Chuyền đề thực tập tốt nghiệp GV: PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh
- Giai đoạn 1: Chuẩn bị phòng ăn và bày bàn ăn (trước khi khách tới khách sạn)
- Giai đoạn 2: Đón tiếp và giúp khách định vị (khi khách tới nhà hàng)
- Giai đoạn 3: Phục vụ trực tiếp (trong thời gian khách ăn uống tại nhà hàng)
- Giai đoạn 4: Thanh toán, tiễn khách và thu dọn bàn ăn (khi khách rời nhà hàng)
Mỗi giai đoạn đều đóng một vai trò nhất định trong việc hình thành chất lượng
dịch vụ của nhà hàng: Giai đoạn chuẩn bị phòng ăn và bày bàn ăn nhằm tạo ra
bầu không khí dễ chịu nhất, thoải mái nhất cho khách, cũng như thể hiện sự chu
đáo nhiệt tình của nhân viên. Giai đoạn mời khách và định vị tại nhà hàng tốt sẽ
làm tăng cảm nhận tốt của khách về chất lượng dịch vụ của nhà hàng. Giai đoạn
phục vụ trực tiếp trong thời gian khách ăn uống tại nhà hàng là giai đoạn quan
trọng nhất, thực hiện tốt giai đoạn này vừa thể hiện tính chuyên nghiệp của nhà
hàng, thể hiện đẳng cấp của nhà hàng cũng như tạo được ấn tượng tốt đối với
khách. Giai đoạn thanh toán, tiễn đưa và thu dọn bàn ăn được thực hiện tốt sẽ thể
hiện được sự chuyên nghiệp của nhân viên cũng như tạo được một dư âm tốt
trong tâm trí khách hàng.
1.2 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của nhà hàng
1.2.1. Khái niệm về cạnh tranh
1.2.1.1. Cạnh tranh theo quan điểm kinh tế học
Khi nói đến cơ chế thị trường là nói đến cạnh tranh. Do vậy, bất kỳ doanh
nghiệp nào hoạt động trong cơ chế thị trường dù muốn hay không đều chịu ít nhiều
ảnh hưởng khác nhau. Các doanh nghiệp thành công trên thị trường là các doanh
nghiệp thích nghi với cạnh tranh và luôn giành thế chủ động cho mình trong các mối
quan hệ kinh tế xã hội bằng các yếu tố thích hợp. Các doanh nghiệp cần phải hiểu rõ
cạnh tranh và các cách thức để nâng cao khả năng cạnh tranh của chính bản thân
mình.
Vấn đề cạnh tranh được rất nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu tìm hiểu trên các
giác độ khác nhau và đã đưa ra các khái niệm khác nhau. Theo mỗi góc độ tiếp cận,
các khái niệm này đều có ý nghĩa lý luận và thực tế nhất định. Cùng với sự phát triển
Nguyễn Duy Hưng Lớp: Du Lịch 48
5
Chuyền đề thực tập tốt nghiệp GV: PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh
của nền kinh tế, hệ thống lý luận nói chung và các khái niệm về cạnh tranh nói riêng
ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn.
Dưới chủ nghĩa tư bản, K.Mark quan niệm rằng: “ Cạnh tranh TBCN là một sự
ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện
thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch “. Đây
là định nghĩa mang tính khái quát nhất về cạnh tranh, nó đã nói lên được mục đích
của cạnh tranh, nhưng chưa nói lên cách thức để giành thắng lợi trong cạnh tranh.
Nghiên cứu về sản xuất hàng hoá TBCN, cạnh tranh TBCN Mark đã phát hiện
ra quy luật cơ bản của cạnh tranh TBCN là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận cao
sẽ có nhiều người muốn gia nhập ngành, ngược lại những ngành, những lĩnh vực mà
tỷ suất lợi nhuận thấp thì sẽ có sự thu hẹp về quy mô hoặc rút lui của các nhà đầu tư.
Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận và coi cạnh tranh là
một yếu tố quan trọng làm lành mạnh các quan hệ xã hội, nâng cao hiểu biết của dân
cư. Cạnh tranh có thể hiểu là: “ Ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành các
điều kiện có lợi nhất về nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của
mình trên thị trường “. Theo một trong những quan niện khác: “ Cạnh tranh là áp lực
cưỡng bức bên ngoài buộc các doanh nghiệp tìm mọi giải pháp để nâng cao năng suất
lao động trong doanh nghiệp, đưa ra thị trường sản phẩm có chất lượng, giá cả hợp
lý. Mở rộng kinh doanh, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp “.
1.2.1.2. Cạnh tranh theo quan điểm marketing
Theo quan điểm Marketing cạnh tranh được định nghĩa: “ Cạnh tranh là việc
đưa ra những chiến thuật, chiến lược phù hợp với tiềm lực của doanh nghiệp, xử lý
tốt các chiến lược, chiến thuật của đối thủ, giành được lợi thế trong kinh doanh hàng
hoá và dịch vụ nhằm tối đa hoá lợi nhuận. “.
Như vậy quan điểm Marketing về cạnh tranh khẳng định: Công ty cần quan tâm
tới đối thủ cạnh tranh ngang hàng với mình. Chỉ có thể trên cơ sở hiểu được đối thủ
cạnh tranh thì công ty mới có thể lập kế hoạch marketing một cách có hiệu quả.
Công ty phải thường xuyên so sách các sản phẩm của mình, giá cả, kênh phân phối,
Nguyễn Duy Hưng Lớp: Du Lịch 48
6
Chuyền đề thực tập tốt nghiệp GV: PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh
và hoạt động khuyến mại của mình với các đối thủ cạnh tranh. Nhờ vậy mà họ có thể
phát hiện được những lĩnh vực mình có ưu thế cạnh tranh hay bị bất lợi trong cạnh
tranh. Công ty có thể tunng ra những đòn tấn công chính xác hơn vào đối thủ cạnh
tranh cũng như chuẩn bị phòng thủ vững chắc hơn các cuộc tiến công.
Các công ty cần biết nắm vấn đề về các đối thủ cạnh tranh : những ai là đối thủ
cạnh tranh của ta?. Chiến lược của họ như thế nào?. Mục tiêu của họ là gì?. Những
điểm mạnh và điểm yếu của họ là gì?. Cách thức phản ứng của họ ra sao?. Những
thông tin này sẽ giúp ích rất nhiều cho công ty trong việc hoạch định chiến lược
marketing của mình.
Tóm lại theo quan điểm marketing cạnh tranh là việc đưa ra những biện pháp
marketing phù hợp với tiềm lực của doanh nghiệp, phản ứng kịp thời với những thay
đổi của thị trường và đối thủ nhằm mục đích nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp để tối đa hoá lợi nhuận. Sự đa dạng của hàng hoá trong nền kinh tế thị trường
càng làm cho cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt. Quy luật cạnh tranh sẽ đào thải
những doanh nghiệp yếu kém, đồng thời nó buộc các doanh nghiệp phải luôn vận
động.
1.2.2. Các cấp độ cạnh tranh
Cạnh tranh diễn ra theo ba cấp độ:
Cạnh tranh cấp quốc gia
Cạnh tranh cấp ngành, cấp doanh nghiệp
Cạnh tranh cấp sản phẩm
Trong đó cạnh tranh cấp quốc gia diễn ra ở mức độ cao nhất, sâu sắc
nhất
nó ảnh hưởng đến các cấp độ cạnh tranh còn lại.
1.2.2.1 Cạnh tranh cấp quốc gia
Trong cuốn “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” M E.Porter cho rằng Sự thịnh vượng
của một quốc gia được tạo ra chứ không phải kế thừa. Nó không phát triển từ sự sẵn
Nguyễn Duy Hưng Lớp: Du Lịch 48
7
Chuyền đề thực tập tốt nghiệp GV: PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh
có tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, lãi suất, hay giá trị tiền tệ của một quốc
gia giống như điều mà kinh tế học cổ điển khăng khăng khẳng định.
Khả năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc và năng lực của các ngành
trong việc đổi mới và nâng cấp của quốc gia đó. Các công ty tạo ra được lợi thế so
với các đối thủ cạnh tranh giỏi nhất trên thế giới là do áp lực và thách thức. Các công
ty này hưởng lợi từ việc có những đối thủ cạnh tranh mạnh ở trong nước, các nhà
cung ứng nội địa năng động, và những khách hàng trong nước có nhu cầu.
Trong một thế giới cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt, các quốc gia đã trở
nên quan trọng hơn, chứ không phải kém quan trọng đi. Vì cơ sở của sự cạnh tranh
đã dịch chuyển ngày càng nhiều sang sự tạo ra và mô phỏng kiến thức, cho nên vai
trò của quốc gia đã tăng lên. Lợi thế cạnh tranh được tạo ra và duy trì thông qua một
quá trình địa phương hóa cao độ. Tất cả những khác biệt về giá trị, văn hóa, cơ cấu
kinh tế, định chế, và lịch sử của các nước đều đóng góp cho sự thành công về cạnh
tranh. Đây là những khác biệt đáng kể trong các kiểu hình của khả năng cạnh tranh
tại mọi quốc gia; không một quốc gia nào có thể hay sẽ có khả năng cạnh tranh tại
mọi hay thậm chí phần lớn các ngành. Cuối cùng, các nước thành công trong các
ngành cụ thể bởi vì môi trường nội địa của các nước đó hướng về tương lai nhất,
năng động nhất và thách thức nhất.
Các nhân tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh quốc gia:
Thứ nhất, điều kiện về nhân tố sản xuất: Vị trí của quốc gia trong các nhân tố
sản xuất cần thiết để cạnh tranh trong ngành nghề đó, ví dụ: lao động có tay nghề hay
cơ sở hạ tầng
Thứ hai, điều kiện về nhu cầu thị trường: Tính chất của nhu cầu trong nước về
sản phẩm hay dịch vụ của ngành nghề đó
Thứ ba, các ngành nghề bổ trợ và có liên quan: Sự có mặt hay thiếu vắng tại
quốc gia đó những ngành nghề cung ứng và ngành nghề có liên quan có khả năng
cạnh tranh quốc tế
Nguyễn Duy Hưng Lớp: Du Lịch 48
8
Chuyền đề thực tập tốt nghiệp GV: PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh
Thứ tư, chiến lược, cơ cấu và tính thi đua của doanh nghiệp: Điều kiện tại
quốc gia đó quyết định việc thành lập, tổ chức, quản lý doanh nghiệp như thế nào, và
bản chất của sựcạnh tranh trong nước.
1.2.2.2. Cạnh tranh cấp ngành, cấp doanh nghiệp
.Dựa theo quan điểm quản trị chiến lược được phản ánh trong các cuốn sách
của M.Poter, khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là năng chiếm lĩnh thị
trường, tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Với
cách tiếp cận này mỗi ngành dù là trong hay ngoài nước năng lực cạnh tranh được
quy định bởi các yếu tố sau:
- Số lượng các doanh nhgiệp mới tham gia.
- Sự có mặt của các sản phẩm thay thế
- Vị thế của khách hàng
- Uy tín của nhà cung ứn
Tính quyết liệt của đối thủ cạnh tranh
Nghiên cứu những yếu tố cạnh tranh này sẽ là cơ sở cho doanh nghiệp xây
dựng và lựa chọn chiến lược kinh doanh cạnh tranh phù hợp với trong giai đoạn, thời
kỳ phát triển thời kỳ phát triển của nền kinh tế.
Nghiên cứu cạnh tranh cấp doanh nghiệp có thể giải thích được vì sao một doanh
nghiệp hoạt động hiệu quả hơn doanh nghiệp khác, thu được nhiều lợi nhuận hơn,
chiếm lĩnh thị phần nhiều hơn cũng như tạo được sự tin tưởng của khách hàng hơn.
Trong cạnh tranh cấp doanh nghiệp không thể không nhắc đến “lợi thế cạnh tranh”
bởi chính lợi thế cạnh tranh là nguồn gốc sâu sa tạo nên năng lực cạnh tranh cấp
doanh nghiệp.
Trong cuốn “Lợi thế cạnh tranh” của mình, M E. Porter đưa ra các nguyên tắc
của lợi thế cạnh tranh mà bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại trong môi
trường cạnh tranh khốc liệt đều phải nắm bắt tốt và biết cách ứng dụng vào thực thế:
Chuỗi giá trị và lợi thế cạnh tranh
Lợi thế chi phí
Nguyễn Duy Hưng Lớp: Du Lịch 48
9
Chuyền đề thực tập tốt nghiệp GV: PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh
Khác biệt hóa
Công nghệ và lợi thế cạnh tranh
Chọn lựa đối thủ cạnh tranh
Nội dung cụ thể của các nguyên tắc trên tôi sẽ đề cập ngay sau đây.
1.2.2.3. Cạnh tranh cấp sản phẩm
Chịu sự ảnh hưởng và tác động mạnh của cạnh tranh cấp doanh nghiệp, có thể
nói cạnh tranh cấp sản phẩm ra đời sau một quá trình “thai nghén” lâu dài của cạnh
tranh cấp doanh nghiệp. Vì sao tôi lại nói thế? Bởi: Sau một quá trình dài như :
Nghiên cứu thị trường, lựa chọn thì trường mục tiêu, định vị thị trường,… thì doanh
nghiệp mới áp dụng các chiến lược cạnh tranh cấp sản phẩm nhằm định vị sản phẩm
trong tâm trí khách hàng của minh
Tuy vậy cạnh tranh cấp sản phẩm lại đóng vai trò cực kỳ quan trọng, bởi quá
trình đưa sản phẩm chính lá quá trình đưa những thành quả sau một thời gian dài
nghiên cứu, sản xuất đến tay những khách hàng cần nó. Sản phẩm có thực sự phù
hợp, có cuốn hút được khách hàng không đều do giai đoạn này quyết định.
Cạnh tranh cấp sản phẩm do bốn chiến lược về sản phẩm sau đây cấu thành:
Chiến lược về sản phẩm: Nội dung chủ yếu của chiến lược này là doanh nghiệp
tung ra sản phẩm có những đặc tình gì hấp dẫn nhất, thu hút nhất với khách hàng mục
tiêu của mình, tung ra bao nhiêu chủng loại? Số lượng bao nhiêu? Bao bì, mẫu mã
như thế nào?
Chiến lược về giá: Để tung sản phẩm ra thị trường với mức giá cạnh trnah nhất
doanh nghiệp cần dựa vào mức giá đối thủ cạnh tranh áp dụng, so sánh giữa những
lợi ích mà khách hàng nhận được có phù hợp với mức gia đó không, cũng như cần
dựa vào những chi phí phải bỏ ra có tương ứng với mức giá bán không, toàn bộ
những điều đó sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng được một mức giá sạnh tranhh nhất,
cũng như thu được mức lợi nhuận hợp lý nhất cho doanh nghiệp mình.
Chiến lược phân phối: Trong chiến lược này doanh nghiệp sẽ xây dựng một hệ
thống phân phối sao cho việc đưa sản phẩm đến khách hàng mục tiêu của mình một
cách hợp lý nhất, hiệu quả nhất, trong giai này doanh nghiệp nên cân nhắc giữa việc
Nguyễn Duy Hưng Lớp: Du Lịch 48
10
Chuyền đề thực tập tốt nghiệp GV: PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh
sử dụng kênh phân phối trực tiếp hay gián tiếp, việc sử dụng các đại lý nào, số lượng
bao nhiêu, đặt ở đâu? Nhằm tiết kiệm chi phí không cần thiết cũng như đem lại hiệu
quả cao nhất cho doanh nghiệp.
Chiến lược xúc tiến hỗn hợp: Là việc sử dụng các chính sách về quảng cáo,
khuyến mại, khuyến mãi nhằm thu hút hơn nữa khách hàng. Với cường độ cạnh tranh
ngày càng gay gắt như hiện nay, thông tin quảng cáo về sản phẩm tràn lan trên thị
trường, khách hàng ngày càng thông thái thì cách thức giới thiệu sản phẩm như thế
nào, lựa chọn những kênh quảng cáo phù hợp đều cần các nhà quản lý suy nghĩ và
cân nhắc bởi chi phí cho quảng cáo là vô cùng tốn kém, sử dụng kênh quảng cáo
không phù hợp sẽ gây ra sự lãng phí không nhỏ. Ngoài ra doanh nghiệp cần dựa vào
vòng đời sản phẩm để xác định sản phẩm đang ở giai đoạn nào :giai đoạn thai nghén,
giai đoạn tăng trưởng, giai đoạn bảo hòa, giai đoạn suy thoái để mà có các chiến lược
khuyến mại cũng như giảm giá hợp lý.
1.2.3. Khái niệm về năng lực cạnh tranh một doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp chính là việc doanh nghiệp đó tận
dụng các lợi thể cạnh tranh của mình, cùng với việc nghiên cứu thị trường, lựa chọn
thì trường mục tiêu, định vị thị trường mục tiêu, từ đó đưa các các chiến lược cạnh
tranh hiệu quả nhằm thu được thị phần, lợi nhuận… cao hơn đối thủ của mình.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá tổng thể thông qua các chỉ
tiêu sau:
Sản lượng, doanh thu
Thị phần
Tỷ suất lợi nhuận
Ngoài các chỉ tiêu định lượng trên, năng lực cạnh tranh còn được đánh giá qua
các chỉ tiêu định tính như:
Chất lượng hàng hoá - dịch vụ của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
Khả năng đáp ứng các yêu cầu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh.
Thương hiệu, uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
1.2.4. Phân tích đối thủ cạnh tranh.
Nguyễn Duy Hưng Lớp: Du Lịch 48
11
Chuyền đề thực tập tốt nghiệp GV: PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh
Chúng ta không thể phủ nhận được tầm quan trọng của thông tin về đối thủ cạnh
tranh trong kinh doanh . Điều này đã được Marketing xem xét và đưa ra một quy
trình bao gồm những nội dung cụ thể rất hữu ích .
1.2.4.1. Xác định đối thủ cạnh tranh :
Lý thuyết : Marketing hiện đại phân biệt thành 4 mức độ cạnh tranh
Can cứ vào mức độ thay thế sản phẩm . Dựa vào đó công ty có thể xác định
được ai là đối thủ của mình .
+ Cạnh tranh nhãn hiệu : công ty có thể xem xét những công ty khác có bán
hàng hoá và dịch vụ tương tự cho cùng một số khách hàng với giá tương tự là các đối
thủ cạnh tranh của mình.
+ Cạnh tranh ngành : công ty có thể xem một cách rộng hơn, tất cả các công ty
sản xuất cùng một loại hay một lớp sản phẩm đều là đối thủ cạnh tranh của mình.
+ Cạnh tranh công dụng : Công ty có thể xem một cách rộng hơn nữa là tất cả
các công ty sản xuất ra những sản phẩm thực hiện cùng một dịch vụ là đối thủ cạnh
tranh của mình.
+ Cạnh tranh chung: công ty có thể xem theo nghĩa rộng hơn nữa là tất cả những
công ty đang kiếm tiền của cùng một người tiêu dùng đều là đối thủ cạnh tranh của
mình.
1.2.4.2. Phát hiện chiến lược của đối thủ cạnh tranh.
Những đối thủ cạnh tranh gần nhất của công ty là những đối thủ theo đuổi
những thị trường mục tiêu với chiến lược giống nhau. Đó là giống nhau ở chủng loại
hàng hoá, dịch vụ đi kèm và giá cả. Qua việc xác định này ta có những nhóm chiến
lược là nhóm các đối thủ cùng áp dụng một chiến lược giống nhau trên cùng một thị
trường mục tiêu nhất định.
Nguyễn Duy Hưng Lớp: Du Lịch 48
12
Chuyền đề thực tập tốt nghiệp GV: PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh
Công ty phải không ngừng theo dõi chiến lược của đối thủ cạnh tranh. Những đối thủ
cạnh tranh nhiều nguồn lực thường thay đổi chiến lược của mình khi hiệu quả của
chiến lược đó giảm đi hoặc không theo mong muốn.
1.2.4.3. Xác định mục tiêu của đối thủ cạnh tranh.
Bước này trả lời cho câu hỏi từng đối thủ cạnh tranh đang tập trung giải quyết
vấn đề gì, với chiến lược mà họ đã lựa chọn. Thường trong ngắn hạn, không phải bao
giờ mục tiêu của các đối thủ cạnh tranh là lợi nhuận. Nó có thể là thâm nhập thị
trường, mở rộng thị trường và định vị hình ảnh.
Các mục tiêu của đối thủ cạnh tranh có thể xác định dựa trên nhiều yếu tố như
quy mô, quá trình lịch sử, ban lãnh đạo, tình trạng kinh tế, thường thì mỗi đối thủ
cạnh tranh thay đổi nhiều mục tiêu, ta cần xác định mục tiêu chính của họ, khi đó ta
có thể biết được họ có hài lòng về tình trạng hiện tại của họ hay không và họ sẽ phản
ứng như thế nào với hành động của công ty.
1.2.4.4. Phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ cạnh tranh.
Liệu đối thủ cạnh tranh của công ty có thể thực hiện được chiến lược của mình
và đạt được những mục tiêu của họ hay không, điều đó còn phụ thuộc vào các nguồn
lực tài nguyên và năng lực của từng đói thủ cạnh tranh. Chính vì vậy công ty cần phát
hiện những mặt mạnh, mặt yếu về tài nguyên và năng lực của từng đối thủ cạnh
tranh. Trước tiên công ty cần thu thập những thông tin này của đối thủ cạnh tranh
thông qua số liệu thứ cấp, kinh nghiệm cá nhân. Họ cũng có thể bổ xung thêm những
hiểu biết của mình thông qua việc tiến hành nghiên cứu marketing trực tiếp với khách
hàng, người cung ứng các đại lý của mình.
Với các thông tin đó công ty có thể đánh giá được những tiềm năng chính của
đối thủ cạnh tranh, những mặt mạnh, mặt yếu của họ trong những lĩnh vực sau:
- Các loại sản phẩm.
- Hệ thống phân phối đại lý.
- Marketing và bán hàng.
Nguyễn Duy Hưng Lớp: Du Lịch 48
13
Chuyền đề thực tập tốt nghiệp GV: PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh
- Hoạt động sản xuất.
- Nghiên cứu và thiết kế công nghệ.
- Tiềm lực tài chính.
- Năng lực quản lý chung.
- Nguồn nhân lực.
- Quan hệ xã hội.
Cuối cùng khi tìm hiểu các mặt mạnh, mặt yếu kém của đối thủ cạnh tranh ta
cần phát hiện ra mọi giả thiết mà họ đặt ra về công việc kinh doanh của mình và thị
trường không còn giá trị đối với họ. Những giả thiết khi mà không còn chính xác nữa
thì chúng tạo ra các điểm mù, tức là các điểm yếu của đối thủ cạnh tranh.
1.2.4.5. Đánh giá phản ứng của đối thủ cạnh tranh.
Những mục tiêu và mặt mạnh, mặt yếu của mỗi đối thủ cạnh tranh góp phần rất
hữu hiệu vào việc chỉ rõ những biện pháp và phản ứng của họ đối với những biện
pháp của công ty như giảm giá, tăng cường khuyến mãi hay tung ra sản phẩm mới.
Ngoài ra, mỗi đối thủ cạnh tranh còn có một triết lý nhất định về kinh doanh, một nề
nếp văn hoá nội bộ nhất định và một số niềm tin chủ đạo nhất định. Công ty cần phải
hiểu rõ một cách sâu sắc toàn bộ ý đồ của đối thủ cạnh tranh nhất định thì mới có thể
dự đoán được các đối thủ có thể hành động như thế nào.
1.2.4.6. Lựa chọn đối thủ cạnh tranh để tấn công hay né tránh.
Khi đã phân tích được các đối thủ cạnh tranh người quản lý sẽ dễ dàng hoạch
định được các chiến lược cạnh tranh của mình. Họ sẽ hình dung rõ hơn các đối thủ
cạnh tranh nào mà họ có thể cạnh tranh. Người quản lý cần phải quyết định cạnh
tranh với đối thủ cạnh tranh nào và qua đó sẽ có các chiến lược phù hợp.
1.2.5. Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh.
1.2.5.1. Các nhân tố chủ quan
Nguyễn Duy Hưng Lớp: Du Lịch 48
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét