nhau.
- Doanh nghiệp đứng ra nhập khẩu sẽ đợc tính kim nghạch nhập
khẩu nhng khi đa hàng về tiêu thụ thì chỉ đợc tính doanh số trên số hàng tính
theo tỷ lệ vốn góp và chỉ phải chịu thuế doanh thu dựa trên phần đợc chia đó.
- Doanh nghiệp hoạt động theo loại hình nhập khẩu này cần phải lập
hai hợp đồng : một hợp đồng mua hàng với nớc ngoài, một hợp đồng liên
doanh với doanh nghiệp khác. Sở dĩ có sự phân chia nh thế là do căn cứ vào
chủ thể của hoạt động nhập khẩu. Nếu quan tâm đến hình thức thanh toán
trong hoạt động này thì ta có thể thấy hai hình thức là mua bán thanh toán
bằng tiền và mua bán thanh toán bằng hàng. Thanh toán bằng tiền là cahs
thức truyền thống. Thanh toán bằng hàng (còn gọi là buôn bán đối lu) là một
hình thức còn khá mới mẻ đối với chúng ta. Vì thế ta nên tìm hiểu kỹ trớc khi
quyết định sử dụng loại hình nhập khẩu này.
3.3. Nhập khẩu đối lu :
Nhập khẩu hàng đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai nghiệp vụ
chủ yếu của buôn bán đối lu. Nó kà một hình thức nhập khẩu gắn liền với
xuất khẩu, thanh toán ở đây không phải bằng tiền mà là bằng hàng hoá. Mục
đích của nhập hàng ở đây không phải chỉ thu lãi từ hoạt động nhập khẩu mà
còn nhằm để xuất đợc hàng, thu lãi cả từ hoạt động xuất khẩu.
Đặc điểm của hình thức nhập khẩu đối lu là : Hình thức nhập khẩu
này rất có lợi bởi cùng một hợp đồng mà có thể tiến hành đồng thời hoạt động
nhập và xuất, do đó mà có thể thu lãi từ cả hai hoạt động đó. Trong việc tiến
hành loại hình nhập khẩu này cần chú ý các đặc điểm sau :
- Hoạt động nhập và xuất tơng đơng nhau về giá trị.

10

- Bạn hàng bán cũng chính là bạn hàng mua.
- Doanh ngiệp xuất nhập khẩu trực tiếp đợc tính cả kim nghạch nhập
và xuất khẩu. Doanh số tiêu thụ tính trên cả hai lô hàng xuất khẩu và nhập
khẩu.
- Biện pháp để đảm bảo thực hiện hợp đồng có thể là :
+ Dùng th tín dụng đối ứng (Recipprocal Letter of Credit). Đây là một
loại L/C mà trong nội dung của nó có thể có điều khoản qui định : L/C này
chỉ có hiệu lực khi ngời hởng mở một L/C khác có kim nghạch tơng đơng.
+ Dùng ngời thứ ba khống chế chứng từ sở hữu hàng hoá. Ngời này sẽ
chỉ giao chứng từ cho ngời nhận hàng khi họ đổi một chứng từ sở hữu hàng
hoá có giá trị tơng đơng.
+ Phạt về việc giao thiếu hay giao chậm.
3.4. Nhập khẩu tái xuất :
Là loại nhập hàng nhng không để tiêu thụ trong nớc mà để xuất sang
một nớc thứ ba nào đó nhằm thu lợi nhuận song những hàng này không đợc
chế biến tại nớc tái xuất. Nh vậy, nhập khẩu tái xuất luôn thu hút ba nớc : nớc
xuất khẩu, nớc nhập khẩu, nớc tái xuất.
Loại hình nhập khẩu này có các đặc điểm cơ bản sau :
- Doanh nghiệp nớc tái xuất phải tính toán toàn bộ chi phí khi gặp
mỗi bạn hàng xuất và bạn hàng nhập sao cho thu đợc số tiền lớn hơn chi phí
bỏ ra để tiến hành hoạt động.
- Doanh nghiệp nớc tái xuất phải tiến hành ký kết và thực hiện hai
hợp đồng : một hợp đồng xuất khẩu và một hợp đồng nhập khẩu nhng không
phải chịu thuế xuất nhập khẩu với mặt hàng kinh doanh.
- Để đảm bảo thanh toán, hợp đồng tái xuất thờng dùng th tín dụng
giáp lng, hàng hoá không nhất thiết phải chuyển về nớc tái xuất mà chuyển
thẳng sang nớc thứ ba nhng tiền trả thì phải do ngời tái xuất thu từ ngời nhập
khẩu và trả cho ngời xuất khẩu. Nhiều khi ngời tái xuất còn thu đợc lợi tức về
tiền hàng do thu đợc nhanh và trả đợc chậm.
3.5. Nhập khẩu trực tiếp :

11

Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh
nghiệp, trực tiếp nghiên cứu thị trờng, tính toán chi phí, ký kết hợp đồng, thực
hiện hợp đồng, chịu trách nhiệm về lỗ lãi, đảm bảo đúng phơng hớng, phù
hợp luật pháp quốc gia cũng nh luật pháp quốc tế.
Hoạt động nhập khẩu trực tiếp có những đặc điểm sau :
- Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm pháp lý về mọi mặt hoạt động,
phải tự nghiên cứu thị trờng, chịu mọi chi phí giao dịch, giao nhận hàng hoá,
lu kho, chi phí quảng cáo, chi phí tiêu thụ hàng hoá
- Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp đợc tính kim nghạch nhập
khẩu và khi tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu này sẽ đợc tính doanh số và doanh
số đó phải chịu thuế GTGT.
- Trong loại hình nhập khẩu này, thông thờng doanh nghiệp chỉ cần
lập một hợp đồng ngoại đợc hai bên ký kết, còn hợp đồng bán trong nớc khi
hàng về sẽ lập sau hoặc bán với các hình thức khác nhau.
II. Nội dung hoạt động kinh doanh Nhập khẩu
Giao dịch buôn bán hàng hoá dịch vụ trong thơng mại quốc tế bao giờ
cũnh phức tạp hơn việc mua bán trao đổi trong nớc. Sở dĩ nh vậy là do các bên
ở các quốc gia khác nhau, đồng tiền thanh toán khác nhau, hệ thống tài chính
tiền tệ, luật pháp và tập quán buôn bán ở các nớc là khác nhau. Vì vậy để tiến
hành hoạt động nhập khẩu có hiệu quả thì một doanh nghiệp xuất nhập khẩu
cần tuân thủ theo các bớc sau đây :
1. Nghiên cứu thị trờng Nhập khẩu
Nghiên cứu thị trờng nhập khẩu là việc làm cần thiết đầu tiên đối với
bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tham gia vào thơng mại quốc tế. Nghiên cứu
thị trờng nhập khẩu là quá trình điều tra nhu cầu và khả năng nhập khẩu cho
một sản phẩm cụ thể hay một nhóm sản phẩm trên thị trờng nào đó. Quá trình
nghiên cứu thị trờng là quá trình thu thập thông tin về các loại hàng hoá, dịch
vụ, các nguồn cung ứng, khả năng dự trữ, số liệu mua bán từ đó so sánh,
phân tích, rút ra kết luận cần thiết cho công tác xâm nhập thị trờng.

12

Trong quá trình chuẩn bị giao dịch, vấn đề nghiên cứu thị trờng để có
một hệ thống thông tin về thị trờng đầy đủ, chính xác, kịp thời sẽ làm cơ sở
cho doanh nghiệp có những quyết định đungs đắn, đáp ứng đợc tình thế của
thị trờng. Đồng thời, hệ thống thông tin không những làm cơ sở để doanh
nghiệp lựa chon đối tác giao dịch thích hợp mà còn làm cơ sở cho quá trình
giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng sau này có hiệu
quả.
1.1. Nghiên cứu thị trờng trong nớc
Đây chính là việc nghiên cứu thị trờng tiêu thụ hàng nhập khẩu. Có nghiên
cứu thị trờng trong nớc một cách kỹ lỡng, chặt chẽ thì doanh nghiệp mới nắm
bắt thông tin về nhu cầu, giá cả, chất lợng hàng hoá, dịch vụ. Từ đó đề ra các
hớng cho hoạt động nhập khẩu. Quá trình nghiên cứu thị trờng này bao gồm
các bớc sau :
1.1.1. Nhận biết mặt hàng nhập khẩu :
Mục đích của việc nghiên cứu thị trờng mặt hàng nhập khẩu là để tìm
ra mặt hàng nhập khẩu mà nhu cầu trong nớc đang cần nhng phải phù hợp với
mục tiêu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Muốn biết mặt hàng nào đang đợc
khách hàng và ngời tiêu dùng trong nớc cần, đang là nhu cầu thiết yếu của thị
trờng trong nớc thì phải tiến hành nghiên cứu khảo sát trên các khía cạnh
sau :
+ Về mặt hàng, phẩm chất, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu
+ Về tình hình tiêu dùng mặt hàng đó thế nào? Phải hiểu rõ tập quán, thị hiếu
và qui luật biến động của quan hệ cung cầu để có thể đáp ứng kịp thời nhu
cầu của thị trờng một cách tốt nhất.
+ Dự đoán đợc mặt hàng đó đang ở thời kỳ nào của chu kỳ sống của mặt hàng
đó để có thể quyết định chính xác phơng án nhập khẩu nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động nhập khẩu.

13

+ Xác định đợc tình hình sản xuất mặt hàng đó trong nớc (nếu có) nh thế nào
để quyết định xem số lợng nhập khẩu là bao nhiêu cho phù hợp, tránh tình
trạng nhập về thừa không tiêu thụ đợc.
+ Xác định tỷ suất ngoại tệ nhập khẩu là bao nhiêu? Trong thơng mại quốc tế
do các nớc có hệ thống tiền tệ khác nhau nên việc xác định tỷ suất ngoại tệ
hàng nhập khẩu là cần thiết để xem xét việc kinh doanh có hiệu quả hay
không (nếu tỷ suất này lớn hơn tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam và đồng
ngoại tệ thì việc nhập khẩu có lãi và ngợc lại sẽ bị thua lỗ.
1.1.2. Nghiên cứu thị trờng và các nhân tố ảnh hởng đến dung l-
ợng thị trờng
Dung lợng thị trờng là khối lợng hàng hoá đợc giao dịch trên phạm vi
một thị trờng nhất định trong một thời gian nhất định (thờng là một năm). Đối
với đơn vị kinh doanh nhập khẩu, nghiên cứu dung lợng thị trờng cần xác
định khả năng cung cấp của thị trờng bao gồm cả việc xem xét đặc điểm, tính
chất, khả năng sản xuất hàng thay thế, khả năng lựa chọn mua bán của loại
hàng hoá đó.
Dung lợng thị trờng không cố định, nó thay đổi tuỳ theo diễn biến của
từng giai đoạn nhất định. Các nhân tố ảnh hởng đến dung lợng thị trờng có
thể chia làm ba giai đoạn nh sau :
Thứ nhất là các nhân tố làm dung lợng biến đổi có tính chất chu kỳ. Đó là
sự vận động của tình hình kinh tế và tính chất thời vụ trong sản xuất, lu thông
và tiêu dùng.
Thứ hai là các nhân tố ảnh hởng lâu dài tới sự biến động của thị trờng bao
gồm những tiến bộ khoa học công nghệ, các chính sách của Nhà nớc và các
tập đoàn t bản tài chính lũng đoạn thị trờng, thị hiếu, tập quán tiêu dùng, ảnh
hởng của khả năng sản xuất hàng thay thế.
Thứ ba là nhân tố ảnh hởng tạm thời tới dung lợng thị trờng nh biến động
về kinh tế, chính trị, thiên tai của quốc gia chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét