Đề tài: Bản chất và vai trò của lợi
nhuận trong nền kinh tế thị trờng
Lời mở đầu
Lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cao nhất, là điều kiện tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Với t cách là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh
cả về mặt lợng và chất toàn bộ kết quả và hiệu quả của quá trình sản xuất,
kinh doanh, lợi nhuận là vấn đề đợc đặt lên hàng đầu đối với các doanh
nghiệp trớc khi họ đa ra các quyết định sản xuất-kinh doanh. Doanh nghiệp
là ngời sản xuất, cung cấp các hàng hoá và dịch vụ cho thị trờng, họ phải bỏ
vốn ra để tiến hành sản xuất kinh doanh. Họ đều mong muốn chi phí cho
các đầu vào thật thấp và bán đợc các hàng hoá-dịch vụ của mình với giá cao
để sau khi trừ đi chi phí, số tiền lãi thu đợc không chỉ đủ để sản xuất mà giản
đơn, mà còn có tái sản xuất mở rộng, không ngừng tích luỹ để mở rộng và
phát triển sản xuất, củng cố và tăng cờng vị trí của mình trên thị trờng. Lợi
nhuận là căn cứ, là tín hiệu báo cho các doanh nghiệp biết mình phải sản xuất
loại hàng hoá-dịch vụ nào, với số lợng bao nhiêu, sản xuất vào thời điểm nào,
bán ra ở đâu, với giá cả là bao nhiêu
Với tầm quan trọng đặc biệt nh vậy, phạm trù lợi nhuận đã đợc các
nhà kinh tế từ trớc đến nay quan tâm nghiên cú để làm rõ các vấn đề về
nguồn gốc, bản chất và vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế. Họ đã đứng
trên các lập trờng quan điểm khác nhau để nghiên cứu về lợi nhuận. Các kết
luận của họ đa ra không hoàn toàn giống nhau, song nó cũng đã phần nào thể
hiện đợc các vấn đề cơ bản của lợi nhuận. Trong số đó, phải kể đến Karl
Mark, ngời đầu tiên đã nghiên cứu một cách khoa học và sâu sắc phạm trù lợi
nhuận. Cho đến ngày nay, phạm trù lợi nhuận vẫn tiếp tục đợc các nhà kinh
tế quan tâm nghiên cứu làm cho hệ thống lý luận về lợi nhuận ngày càng
hoàn thiện hơn. Với mỗi chúng ta, đặc biệt là với các sinh viên, các nhà
nghiên cứu kinh tế, các nhà sản xuất kinh doanh việc nghiên cứu về phạm trù
1
lợi nhuận là cần thiết giúp cho các doanh nghiệp có thể đa ra các quyết định
đúng đắn ,tạo điều kiện phát huy các tác động tích cực và hạn chế các mặt
trái của lợi nhuận .
Hiện nay Việt Nam ta đang sống trong công cuộc xây dựng cơ sở vật
chất của chủ nghĩa xã hội một trong những vấn đề quan trọng cần phải làm
đó là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng
có sự quản lý của nhà nớc để phát triển nền kinh tế đất nớc .Vai trò của nhà
nớc là rất quan trọng , nhà nớc sẽ là ngời điều tiết các hoạt động kinh tế phát
huy sức mạnh tích cực của cơ chế thị trờng đồng thời hạn chế những mặt tiêu
cực của nó.
Trong quá trình này phạm trù lợi nhuận cần phải đợc nghiên cứu vận
dụng sao cho hợp lý để cho việc phát triển kinh tế phải đi đôi với việc ổn
định và thực hiện công bằng xã hội.
Với những kiến thức đã đợc học, em mạnh dạn nhận viết đề tài nghiên
cứu về nguồn gốc, bản chất và vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị tr-
ờng. Bài viết của em trên cơ sở kế thừa thành quả của các nhà kinh tế học và
đợc sự trực tiếp hớng dẫn của thầyPhạm Quang Phan , do khả năng và trình
độ có hạn nên bài viết sẽ không tránh khỏi những hạn chế, em mong nhận đ-
ợc ý kiến nhận xét của các thầy để có thể hoàn thiện hơn nhận thức của mình.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, đặc biệt là Phó Giáo S - Phó
Tiến Sĩ Phạm Quang Phan, ngời đã trực tiếp giúp đỡ em hoàn thành bài viết
này.
Hà Nội, ngày 1 tháng 12 năm 1999
Sinh viên: Bùi Minh Tuấn
2
Phần nội dung
I. Nguồn gốc và bản chất lợi nhuận
1. Quan điểm lợi nhuận của các trờng phái trớc và sau Mark
Phạm trù lợi nhuận đã xuất hiện từ lâu và đợc hầu hết các nhà kinh tế
học quan tâm nghiên cứu. Trong số họ, có nhiều ngời ủng hộ sự có mặt của
lợi nhuận nh là một tất yếu, coi lợi nhuận là tốt đẹp ; nhng cũng có nhiều ng-
ời không thừa nhận lợi nhuận, coi nó là xấu xa, là nguyên nhân của những tệ
nạn xã hội. Trong lịch sử, chỉ có Karl Mark là ngời thành công nhất trong
nghiên cứu về phạm trù lợi nhuận. Trớc Mark, các nhà kinh tế học mới chỉ
dừng lại ở chỗ lý thuyết về tiến công chứ cha đa ra đợc những luận chứng về
nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận.
Những nhà trọng thơng, trên quan điểm đánh giá cao vai trò của tiền
tệ và thơng nghiệp, cho rằng lợi nhuận là do lĩnh vực lu thông tạo ra, nó là
kết quả của việc bán nhiều mua ít, mua rẻ bán đắt mà có.
Các nhà trọng nông ở Pháp, tiêu biểu là A.R.J.Turgot, trên cơ sở lý
thuyết sản phẩm thuần tuý đã đa ra lý thuyết tiền lơng và lợi nhuận. Theo
Turgot, tiền lơng của công nhân là thu nhập theo lao động, còn sản phẩm
thuần tuý là thu nhập của nhà t bản và đợc gọi là lợi nhuận. Lợi nhuận là thu
nhập không lao động của nhà t bản do công nhân lao động tạo ra.
A.Smith(1723-1790), nhà kinh tế học ngời Anh nổi tiếng với lý thuyết
Bàn tay vô hình, dựa trên lý thuyết giá trị lao động đã cho rằng lợi nhuận là
khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của ngời lao động ; Lợi nhuận và địa tô
có chung một nguồn gốc là lao động không đợc trả công của ngời lao động.
Ông cũng đã chỉ ra đợc một hình thức của lợi nhuận, đó là lợi tức; Theo ông,
lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận mà nhà t bản hoạt động bằng tiền đi vay
trả cho chủ nó để đợc quyền sở hữu t bản. A.Smith cũng đã nhìn thấy xu h-
ớng bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận và xu hớng tỷ suất lợi nhuận giảm sút do
khối lợng t bản đầu t tăng lên.
3
Sau A.Smith, nhà kinh tế học D.Ricardo (1772-1823) cũng đã đa ra đ-
ợc những t tởng cơ bản về lợi nhuận. Theo ông, lợi nhuận là số tiền còn lại
ngoài tiền lơng mà nhà t bản trả cho công nhân. Ông cũng đã giải thích xu h-
ớng giảm sút của tỷ suất lợi nhuận bằng sự vận động biến đổi thu nhập giữa 3
cấp : địa chủ- công nhân và nhà t bản. Theo ông, chỉ địa chủ là ngời có lợi,
ngời công nhân không đợc lợi nhng cũng không bị hại, chỉ có nhà t bản là bị
hại vì tỷ suất lợi nhuận giảm xuống.
Những lý thuyết về lợi nhuận nêu trên cho thấy hầu hết các nhà kinh
tế học ở giai đoạn này đều cha thành công trong nghiên cứu về lợi nhuận, và
hầu hết họ đều thừa nhận sự tồn tại của lợi nhuận. Nhng cùng với sự phát
triển của khoa học kỹ thuật, cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra vào
những năm cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 đã dẫn đến những thay đổi đáng kể
về mặt kinh tế xã hội, nhiều mâu thuẫn trong xã hội t bản nảy sinh và
ngày càng gay gắt. Từ đó đã xuất hiện trờng phái kinh tế chính trị tiểu t sản,
rồi chủ nghĩa xã hội không tởng. T tởng chúng của hai trờng phái này là phê
phán lợi nhuận, coi lợi nhuận là một cái gì đó không đúng đắn, là bất công, là
nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế và các tệ nạn của xã hội t bản (Robert
Owen), và quyền sở hữu, đó là của ăn cắp (Proudhon)
Sang thế kỷ 20, phạm trù lợi nhuận đợc các nhà kinh tế học tiếp tục
nghiên cứu. Họ đã đa ra những cách giải thích khác nhau về nguồn gốc và
bản chất của lợi nhuận, song tựu chung lại, tất cả họ đều nhằm biện hộ cho
lợi nhuận, đều nhằm khẳng định sự tồn tại đơng nhiên hợp lý của lợi nhuận
trong nền kinh tế thị trờng. Họ cho rằng lợi nhuận là tiền công trả cho năng
lực điều hành và tổ chức sản xuất của nhà t bản, cho việc họ chịu mạo hiểm
khi bỏ vốn ra đầu t (Marshall), hay lợi nhuận đó là kết quả của mọi sự cách
tân(J.Schompeter)
Nh vậy, sau gần 200 năm ngày ra đời của khoa học kinh tế, các nhà
kinh tế học vẫn cha thống nhất đợc với nhau về cách chứng minh nguồn gốc,
bản chất của lợi nhuận và sự chiếm hữu lợi nhuận. Tuy nhiên, những đóng
góp của họ cho hệ thống lý luận kinh tế cũng thật quý báu, đặc biệt là sự
đóng góp của Karl Mark.
4
2.Lý luận lợi nhuận của Mark
Karl Mark (1818 - 1883) là một nhà t tởng vĩ đại của giai cấp vô sản
thế giới. Dựa trên lý luận giá trị thặng d, Karl Mark là ngời đầu tiên đã
nghiên cứu một cách khoa học và phân tích sâu sắc về nguồn gốc, bản chất
lợi nhuận cùng các hình thức biểu hiện của lợi nhuận. Mark đã chỉ ra rằng lợi
nhuận doanh nghiệp, địa tô của địa chủ, lợi tức của nhà t bản cho vay đều
là các hình thức chuyển hoá của bộ phận giá trị thặng d do lao động của ngời
công nhân tạo ra. Nh vậy, để tìm hiểu về nguồn gốc và bản chất của lợi
nhuận ta tìm hiểu nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng d.
2.1.Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng d. Quá trình sản xuất
giá trị thặng d.
a.Công thức chung của t bản và mâu thuẫn của nó.
Ta đã biết, mọi t bản lúc đầu đều đợc biểu hiện dới hình thái một số
tiền nhất định. Nhng bản thân tiền không phải là t bản, tiền chỉ biến thành t
bản trong những điều kiện nhất định, đó là khi tiền tệ ấy đợc sử dụng để bó
lột sức lao động của ngời khác.
Tiền với t cách là tiền và tiền với t cách là t bản lúc đầu chỉ khác nhau
về hình thức lu thông. Nếu tiền đợc dùng để mua bán hàng hoá thì nó là ph-
ơng tiện giản đơn của lu thông hàng hoá và vận động theo công thức Hàng-
Tiền-Hàng (H-T-H)
(1)
, tức là sự chuyển hoá từ hàng hoá thành tiền tệ, rồi từ
tiền tệ thành hàng hoá. Còn tiền đó với t cách là t bản thì nó sẽ vận động thoe
công thức Tiền-Hàng-Tiền (H-T-H)
(2)
, tức là sự chuyển hoá từ tiền tệ thành
hàng hoá, rồi từ hàng hoá lại chuyển thành tiền tệ. Công thức (2) nàyđợc gọi
là công thức lu thông hàng hoá của t bản và mọi thứ tiền vận động theo công
thức thứ (2) đều chuyển hoá thành t bản.
So sánh hai công thức, hai sự vận động này ta thấy chúng có những
điểm chung và những điểm khác biệt. Sự giống nhau đợc thể hiện ở chỗ cả
hai sự vận động này đều do hai giai đoạn mua và bán hợp thành; đều có hai
nhân tố vật chất đối lập nhau là hàng hoá (H) và tiền tệ (T), và đều có hai ng-
ời quan hệ với nhau là ngời mua và ngời bán. Tuy nhiên, sự giống nhau này
5
chỉ là giống nhau về mặt hình thức mà ta có thể nhìn nhận trực tiếp đợc từ hai
công thức còn về mặt bản chất thì hai sự vận động này khác nhau hoàn toàn.
Điều này đợc thể hiện ở trình tự của các giai đoạn, ở điểm xuất phát và điểm
kết thúc của quá trình; và đặc biệt là sự khác nhau về mục đích và giới hạn
của sự vận động. Mục đích của lu thông hàng hoá giản đơn (công thức (1)) là
giá trị sử dụng; vì vậy sự vận động sẽ kết thúc ở giai đoạn thứ hai khi những
ngời trao đổi đã có đợc cái mà anh ta cần đến. Trái lại, sự vận động của t bản
(công thức (2)) không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, hơn na giá trị tăng
thêm. Tức là số tiền thu về phải lớn hơn số tiền đã ứng ra, nếu không sự vận
động sẽ trở thành vô nghĩa. Do đó, công thức vận động đầy đủ của t bản phải
là T-H-T , trong đó T = T + T. Số giá trị tăng thêm (T) này đợc gọi là giá
trị thặng d. Cùng với sự xuất hiện của T, số tiền ứng ra ban đầu đã chuyển
hoá thành t bản. Mục đích của sự lu thông T-H-T là sự lớn lên của giá trị,
là giá trị thặng d , cho nên sự vận động T-H-T là không có giới hạn, vì sự
lớn lên của giá trị là không có giới hạn. Công thức T-H-T đợc gọi là công
thức chung của t bản, vì mọi t bản đều biểu hiện trong lu thông dới dạng khái
quát đó, cho dù là t bản công nghiệp, t bản thơng nghiệp, hay t bản cho vay.
Một vấn đề đặt ra ở đây là sự xuất hiện của T; ta thấy rằng số tiền T bỏ vào
lu thông khi trở về tay nhà t bản lại tăng thêm một lợng là T. Tại sao lại nh
vậy ? Các nhà kinh tế học t sản cổ điển đều cho rằng đó là do bản chất của lu
thông tạo ra, lu thông đã làm tăng thêm giá trị, đã tạo ra giá trị thặng d. Nhng
thực chất không phải nh vậy, ta hãy xem xét trong lĩnh vực lu thông:
Nếu hàng hoá đợc trao đổi ngang giá thì chỉ diễn ra sự thay đổi hình
thái của giá trị, hai bên trao đổi chỉ đợc lợi về mặt giá trị sử dụng, còn tổng
số giá trị cũng nh phần giá trị thuộc về mỗi bên trớc, trong và sau khi trao đổi
đều không thay đổi gì.
Trong trờng hợp trao đổi không ngang giá, nếu hàng hoá đợc bán cao
hơn giá trị thì cái mà ngời bán hàng đợc lợi khi là ngời bán cũng chính là cái
anh ta mất đi khi là ngời mua; còn khi hàng hoá đợc bán thấp hơn giá trị thì
những gì mà ngời mua hàng hoá đợc lợi với t cách là ngời mua cũng chính là
cái mà ngời ấy sẽ mất khi là ngời bán.
6
Bây giờ,ta giả định có một lớp ngời chuyên mua đợc hàng hóa
với giá rẻ và bán đợc hàng hoá đó với giá đắt, thì điều này cũng chỉ giải thích
đợc sự làm giàu của các thơng nhân cá biệt chứ không thể giải thích đợc sự
làm giàu của toàn bộ giai cấp các nhà t bản. Giai cấp các nhà t bản không thể
tự làm giàu đợc trên lng của chính mình .
Nh vậy, dù trao đổi ngang giá hay không ngang giá thì cũng
không tạo ra giá trị thặng d . Lu thông không tạo ra giá trị thặng d . Nhng nếu
nhà t bản có tiền mà lại đứng ngoài lu thông, không tiếp xúc gì với lu thông
thì cũng không thể làm cho tiền của mình lới lên đợc .
Những phân tích trên đây cho thấy rằng, sự chuyển hoá của
tiền tệ thành t bản phải đợc tiến hành trong lu thông và đồng thời không phải
trong lu thông .Đây chính là mâu thuẫn của công thức chung của t bản .
b. Hàng hoá sức lao động . Quá trình sản xuất giá trị thặng d .
Những phân tích trên đây cho thấy , sự biến đổi giá trị của số
tiền cần đợc chuyển hoá thành t bản không thể xảy ra từ chính số tiền ấy , sự
biến đổi ấy chỉ có thể xảy ra từ hàng hoá mua vào. Nh thế có nghĩa rằng hàng
hoá đợc mua vào ấy phải là một loại hàng hoá đặc biệt mà giá trị sử dụng của
nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị. Hàng hoá đó chính là sức lao
động. Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con ngời.
Ngời lao động trong điều kiện đợc tự do về thân thể và bị tớc đoạt hết t liệu
sản xuất, họ phải bán sức lao động của mình cho nhà t bản, phải đi làm thuê
cho nhà t bản. hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá
trị sử dụng. Giá trị của hàng hoá sức lao động cũng do thời gian lao động xã
hội cần thiết để tái sản xuất sức lao động quyết định nó chính bằng giá trị
những t liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho bản thân ngời công
nhân và gia đình anh ta, cộng thêm những chi phí đào tạo công nhân. Giá trị
sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng chỉ đợc thể hiện ra khi tiêu dụng.
Tiêu dụng hàng hoá - sức lao động tức là bắt ngời công nhân làm việc. Trong
quá trình ngời công nhân làm việc , anh ta cho nhà t bản một lợng giá trị lớn
hơn giá trị sức lao động của anh ta, nó bằng giá trị sức lao động cộng với giá
trị thặng d. Nhà t bản đã nhìn thấy rõ điều này trớc khi quyết định mua sức
7
lao động của ngời công nhân trong một ngày thì việc sử dụng sức lao động
trong ngày hôm đó hoàn toàn do nhà t bản quyết định. Ngày lao động của ng-
ời công nhân đợc chia làm hai phần là thời gian lao động cần thiết và thời
gian lao động thặng d. Trong thời gian lao động cần thiết, ngời công nhân tạo
ra một lợng giá trị bằng giá trị sức lao động của mình, tức là bằng tiền công
mà nhà t bản trả cho anh ta. Còn trong thời gian lao động thặng d, ngời công
nhân tạo ra giá trị thặng d cho nhà t bản.
Nh vậy, quá trình sản xuất t bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá
trình sản xuất giá trị và quá trình sản xuất ra giá trị thặng d.
Sản xuất ra giá trị thặng d chỉ là việc sản xuất ra giá trị kéo dài quá
một điểm nào đó. Nếu quá trình lao động chỉ kéo dài đến cái điểm mà ở đó
giá trị sức lao động do nhà t bản trả tiền lại đợc thay thế bằng một vật ngang
giá mới thì chỉ có sản xuất giá trị giản đơn thôi. Khi quá trình lao động vợt
quá điểm đó thì có sản xuất giá trị thặng d
(1)
Nhà t bản có thể tiến hành sản xuất giá trị thặng d bằng hai cách: sản
xuất gia trị thăng d tuyệt đối bằng cách kéo dài ngày lao động của ngời công
nhân trong kinh doanh thời gian lao động cần thiết không đổi, sản xuất giá trị
thặng d tơng đối, bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết trong điều
kiện độ dài ngày lao động không thay đổi.
2.2.Chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa. Lợi nhuận.
Để sản xuất ra hàng hoá, xã hội phải hao phí một lợng lao động xã
hội nhất định. Chi phí thực tế để tạo thành giá trị của hàng hoá là : gt
=c+v+m, trong đó c là giá trị của t liệu sản xuất, v+m là giá trị mới do lao
động tạo ra. Đối với nhà t bản, ông ta không tính theo hao phí lao động xã
hội, ông ta chỉ xét xem chi phí hết bao nhiêu t bản. Chi phí sản xuất t bản chủ
nghĩa (k) đợc xác định bằng công thức k=c+v khi đó giá trị của hàng hoá là :
gt =k+m
1
T bản Quyển I Tập 1 Karl Mark
8
Sự hình thành phạm trù chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa đã che dấu
thực chất bóc lột của chủ nghĩa t bản, nó làm cho ngời ta lầm tởng rằng toàn
bộ chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa sinh ra giá trị thặng d chứ không phải là
lao động của công nhân làm thuê.
Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa luôn có một
khoản chênh lệch, nên sau khi bán xong hàng hoá, nhà t bản không chỉ bù
đắp đủ toàn bộ chi phí mà còn thu đợc motọ khoản tiền lời ngang bằng với m.
Khoản tiền lời này đợc gọi là lợi nhuận ( ký hiệu là P ). Với sự xuất hiện của
P, giá trị hàng hoá đợc tính bởi công thức gt =k+P
So sánh giữa m và P ta thấy :
+Về mặt lợng : nếu bán hàng hoá đúng giá trị thì m=P; m và P đều có
nguồn gốc là kết quả lao động không công của công nhân làm thuê.
+Về mặt chất: m phản ánh đúng nguồn gốc của nó sinh ra từ v, còn P
đợc che đậy bằng nguồn gốc k, nó đợc xem nh con đẻ của toàn bộ t bản ứng
trớc.
Sự hình thành phạm trù chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa và phạm trù
lợi nhuận đã che dấu hơn nữa thực chất bóc lột của chủ nghĩa t bản.
Toàn bộ nghiên cứu trên đây đa ta đến kết luận về nguồn gốc và bản
chất của lợi nhuận:
Lợi nhuận là một hình thức biến tớng của giá trị thặng d do sức lao
động không công của công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà t bản chiếm đoạt;
Lợi nhuận P không chỉ che dấu nguồn gốc thực sự của nó mà còn che dấu cả
thực chất bóc lột của chủ nghĩa t bản.
2.3.Các hình thức biểu hiện của lợi nhuận.
9
Tỷ suất lợi nhuận (P) là tỉ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng d
và toàn bộ t bản ứng trớc. Nó phản ánh mức lãi của việc đầu t
m
P= 100%
c + v
Tỷ suất lợi nhuận bình quân ( P) : Là tỷ số tính theo phần trăm giữa
tổng giá trị thặng d trong xã hội t bản và tổng t bản xã hội đã đầu t vào tất cả
các lĩnh vực, các ngành của nền sản xuất t bản chủ nghĩa.
m
P= 100%
( c + v )
Lợi nhuận bình quân ( P ): Là lợi nhuận mà một t bản có một lợng
nhất định thu đợc căn cứ vào P
P = P * k
Với k là toàn bộ t bản ứng trớc
Lợi nhuận thơng nghiệp : Là một phần giá trị thặng d đợc sáng tạo ra
trong lĩnh vực sản xuất mà nhà t bản công nghiệp nhờng cho nhà t bản thơng
nghiệp.
Lợi nhuận ngân hàng : Là khoản chênh lệch giữa lợi tức cho vay và
lợi tức nhận gửi, sau khi cộng thêm các khoản thu nhập khác về kinh doanh
tiền tệ và trừ đi các khoản chi phí về nghiệp vụ ngân hàng.
Lợi nhuận ngân hàng ngang bằng với lợi nhuận bình quân.
Lợi tức : Là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà t bản đi vay phải
trả cho nhà t bản cho vay căn cứ vào số tiền mà nhà t bản cho vay đã đa cho
nhà t bản đi vay sử dụng.
Lợi nhuận siêu ngạch : là phần lợi nhuận ngoài lợi nhuận bình quân
mà nhà t bản nhập đợc nhờ chi phí sản xuất của anh ta thấp hơn chi phí sản
xuất xã hội.
10
II.Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trờng
1.Khái lợc về nền kinh tế thị trờng
Khái niệm : Nền kinh tế thị trờng là nền kinh tế vận hành theo cơ chế
thị trờng ; ở đó, việc sản xuất cái gì, sản xuất nh thế nào và sản xuất cho ai đ-
ợc quyết định thông qua thị trờng.
Trong nền kinh tế thị trờng, các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các
doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá - dịch vụ trên thị trờng.
Thái độ, cách c xử của từng thành viên tham gia vào thị trờng là hớng vào tìm
kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trờng hay Bàn tay
vô hình ( A.Smith )
Kinh tế thị trờng là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng. Đến l-
ợt nó, cơ chế thị trờng là tổng thể các nhân tố, quan hệ cơ bản vận động dới
sự chi phối của các quy luật thị trờng trong môi trờng cạnh tranh, nhằm mục
tiêu lợi nhuận. Nhân tố cơ bản của cơ chế thị trờng là cung- cầu, giá cả thị tr-
ờng. Về bản chất, cơ chế thị trờng là cơ chế giá cả tự do.
2. Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trờng.
Nền kinh tế thị trờng đợc điều tiết bởi các quy luật kinh tế vốn có của
nó, còn lợi nhuận là động lực cơ bản của sự vận động của nền kinh tế thị tr-
ờng. Lợi nhuận điều tiết hành vi của các doanh nghiệp, các nhà sản xuất
trong quá trình hoạt động của họ,. Doanh nghiệp là ngời sản xuất, kinh doanh
hàng hoá - dịch vụ trên thị trờng, họ luôn phỉa tính toán làm sao để có thể
đem lại cho mình mức lợi nhuận lớn nhất , để không chỉ có sản xuất giản đơn
mà còn có tái sản xuất mở rộng, không ngừng phát triển sản xuất, nâng cao
địa vị của mình trên thị trờng.
Lợi nhuận buộc nhà sản xuất phải tìm mọi cách để tối thiểu hóa chi
phí sản xuất. Nhà sản xuất khi bán hàng hoá trên thị trờng họ phải căn cứ vào
chi phí sản xuất để quyết định giá cả hàng hoá. Nếu giảm đợc chi phí sản
xuất xuống mức thấp thì họ sẽ có thể cung cấp cho thị trờng nhiều hàng hoá
hơn với một mức giá thấp hơn, khi đó sẽ kích thích ngời tiêu dùng mua nhiều
11
hàng hoá hơn vì mức giá thấp hơn; và nhờ đó doanh nghiệp có thể nâng cáo
đợc doanh thu và lợi nhuận của mình. Để giảm chi phí sản xuất, doanh
nghiệp có thể tiến hành nhiều biện pháp khác nhau. Doanh nghiệp sẽ nghiên
cứu để sử dụng các đầu vào của mình một cách tối u nhất, tiết kiệm nguyên
vật liệu, nâng cao năng suất lao động của công nhân Đồng thời doanh
nghiệp sẽ phải cải tiến công nghệ, đầu t để mua sắm các loại máy móc thiết
bị tiên tiến và phù hợp, đổi mới tổ chức sản xuất, đổi mới cách quản lý để
nâng cao năng suất lao động . Nhờ việc có đợc công nghệ tiên tiến và phù
hợp doanh nghiệp có điều kiện để có thể thu nhập thêm cho mình một khoản
lợi nhuận siêu ngạch là nhân tố kích thích đầu t đổi mới công nghệ, từ đó sẽ
thúc đẩy ra đời nhiều công nghệ mới, thúc đẩy phát triển khoa học kỹ
thuật.
Lợi nhuận buộc ngời sản xuất phải từ bỏ những lĩnh vực mà ngời tiêu
dùng ít quan tâm và không có nhu cầu, đồng thời hớng vào những lĩnh vực đ-
ợc sự quan tâm của ngời tiêu dùng. Có nh vậy, doanh nghiệp mới có thể bán
đợc những hàng hoá do mình sản xuất ra. Nhu cầu của khách hàng rất đa
dạng và hay thay đổi theo thời gian, vì vậy doanh nghiệp phải biết sản xuất
những mặt hàng phù hợp với sở thích, thị hiếu của ngời tiêu dùng và đa ra
đúng lúc thị trờng đang có nhu cầu. Và đơng nhiên với những mức giá cả và
chất lợng thích hợp thì các sản phẩm của doanh nghiệp sẽ đợc thị trờng chấp
nhận.
Lợi nhuận còn là nhân tố kích thích đầu t , chuyển giao công nghệ.
Căn cứ vào các mức tỷ suất lợi nhuận khác nhau của các dự án đầu t vào
những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao để đem lại cho mình nhiều lợi nhuận
nhất; Về phía các nhà sản xuất, họ cũng sẵn sàng nhập những công nghệ có
thể đem lại cho họ năng suất lao động cao hơn.
Trên đây là một số những tác động tích cực của lợi nhuận đối với nền
kinh tế thị trờng. Xét trên khía cạnh xã hội, với những tác động tích cực này,
lợi nhuận góp phần vào việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiến bộ kỹ
thuật, phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện để làm ra cho xã hội nhiều của
cải hơn, và ngời tiêu dụng có cơ hội để thoả mãn nhu cầu của mình.
12
Nhng tấm huân chơng nào cũng có hai mặt, và kinh tế thị trờng cũng
có mặt trái của nó. Lợi nhuận, bên cạnh những mặt tích cực cũng có những
tác động tiêu cực của nó, làm ảnh hởng không nhỏ đến đời sống xã hội.
Để có lợi nhuận, ngời chủ phải bóc lột giá trị thặng d của công nhân
làm thuê. Muốn tối đa lợi nhuận, thì bên cạnh việc cải tiến công nghệ, ngời
chủ phải tìm mọi cách để chiếm đoạt càng nhiều giá trị thặng d mà ngời công
nhân tạo ra. Từ đó sẽ làm cho tình trạng phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu
sắc và sẽ dẫn đến những mâu thuẫn giã ngời lao động và chủ doanh nghiệp.
Vì chạy theo lợi nhuận, các hãng sử dụng lãng phí các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trờng sống của con ngời và các sinh vật
khác. Thực trạng thế giới hiện nay cho thấy nhiều quốc gia đang sử dụng cạn
kiệt nguồn tài nguyên của mình; môi trờng sống nhiều nơi bị ô nhiễm, nhiệt
độ trái đất đang tăng dần , dẫn đến những căn bệnh hiểm nghèo đe doạ sự
sống của con ngời. Bên cạnh đó, cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật, con ngời
cũng đã chế tạo ra nhiều loại vũ khí huỷ diệt, rồi tình trạng chạy đua vũ
trang, quân sự hoá nền kinh tế, thơng mại hoá quân sự đã và đang là mối
hiểm họa đe dọa cuộc sống của con ngời.
Thực tế nền kinh tế Việt Nam sau hơn 10 năm đổi mới, đã tạo ra sự
tăng trởng đáng kể cho nền kinh tế, ổn định chính trị xã hội. Nhng chúng
ta không thể không nhìn nhận đến những mặt trái của cơ chế thị trờng đang
tác động tiêu cực đến kinh tế xã hội Việt Nam. Chính sách mở cửa kinh tế
, cổ phần hoá những doanh nghiệp nhà nớc làm ăn kém hiệu quả của nhà nớc
ta là đúng đắn. Nó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
phát triển sản xuất kinh doanh của mình. Nhng nhiều doanh nghiệp đã chạy
theo lợi nhuận mà tiến hành các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh, sử
dụng lãng phí nguồn tài nguyên đất nớc, gây ô nhiễm môi trờng quá nhiều
lần mức chỉ tiêu cho phép. Những hậu quả gây ra đó, không ai khác mà chính
doanh nghiệp và toàn xã hội sẽ phải gánh chịu cả trong hiện tại và tơng lại.
Điều này tất yếu dẫn đến yêu cầu là nhà nớc cần phải có những biện pháp
quản lý có hiệu quả hơn để giảm thiểu và tránh những hậu quả bất lợi cho xã
hội
13
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét