tiểu luận triết học -
a.Chân lý
Là những tri thức phản ánh đúng đắn thế giới khách quan đợc thực tiễn khẳng định
( nội dung khách quan, có ý nghĩa giá trị đối với đời sống con ngời)
Chân lý mang tính khách quan, nó không phụ thuộc vào số đông (ví dụ: chân lý
tôn giáo).
Chân lý mang tính hai mặt ( tuyệt đối và tơng đối ) vì tính hai mặt trong quá trình
nhận thức của nhân loại.
b.Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
không phải là ý thức t tởng, t duy mà là thực tiễn. Bởi vì chỉ có thông qua hoạt động thực
tiễn, tri thức mới trở lại tác động vào thế giới vật chất, qua đó nó đợc hiện thực hoá,
vật chất hơn thành các khách thể cảm tính. Từ đó mới có căn cứ để đánh giá nhận thức
của con ngời đúng hay sai, có đạt tới chân lý hay không.
Thực tiễn có rất nhiều hình thức khác nhau, nên nhận thức của con ngời cũng đợc kiểm
tra thông qua rất nhiều hình thức khác nhau.
+Thực tiễn của xã hội luôn luôn vận động và phát triển.
+Thực tiễn trong mỗi giai đoạn lịch sử đều có giới hạn. Nó không thể chứng minh
hay bác bỏ hoàn toàn một tri thức nào đó của con ngời mà nó đợc thực tiễn tiếp theo
chứng minh, bổ sung thêm.
Nh vậy tiêu chuẩn thực tiễn cũng mang tính chất biện chứng và nh vậy mới có khả
năng kiểm tra một cách chính xác sự phát triển biện chứng của nhận thức.
c.ý nghĩa:
Thực tiễn lớn nhất ở nớc ta hiện nay là thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trờng
mới, nền văn hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc và chế độ xã hội mới: công bằng, bình
đẳng, tién bộ.
Trong lĩnh vực kinh tế, đờng lối, chính sách hay các giải pháp kinh tế cụ thể muốn
biết đúng hay sai đều phải thông qua vận dụng chúng trong sản xuất, kinh doanh cũng
nh quản lý các quá trình đó. Đờng lối chính sách cũng nh các giải pháp kinh tế chỉ đúng
Trang 5
tiểu luận triết học -
khi chúng mang lại hiệu quả kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao
động, làm cho dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau những bớc tiến và những thành tựu to
lớn mang lại ý nghĩa lịch sử, giờ đây lại đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Những hoạt
động nghiên cứu lý luận chính là nhằm tìm ra lời giải đáp cho những vấn đề của giai
đoạn cách mạng hiện nay. Công cuộc đổi mới ở nớc ta vừa là mục tiêu, vừa là động lực
mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động nhận thức nói chung và công tác lý luận nói riêng, nhất
định sẽ đem lại cho chúng ta những hiểu biết mới, phong phú hơn và cụ thể hơn về mô
hình chủ nghĩa xã hội, về con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta.
III. Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
1. Lý luận
a. Khái niệm
Là một hệ thống những tri thức đợc khái quát từ thực tiễn. Nó phản ánh những quy
luật, của từng lĩnh vực trong hiện thực khách quan.
b. Đặc điểm
Lý luận mang tính hệ thống, nó ra đời trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của xã hội nên
bất kỳ một lý luận nào cũng mang tính mục đích và ứng dụng.
Nó mang tính hệ thống cao, tổ chức có khoa học.
2. Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
Đợc thể hiện bằng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn. GIữa lý luận và thực
tiễn thống nhất biện chứng với nhau. Sự thống nhất đó bắt nguồn từ chỗ: chúng đều là
hoạt động của con ngời, đều nhằm mục đích cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội để thoả
mãn nhu cầu của con ngời.
a. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn
Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy đợc chất liệu của thực tiễn. Thực tiễn
là hoạt động cơ bản nhất của con ngời, quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội. Lý luận
không có mục đích tự nó mà mục đích cuối cùng là phục vụ thực tiễn. Sức sống của lý
luận chính là luôn luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ cho yêu cầu của thực tiến.
Trang 6
tiểu luận triết học -
b. Lý luận mở đờng và hớng dẫn hoạt động của thực tiễn
Ví dụ: lý luận Mác - Lênin hớng dẫn con đờng đấu tranh của giai cấp vô sản. Sự
thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào nó đợc hớng dẫn bởi lý
luận nào, có khoa học hay không? Sự phát triển của lý luận là do yêu cầu của thực tiễn,
điều đó cũng nói lên thực tiễn không tách rời lý luận, không thể thiếu sự hớng dẫn của lý
luận.
Vai trò của lý luận khoa học là ở chỗ: nó đa lại cho thực tiễn các tri thức đúng đắn
về các quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan, từ đó mới có cơ sở để định
ra mục tiêu và phơng pháp đúng đắn cho hoạt động thực tiễn.
Quan hệ lý luận và thực tiễn mang tính chất phức tạp, quan hệ đó có thể là thống
nhất hoặc mâu thuẫn đối lập.
c. Lý luận và thực tiễn là thống nhất
Lý luận và thực tiễn thống nhất khi giai cấp thống trị còn mang tinh thần tiến bộ
và còn giữ sứ mệnh lịch sử. Khi lý luận và thực tiễn thống nhất thì chúng sẽ tăng cờng lẫn
nhau và phát huy vai trò của nhau. Sự thống nhất đó là một trong những nguyên lý căn
bản của triết học Mác- Lênin.
d. Sự mâu thuẫn của lý luận và thực tiễn
Xảy ra khi giai cấp thống trị trở nên phản động, lỗi thời, lạc hậu. Khi mâu thuẫn
nảy sinh, chúng sẽ làm giảm ảnh hởng của nhau. Điều đó dẫn đến mọi đờng lối, chính
sách xã hội trở nên lạc hậu và phản động.
* ý nghĩa:
Cần phải tăng cờng, phát huy vai trò của lý luận đối với xã hội, đặc biệt là lý luận
xã hội mà quan trọng là lý luận Mác - Lênin và các lý luận về kinh tế.
Trớc chủ nghĩa Mác, trong lý luận nhận thức, phạm trù thực tiễn hầu nh không có
chỗ đứng nào. Nhiều ngời còn hình dung thực tiễn với bộ mặt xấu xí của con buôn (Phơ-
Bách). Trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, sau khi phê phán
E. Ma Khơ và một số ngơi khác đã cố gạt thực tiễn ra khỏi lý luận nhận thức, coi thực
tiễn nh một cái gì không đáng nghiên cứu về mặt nhận thức luận, đã đem cái tiêu chuẩn
Trang 7
tiểu luận triết học -
thực tiễn là cái giúp cho mỗi ngời phân biệt đợc ảo tởng với hiện thực đặt ra ngoài giới
hạn của khoa học, của lý luận nhận thức để dọn chỗ cho chủ nghĩa duy tâm và thuyết
bất khả tri.
V.I.Lênin đã khẳng định: quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm
thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức. (V.I.Lênin toàn tập 1980)
Chính vì sự quan trọng của mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn nên đối với nớc
ta trong giai đoạn này cần đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và hoạt động. Hiện nay, n-
ớc ta đang tiến hành đổi mới một cách toàn diện các mặt của đời sống xã hội, mà trong
đó đổi mới kinh tế là trung tâm. Đổi mới từ nền kinh tế tập trung quan liêu sang nền kinh
tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc là một vấn đề hết sức mới mẻ cha có lời giải đáp
sẵn. Và chúng ta cũng không bao giờ có thể có một lời giải sẵn sau đó mới đi vào tiến
hành đổi mới. Quá trình đổi mới nói chung, đổi mới kinh tế nói riêng và việc nhận thức
quá trình đổi mới đó không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau cùng phát triển.
Vậy trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, phải xuất phát từ thực tế khách quan,
phải lấy hiện thực khách quan làm cơ sở cho hoạt động của mình. Gắn lý luận vào thực
tiễn để hoạt động trở nên khoa học, có cơ sở vững chắc. Tinh thần ấy chính là vấn đề cần
nghiên cứu trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI.
e. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ
nghĩa Mác- Lênin.
Thực tiễn không có lý luận hớng đẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà
không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông. Vì vậy cho nên trong khi nhấn mạnh sự quan
trọng của lý luận, đã nhiều lần Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận cách mạng không phải
là giáo điều, nó là kim chỉ nang cho hành động cách mạng, và lý luận không phải là một
cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo. Lý luận luôn luôn cần đợc bổ sung bằng những
kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động. Những ngời cộng sản các nớc phải cụ thể
hoá chủ nghĩa Mác _ Lênin cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc và từng nơi
(Hồ Chí Minh: toàn tập-1996)
*Con đ ờng biện chứng của sự nhận thức:
Trang 8
tiểu luận triết học -
Nhận thức của con ngời diễn ra trên cơ sở thực tiễn và không ngừng vận động,
phát triển. Sự vận động và phát triển của nhận thức diễn ra một cách biện chứng:
- Từ trực quan sinh động đến t duy trìu tợng và từ t duy trìu tợng đến thực tiễn -
đó là con đờng biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách
quan.
+Trực quan sinh động (hay nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu của quá trình
nhận thức, đợc hình thành trong quá trình thực tiễn.Giai đoạn này đợc hình thành thông
qua các hình thức cơ bản nối tiếp nhau: cảm giác, tri giác, biểu tợng
+T duy trì tợng (hay nhận thức lý tính) là giai đoạn cao của quá trình nhận thức
dựa trên cơ sở những tài liệu do giai đoạn trực quan sinh động mang lại.
- Nhận thức của con ngời phát triển đến giai đoạn t duy trìu tợng cha phải là chấm
dứt, mà nó lại tiếp tục vận động trở về với thực tiễn. Nhận thức phải trở về với thực tiễn
vì:
+ Mục đích của nhận thức là phục vụ hoạt động thực tiễn. Vì vậy nó phải trở về chỉ
đạo hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới.
+Đến giai đoạn t duy trìu tợng vẫn có khả năng phản ánh sai lạc hiện thực. Vì vậy,
nhận thức phải quay trở về thực tiễn để kiểm tra kết quả nhận thức, phân biệt đâu là nhận
thức đúng, đâu là nhận thức sai lầm.
+Thực tiễn luôn luôn vận động, phát triển. Vì vậy nhận thức phải trở về với thực
tiễn để trên cơ sở thực tiễn mới tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức.
- Từ trực quan sinh động dến t duy trìu tợng, và từ t duy trìu tợng đến thực tiễn là
một vòng khâu của quá trình nhận thức. Nó cứ lặp đi lặp lại làm cho nhận thức của con
ngời phát triển không ngừng, ngày càng phản ánh sâu sắc bản chất, quy luật của thế giới
khách quan.
Trang 9
tiểu luận triết học -
Chơng II
Quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam
I,Vị trí địa lý
-Việt Nam nằm ở phía đông của bán đảo Đông Dơng, gần trung tâm Đông Nam á,
có một vùng biển rộng, giàu tiềm năng.
-Vị trí tiếp giáp trên đất liền và trên biển tạo điều kiện cho nớc ta có thể dễ dàng
giao lu với các nớc trên thế giới.
+Trên đất liền, nớc ta giáp Trung Quốc, Lào, Campuchia. Thông qua các tuyến
giao thông (đờng bộ, đờng sắt ) với các cửa khẩu quan trọng, Việt Nam có thể liên hệ
với nhiều nớc trên thế giới.
+ Nớc ta nằm gần các tuyến đờng biển quốc tế. Thông qua đờng biển, có thể quan
hệ với nhiều quốc gia.
+Vùng biển rộng lớn, giàu tiềm năng cho phép phát triển kinh tế biển.
-Việt Nam là nơi giao thoa của các nền văn hoá khác nhau. Điều đó góp phần làm
giàu bản sắc văn hoá.
-Việt Nam nằm ở khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế sôi động của thế
giới. Từ đó cho phép nớc ta có thể dễ dàng hội nhập với các nớc trong khu vực và trên thế
giới. Ta có thể tiếp thu và chọn lọc những bài học, kinh nghiệm thành công cũng nh thất
bại về phát triển kinh tế của các nớc và vận dụng vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nớc
ta.
II, Quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam
1.Tình hình:
- Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm của các nớc xã hội
chủ nghĩa lúc đó, nớc ta bắt đầu xây dựng một mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung
dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất. Các hình thức tổ chức sản xuất và dịch vụ
quốc doanh đợc phát triển. Cùng với quốc doanh, hợp tác xã đợc tổ chức rộng rãi ở nông
thôn và thành thị. Với hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể, sở hữu t nhân bị thu hẹp
Trang 10
tiểu luận triết học -
lại, không còn cơ sở cho t nhân phát triển. Cùng với quốc doanh, hợp tác xã đợc tổ chức
rộng rãi vì ta đã học tập đợc mô hình tổ chức kinh tế của Liên Xô cũ. Với sự nỗ lực cao
độ của nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ tận tình của các nớc xã hội chủ nghĩa lúc đó, mô
hình kế hoạch hoá tập trung đã phát huy đợc những tính u việt đó.
- Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phân tán và manh mún, bằng công cụ kế
hoạch hóa, ta đã tập trung đợc vào trong tay một lực lợng vật chất quan trọng về cơ sở vật
chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng thành thị và nông thôn, đất đai, máy móc, tiền vốn để ổn định
và phát triển kinh tế.
Vào những năm sau của thập niên 60, ở Miền Bắc đã có những chuyền biến về
kinh tế, xã hội. Trong thời kỳ đầu, nền kinh tế tập trung bao cấp đã tỏ ra phù hợp với nền
kinh tế tự cung, tự cấp, phù hợp với điều kiện hai nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu trong
chiến tranh lúc đó.
- Năm 1975, sau ngày giải phóng miền Nam, một bức tranh mới về hiện trạng kinh
tế Việt Nam đã thay đổi. Đó là sự duy trì một nền kinh tế tồn tại cả ba loại hình:
+Kinh tế cổ truyền (tự cung tự cấp)
+Kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp (ở miền Bắc)
+Kinh tế thị trờng (đặc trng ở miền Nam).
Mặc dù đây là một tồn tại khách quan sau năm 1975 nhng chúng ta vẫn tiếp tục
xây dựng nền kinh tế tập trung theo cơ chế kế hoạch hoá trên phạm vi cả nớc. Đó là sự áp
đặt rất bất lợi.
2. Hậu quả:
Do chủ quan nóng vội, cứng nhắc, chúng ta đã không quản lý đợc hiệu quả các
nguồn lực dẫn tới việc sử dụng lãng phí nghiêm trọng các nguồn lực của đất nớc.
- Tài nguyên bị phá hoại, sử dụng khai thác không hợp lý, môi trờng bị ô nhiễm.
- Nhà nớc bao cấp và tiến hành bù lỗ phổ biến gây hậu quả nghiệm trọng cho nền
kinh tế.
+ Sự tăng trởng kinh tế chậm lại, tăng trởng kinh tế trên lý thuyết, giấy tờ.
+Hàng hoá, sản phẩm trở nên khan hiếm, không đáp ứng đợc nhu cầu trong nớc.
Trang 11
tiểu luận triết học -
+Ngân sách thâm hụt nặng nề. Vốn nợ đọng nớc ngoài ngày càng tăng và không
có khả năng cho chi trả.
+Thu nhập từ nền kinh tế quốc dân không đủ chi dùng, tích luỹ hầu nh không có.
+Vốn đầu t cho sản xuất và xây dựng chủ yếu là dựa vào vay và viện trợ nớc ngoài.
- Cùng với đó là sự thoái hoá về mặt con ngời và xã hội.
- Đến năm 1979, nền kinh tế rất suy yếu, sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân khó
khăn, nguồn trợ giúp từ bên ngoài giảm mạnh.
- Từ năm 1975 đến năm 1985, các thành phần kinh tế t bản t nhân, cá thể bị tiêu
diệt hoặc không còn điều kiện phát triển dẫn đến thực trạng tiềm năng to lớn của các
thành phần kinh tế này không đợc khai thác và phục vụ cho mục tiêu chung của nền kinh
tế. Ngợc lại, thành phần kinh tế quốc doanh đã phát triển ồ ạt, tràn lan trên mọi lĩnh vực
trở thành địa vị đọc tôn trong hầu hết các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ (trừ
ngành nông nghiệp, thành phần kinh tế tập thể là chủ yếu).Thời điểm cao nhất,
thànhphần kinh tế quốc doanhđã cõ gần 13 nghìn doanh nghiệp với số tài sản cố định
chiếm 70% tổng số tài sản cố định của nền kinh tế. Thời kỳ này, kinh tế nớc ta tuy có đạt
đợc tốc độ tăng trởng nhất định nhng sự tăng trởng đó không có cơ sở để phát triển vì đã
dựa vào điều kiện bao cấp, bội chi ngân sách, lạm phát và vay nợ nớc ngoài.
- Do phát triển tràn lan lại quản lý theo cơ chế bao cấp, kế hoạch hoá tập trung nên
nhà nớc gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý, điều hành các doanh nghiệp quốc doanh,
nhiều doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, lực lợng sản xuất không đợc giải phóng,
nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng và tụt hậu.
3.Nguyên nhân
Trong nhận thức cũng nh trong hành động, chúng ta cha thật sự thừa nhận cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần còn tồn tại trong thời gian tơng đối dài, cha nắm vững và vận
dụng đúng lý luận và thực tiễn vào tinh hình nớc ta.
Đến năm 1986, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp về căn bản vẫn cha bị xoá bỏ.
Cơ chế mới cha đợc thiết lập đồng bộ, nhiều chính sách, thể chế lỗi thời cha đợc thay đổi.
Tình trạng tập trung quan liêu còn nặng, đồng thời những hiện tợng vô tổ chức, vô kỷ luật
còn khá phổ biến.
Trang 12
tiểu luận triết học -
Việc đổi mới cơ chế và bộ máy quản lý, việc điều hành không nhạy bén, là những
nguyên nhân quan trọng dẫn tới hành động không thống nhất từ trên xuống dới.
Chúng ta mới nêu ra đợc phơng hớng chủ yếu của cơ chế mới, hình thức, bớc đi,
cách làm cụ thể thì còn nhiều vấn đề cha giải quyết đợc thoả đáng cả về lý luận và thực
tiễn.
4. T tởng chỉ đạo
Ta đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận trong thời kỳ quá độ:Khuynh hớng
t tởng chủ yếu của những sai lầm ấy,đặc biệt là những chính sách kinh tế là bệnh chủ
quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng
chủ quan (Đảng công sản Việt nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI-
1986). Chúng ta đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế, cha thừa nhận thật sự
những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan.
Chúng ta đã u tiên phát triển công nghiệp nặng một cách quá mức mà hiệu quả
kinh tế phát triển chậm. Hơn thế nữa, ta cha chú ý đúng mức tới sản xuất nông nghiệp và
sản xuất hàng tiêu dùng nên đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
- Bên cạnh đó, sự tan rã của hệ thống các nớc xã hội chủ nghĩa vào những năm
cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 làm cho chúng ta mất đi một thị trờng truyền thống,
nguồn viện trợ quan trọng, gây nhiều khó khăn đối với sản xuất và đời sống.
- Chính sách cấm vận của Hoa Kỳ kéo dài, sự thù địch của các thế lực phản động
cũng có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc.
Tất cả những nguyên nhân trên cộng với thiên tai, mất mùa liên tiếp vào những
năm 1979 - 1980 đã đa nớc ta vào tình trạng khủng hoảng, công nghiệp chỉ tăng 0,6%,
nông nghiệp tăng 1,9% trong khi lạm phát ở mức siêu cấp năm 1986 : 74%
Chính vì vậy, bài học kinh nghiệm đợc rút ra trong Văn kiện Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ VI về phát triển kinh tế phải xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và hoạt
động theo quy luật khách quan là hoàn toàn đúng đắn. Chính từ những khó khăn trên đòi
hỏi phải đổi mới nền kinh tế, xã hội. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu một
mốc phát triển quan trọng trong quá trình phát triển của đất nớc.
Trang 13
tiểu luận triết học -
III. Biện pháp giải quyết tình hình để phát triển kinh tế
Để khắc phục khuyết điểm, chuyển biến đợc tình hình, Đảng ta trớc hết phải thay
đổi nhận thức , đổi mới t duy. Phải nhận thức và hành động đúng đắn, đề ra những chủ tr-
ơng, chính sách phù hợp với hệ thống quy luật khách quan, trong đó các quy luật đặc thù
của chủ nghĩa xã hội ngày càng chi phối mạnh mẽ phơng hớng phát triển chung của xã
hội. Mọi chủ trơng, chính sách, biện pháp kinh tế gây tác động ngợc lại đều biểu hiện sự
vận dụng không đúng quy luật khách quan, phải đợc sửa đổi hoặc huỷ bỏ.
- Trên cơ sở đó, chúng ta phải vận dụng tổng hợp hệ thống các quy luật đang tác
động lên nền kinh tế. Trong hệ thống các quy luật đó, quy luật kinh tế cơ bản cùng với
các quy luật đặc thù khác của chủ nghĩa xã hội ngày càng phát huy vai trò chủ đạo, đợc
vận dụng trong một thể thống nhất với các quy luật của sản xuất hàng hoá, đặc biệt là
quy luật giá trị, quy luật cùng cầu, quy luật cạnh tranh Kế hoạch hoá phải luôn luôn
gắn liền với việc sử dụng các đòn bảy kinh tế.
- Đại hội đảng lần thứ VI có ý nghĩa đặc biệt quan trọng . Những quan điểm, đờng
lối do Đại hội VI vạch ra là sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê Nin, t t-
ởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của đất nớc . Công cuộc đổi mới của Đảng từ sau Đại hội
VI đến nay ở nớc ta không nằm ngoài những quy luật phổ biến của phép biện chứng,
Đảng ta đã vận dụng phép biện chứng vào nhận thức hiện thực xã hội, phân tích các mối
liên hệ biện chứng của đời sống hiện thực, tìm ra các mâu thuẫn đó và tạo ra động lực
mạnh mẽ cho quá trình đổi mới vững chắc.
Vì trớc đây, nớc ta lâm vào khủng hoảng kinh tế, xã hội với nhiều khó khăn phức
tạp, gay gắt, lạm phát phi mã do t duy lý luận bị lạc hậu, giữa lý luận và thực tiễn có
khoảng cách xa. T duy cũ về chủ nghĩa xã hội theo mô hình tập trung quan liêu bao cấp
đã cản trở sự phát triển của thực tiễn sản xuất. Bị chi phối bởi quy luật mâu thuẫn khách
quan nên để giải quyết mâu thuẫn đó Đảng ta đã tiến hành đổi mới và cải cách kinh tế.
- Bớc đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất. Để làm đủ ăn
và có tích luỹ, phải ra sức phát triển sản xuất, xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, trớc
hết là cơ cấu các ngành kinh tế phù hợp với tính quy luật về sự phát triển các ngành sản
xuất vật chất, phù hợp với sự phân công lao động và hợp tác quốc tế. Cơ cấu kinh tế đó
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét