Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Tài liệu Sử Trung Quốc Chương4 ppt

mà Trụ không nghe) ở Tống;
- Công thần, như phong cho Lã Vọng ở Tề, cho hai vị đại thần khác, một ở Yên,
một ở Sở.
- Và trên một ngàn tù trưởng.
Theo nguyên tắc thì đất của vua (vương) tức thiên tử được ngàn dặm vuông và có
vạn cỗ chiến xa (vạn thặng)[2]; dưới vương có năm tước: công, hầu, bá , tử, nam.
Đất phong của hai bậc công và hầu được trăm dặm vuông, có ngàn cỗ chiến xa
(thiên thặng); bậc bá được bảy chục dặm vuông, có trăm cỗ chiến xa; hai bậc tử,
nam được năm chục dặm vuông, năm chục cỗ chiến xa. Tất cả những nước nhỏ đó
gọi chung là chư hầu; mỗi chư hầu sau lại sáp nhập thêm một hay nhiều nước nhỏ,
gọi là phụ dung, tức là chư hầu của chư hầu. Tất cả các nước đó đều làm phiên dậu
cho nhà Chu, và dựng một hay nhiều đồn trên đất của mình. Mỗi đồn lớn hay nhỏ
là một thị trấn có luỹ bằng đất bao quanh, và hai đường chữ thập cắt ngang từ đông
sang tây và từ bắc xuống nam. Chung quanh đồn là nhà của dân chúng mà người ta
gọi là "lê dân" (dân tóc đen); còn giới quý tộc sống trong đồn thì gọi là "bách tính"
(trăm họ)[3]; danh từ bách tính thời sau mới có nghĩa là dân thường.

Nguyên tắc là vậy, nhưng thời đó chưa biết đạc điền thì những số trăm dặm, bảy
chục dặm chỉ là phỏng chừng, thiên tử muốn giữ bao nhiêu đất mà chẳng được, và
những công, hầu mạnh lên muốn mở mang bờ cõi thì ai cấm. Vả lại, trừ những biên
giới thiên nhiên như sông, núi, còn trong rừng và cánh đồng thì làm sao vạch được
biên giới, chỉ đắp một mô đất (gọi là phong )[4] để đánh dấu mà thôi. Cho nên uy
quyền của một chư hầu lan tới đâu thì đó là biên giới.
Bổn phận của chư hầu là một hai năm một lần phải lại triều cống thiên tử - cống
phẩm là sản vật trong nước - trình bày về tình hình cai trị trong nước; có sự xích
mích gì với lân bang thì không được tự giải quyết lấy bằng vũ lực mà phải để thiên
tử xử; khi chư hầu chết, truyền ngôi lại cho con thì phải được thiên tử chấp nhận.
Ngược lại bổn phận của thiên tử là phải che chở, giúp đỡ các chư hầu: nước nào bị

5
ngoại tộc xâm lăng thì đem quân lại cứu; nước nào mất mùa thiên tử cũng phải cứu
trợ. Và năm năm một lần, thiên tử đi thăm hết các chư hầu một lượt, dĩ nhiên là chỉ
tới những nước lớn rồi bảo các nước nhỏ tới họp để cùng tế lễ thần núi (ngũ nhạc)
và nghe các nguyện vọng của họ.
Tới đâu thiên tử cũng cho mời các ông già bà cả cao tuổi nhất lại chúc mừng và
thăm hỏi về dân tình. Dân tộc Trung Hoa đã có tục trọng người già vào thời đó.
Thiên tử lại quan sát các sản phẩm trong nước, nghe các bản nhạc, các bài hát trong
các cuộc tế, lễ ở mỗi triều đình, các bài ca dao trong dân gian và sai người chép lại,
để biết phong tục mỗi noi, đời sống, nguyện vọng của dân. Những bài hát trong dân
gian đó được Khổng Tử sau này sưu tập thành bộ Kinh Thi, nhờ vậy chúng ta biết
được khá đúng những tục lệ, nỗi vui buồn, lo lắng, oán thán và tình yêu giữa nam
nữ Trung Hoa của ba ngàn năm trước.
Trong các cuộc kinh lý đó, thiên tử khen thương, khuyến khích người tốt, trừng trị,
răn đe kẻ xấu, khi trở về kinh đô, ông tế lễ ở thái miếu, trình với các tiên vương về
công việc của mình.
Theo nguyên tắc thì như vậy, chứ trong thực tế thì chỉ độ một thế kỷ sau khi nhà
Chu dựng nước, tục lệ tốt đẹp đó đã bị quên dần đi: thiên tử có khi cả đời không ra
khỏi nước mà có chư hầu 242 năm (như nước Lỗ) mới triều cống thiên tử có ba lần.
Chế độ phong kiến đó có nhiều điểm tốt:
- Nó giúp nhà Chu cai trị được một lãnh thổ rộng mênh mông gấp mười đất của
Chu mà không phải dùng nhiều quân đội, không tốn sức;
- Nó lập được một tổ chức có trật tự, trên dưới đều có quyền lợi và bổn phận, mà
bổn phận của trên (thiên tử) nặng hơn của dưới, còn quyền lợi của trên thì ít: chư
hầu lâu lâu mới phải cống cho thiên tử một cách tượng trưng, mà thiên tử phải cho
lại họ nhiều, phải giúp đỡ khi có chiến tranh, đói kém.
- Nó cho mỗi nước độc lập trong một liên hiệp, do đó vừa tạo được tinh thần quốc
gia, vừa tạo được tinh thần tứ hải giai huynh đệ.
- Tinh thần quốc gia nhờ nó mà không hẹp hòi vì "đất nào cũng là đất của nhà Chu,

6
người nào cũng là dân của nhà Chu." Cho nên ta thấy dân một nước khi không chịu
được chế độ hà khắc của nhà cầm quyền thì bỏ qua nước khác; một kẻ sĩ không
được trọn dụng ở nước này thì bỏ qua nước khác: Khổng Tử, Mạnh Tử và tất cả các
kẻ sĩ thời Xuân Thu và Chiến Quốc đều như vậy.
- Nó giúp nhà Chu đem văn minh truyền bá khắp các chư hầu; danh từ Trung Hoa
(xứ văn minh ở trung tâm) có thể xuất hiện từ hồi đó;
- Nó trọng ý dân và hoà bình, giải quyết được những mâu thuãn giữa các nước nhỏ
mà không phải dùng đến vũ lực. Nó tạo ra một hình thức chiến tranh "lễ độ", "quân
tử" rất đặc biệt, khắp thế giới không thấy ở đâu cả, mà Marcel Granet đã chép lại
rất kỹ trong cuốn La Civilisation Chinoise (Albin Michel - 1948), phần II, quyển
III, chương III. Chỉ có tướng hai bên chiến đấu với nhau thôi, quân lính đứng ở sau
ngó, y như trong truyện Tam Quốc Chí. Trước khi ra trận họ bói, rồi định ngày, giờ
xáp chiến. Họ dùng chiến xa, khi gặp nhau, họ tặng nhay một bình rượu, chào hỏi
nhau, nếu chức tước ngang nhau thì mới giao chiến; nếu một bên chức tước lớn hơn
thì bên kia không dám đánh, sợ mang tiếng là vô lễ.
Có lần chiến xa của Tấn lún xuống bùn, không tiến được. Một tướng Sở đứng nhìn
và khuyên người đánh xe của Tấn cách thoát ra khỏi chỗ lầy.
Đặc biệt nhất là lần Tống Tương Công giao chiến với quân Sở Thành vương ở sông
Hoằng. Công tử Mục Di bảo Tống Tương công:
- Quân họ nhiều, quân ta ít, nên đánh ngay khi họ chưa qua sông.
Tương công không nghe. Quân Sở qua sông rồi nhưng chưa bày trận, Mục Di lại
bảo:
- Nên đánh đi.
Tương công bảo:
- Đợi cho họ bày trận xong đã.
Quân Sở bày trận xong, quân Tống tấn công, và đại bại. Tương công bị thương ở
đùi. Người trong nước oán ông, ông nói:
- Đấng quân tử ai lại làm khó người khác trong lúc người ta quẫn bách!

7
Họ cho thắng bại là do ý trời, mà giữ đạo đức, lễ nghĩa là cái vinh dự của người
quân tử.
Dĩ nhiên những trường hợp kể trên khá hiếm, và nhiều khi họ đâm chém nhau cũng
rất hăng. Nhưng so với thời nay, thả một trái bom mà san phẳng một thành phố,
giết cả mấy trăm ngàn dân lành thì chúng ta phải nhận rằng chúng ta dã man hơn cả
người xưa.
Thời Trung cổ, ở phương Tây (như Pháp chẳng hạn) cũng có chế độ féodalité mà ta
dịch là phong kiến, nhưng sự thực thì féodalité khác phong kiến Trung Hoa. Thời
đó vua chúa của phương Tây suy nhược, các rợ (như Normand, Germain, Visigoth)
ở chung quanh thường xâm lấn, cướp phá các thành thị, đôi khi cả kinh đô nữa, rồi
rút lui. Các gia đình công hầu thấy sống ở kinh đô không yên ổn, triều đình không
che chở được cho mình, phải dắt díu nhau về điền trang của họ, xây dựng những
châteaux forts vừa là lâu đài vừa là đồn luỹ kiên cố, chung quanh có hào; họ đúc
khí giới, tuyển quân lính để chống cự với giặc. Nông dân ở chung quanh đem ruộng
đất tặng lãnh chúa hoặc sung vào quân đội của lãnh chúa để được lãnh chúa che
chở. Do đó mà một số lãnh chúa khá mạnh, đất rộng, quân đông, họ hợp lực nhau
đem quân cứu triều đình, được phong tước cao hơn, có khi lấn áp nhà vua nữa, và
sau triều đình phải tốn công dẹp họ để thống nhất quốc gia. Nguyên nhân thành lập
chế độ phong kiến ở Đông và Tây khác nhau như vậy nên không thể so sánh với
nhau được. Một học giả Pháp bảo chế độ phong kiến của nhà Chu còn hữu hiệu hơn
Liên Hiệp Quốc ngày nay. Phải, lý thuyết thì như vậy, nhưng trên thực tế nó cũng
chỉ tốt đẹp được non 100 năm, rồi sau đó suy tàn dần, hoá ra vô hiệu, như sau này
chúng ta sẽ thấy.

C. Chế độ tôn pháp

Cuối đời Thương, Trung Hoa đã dần dần bỏ chế độ mẫu hệ mà chuyển sang chế độ
phụ hệ, họ đã truyền ngôi cho con cháu chứ không truyền ngôi cho em cùng mẹ.

8

Chu Công đặt ra những luật lệ chặt chẽ đời sau chép trong Kinh Lễ, và gần đây
được nhà Trung Hoa học Pháp Léon Vandermeersch nghiên cứu tỉ mỉ trong cuốn
Wangdao ou la Voie royale (Ecole française d Extrême Orient - Paris 1977).
Dưới đây tôi chỉ giới thiệu vài nét chính.
Hồi đầu các vua nhà Thương truyền ngôi cho em, không có em mới truyền cho con;
người em lên ngôi, khi chết truyền ngôi lại cho con của vua anh trước. Cuối triều
đại nhà Thương, lệ đó dần dần bãi bỏ: ngôi vua luôn được truyền cho con, chứ
không cho em. Nhà Chu bắt chước nhà Thương: Văn Vương mặc dầu có mấy
người em vẫn truyền ngôi cho con là Vũ Vương. Chế độ lập đích tử từ đó được Chu
Công, một chính trị gia có tài, em của Vũ Vương, quy định, rồi dần dần ngày càng
được hoàn thiện, bổ sung; trong sử gọi là tôn (cũng đọc là tông) pháp: ().
Vua (thiên tử hay chư hầu) lựa một người con mà truyền ngôi cho - theo nguyên tắc
đích tử là con trưởng của hoàng hậu - chỉ người đó được làm thiên tử hay vương
còn những người khác thì lãnh những tước nhỏ hơn, lãnh địa cũng nhỏ hơn, hoặc
làm chư hầu, hoặc làm khanh, đại phu.
Người con kế vị đó được gọi là tự vương hay tự quân, làm chủ tế trong tôn miếu;
những người con khác chỉ làm bồi tế. Sự tiếm vị bị coi là một tội nặng, Khổng Tử
rất ghét.
Các gia đình đại phu cũng vậy: người con kế nghiệp làm chủ tế, gọi là "đại tôn",
những người khác làm tiểu tế, gọi là "tiểu tôn". Có những thể chế quy định từng chi
tiết trong các cuộc tế đó.
Trong gia đình thường dân, người con trưởng luôn luôn được hưởng gia tài, giữ
việc hương khói. Địa vị người đó quan trọng nhất trong nhà nhưng trách nhiệm
cũng lớn nhất: lo cho mọi người trong nhà đủ ăn đủ mặc, dạy bảo người dưới, chịu
sự chê trách của gia tộc, xã hội nếu trong gia đình có kẻ nghèo đói hoặc hư hỏng, bị
tội, làm nhục tổ tiên.
Ngược lại, người đó và cả vợ nữa, được người trên nể, người dưới tuân lời. Khi em

9
còn nhỏ, ở chung nhà thì anh có quyền thay cha (đã mất); em lớn rồi, ra ở riêng,
may mà giàu có, sang trọng hơn anh thì về nhà vẫn phải lễ phép với anh, có bổn
phận giúp đỡ anh, mà không được khoe giàu sang trước mặt anh.
Con gái không được quyền thừa kế[5], ra ở riêng rồi thì không còn địa vị gì trong
nhà nữa, thành người của gia đình bên chồng (nữ nhân ngoại tộc). Do đó có tinh
thần trọng nam khinh nữ (nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô).
Tổ chức đại gia đình đó rất thích hợp với chế độ nông nghiệp để đất đai của gia
đình không bị phân tán vào tay người ngoài, mà sự khai thác chung được dễ dàng,
sự tiêu pha đỡ tốn kém. Nó tạo nên tinh thần gia tộc: giúp đỡ lẫn nhau, giữ danh dự
chung cho nhau. Nhưng nó cũng gây nhiều tệ mà non nửa thế kỷ trước nhóm Tự
Lực văn đoàn của ta đã vạch ra: nó bó buộc cá nhân quá, gây nhiều sự bất công, bất
bình nếu gia trưởng không đàng hoàng, nó không khuyến khích tinh thần tự lập,
nhiều kẻ hoá ra ăn bám.
Muốn cho chế độ tôn pháp được vững, đời Chu tạo ra chữ hiếu và đề cao hiếu đễ:
con phải hiếu với cha mẹ, kẻ dưới phải tôn kính người trên và ai cũng nhận rằng
dân tộc Trung Hoa là dân tộc coi trọng chữ hiếu nhất. Vì trọng chữ hiếu, nên họ
chú trọng đến tang lễ, tế tự. Sự thờ phụng tổ tiên gần thành một tôn giáo.
Chế độ tôn pháp rất quan trọng về chính trị: nó chấm dứt chế độ thị tộc mà thay
bằng chế độ gia tộc. Ngôi vua không còn do cả thị tộc lựa người tài năng nhất nữa,
mà do cha truyền cho con, không truyền hiền nữa mà truyền tử. Chế độ đó theo
truyền thuyết, có từ đời Hạ, nhưng đời Chu mới quy định nó rõ ràng. Khi còn là
một bộ lạc vài vạn người là cùng thì có thể truyền hiền được; khi đã phát triển
thành một nước có cả triệu người thì sự truyền tử (quân chủ) là một giai đoạn cần
thiết, trước khi nhân loại tiến bộ, có đủ điều kiện để thành lập chế độ dan chủ, đại
nghị.
Nhưng nó cũng có nhiều cái hại. Anh em, chú cháu tranh giành nhau, chém giết
nhau, không triều đại nào tránh khỏi, mà hoàng tộc là họ có nhiều kẻ bị bất đắc kỳ
tử nhất; lại thêm cũng vì ham ngôi báu mà vợ vua xen vào việc nước, lấn hết quyền

10
hành của người chồng nhu nhược, hiếu sắc, hoặc là của con, nhất là khi nó còn nhỏ,
nạn đó là nạn ngoại thích; nạn thứ ba là phải dùng toàn hoạn quan ở trong cung, sợ
mất huyết thống mà ngôi báu vào tay một kẻ không cùng dòng máu với mình. Hai
nạn ngoại thích và hoạn quan đã xảy ra từ đời Chu (có thể từ đời Thương nữa) và
càng về sau càng tệ: có thời trong cung vua có tới ba ngàn hoạn quan, có ông vua
sợ viên thái giám như sợ cha; nếu mẹ vua mê một thầy chùa giả làm hoạn quan thì
triều đại bị hai cái tệ ngoại thích và hoạn quan một lúc, nhất định là phải sụp đổ
trong sự nhục nhã.
Từ đời Chu, có người đã cảnh cáo vua chúa về hai nạn đó, và triều đại nào cũng có
một hai ông vua tìm cách cấm ngặt bọn hoạn quan xen vào việc nước, đặt ra những
hình phạt rất nặng để trừng trị bọn họ, nhưng không hiệu quả, vì như vậy chỉ là trị
ngọn; gốc là chế độ quân chủ chuyện chế, chế độ đa thê, chế độ tôn pháp. Ả Rập,
Ba Tư, Ai Cập đều bị nạn đó cả; phương Tây thì không có hoặc có mà rất ít, vì
họ không có chế độ đa thê và chế độ tôn pháp.
*
Tôn giáo

Cũng như hầu hết các dân tộc khác, người Trung Hoa cho rằng trong vũ trụ phải có
một đấng sinh ra vạn vật, làm chủ hết cả. Chắc hồi đầu họ có đấng đó như một
nguyên hậu, có tai, mắt, ý chí, tình cảm như người, yêu dân, cứu giúp dân, sinh ra
các giống lúa, mưa thuận gió hoà để nuôi dân,và họ gọi đấng đó là đế, Thượng Đế.
Thượng Đế cai quản các quỷ thần, cũng như vua có bách quan.
Nhưng từ cuối đời Thương, nhiều người không tin rằng trời có hình dáng như
người nữa, chỉ là một cái lý rất linh diệu và họ lờ mờ đưa ra thuyết âm dương biến
hoá.
Họ lại nghĩ rằng người được bẩm sinh cái thiên lý, làm việc gì hợp với lẽ trời là
phải, nghịch với lẽ trời là trái; thiên đạo và nhân sự quan hệ với nhau. Quan niệm
"thiên nhân tương dữ" đó là một nét đặc biệt của tín ngưỡng Trung Hoa.

11
Dù không tin Thượng Đế có hình dáng như người nữa, nhưng họ vẫn cho rằng vua
được Thượng Đế giao cho việc trị dân, vua như con cả của trời (thiên tử), phải cúng
tế trời, và chỉ vua mới có quyền thay muôn dân mà cúng tế trời thôi (tế giao); còn
chư hầu thì ai ở phương nào cúng tế các thần ở phương ấy: thần xã (đất đai), tắc
(mùa màng: Thần Nông), thần núi, sông ; kẻ sĩ và dân thường thì tế tổ tiên của
mình, cúng ông Táo, thần tài, thần sinh sản (để có đông con, được mùa) Ngoài ra,
cũng như mọi dân tộc thời đó, dân Trung Hoa rất tin bọn đồng cốt, thầy pháp (họ
gọi là vu hích) và cúng ma quỷ để chúng khỏi làm hại mình. Họ có điểm này khác:
việc gì còn nghi ngờ, họ cũng hỏi tổ tiên, quỷ thần rồi mới quyết định.
Đại khái tín ngưỡng của người Trung Hoa đời Chu như vậy. Có thể coi như một tôn
giáo được không? Nếu là tôn giáo thì gọi nó là gì? Đa thần giáo? Thượng đế giáo
(Déisme)? Nhưng ngoài Thượng Đế người Trung Hoa còn thờ cúng nhiều thần
khác và tổ tiên nữa. Hay là vũ trụ giáo (?) như một học giả phương Tây - mà tôi
quên tên - đã đề nghị?
Vả lại nó khác xa các tôn giáo Ki Tô, Do Thái, Phật, Hồi: không có giáo chủ (vua
Trung Hoa chỉ thay mặt toàn dân mà tế trời thôi, không thuyết pháp cho dân),
không có tổ chức giáo phẩm, chỉ có quan giúp vua coi về thiên sự:làm lịch, xem xét
thiên tượng, định thời tiết cho việc canh nông, xem sao trên trời và quan thái bốc
coi việc bói (bốc, phệ) để đoán việc cát hung; không có kinh kệ, không có giáo
đường gì cả. Nhất là nó không quan tâm chút gì tới sự cứu rỗi, tế độ cá nhân, không
nói đến lai sinh, không biết đến thiên đường, địa ngục, niết bàn
Cho nên nhiều người đã bảo Trung Hoa thời đó không có tôn giáo; và Henri
Maspéro trong cuốn La Chine antique (PUF - 1965) tuy nhận nó là một tôn giáo,
nhưng cũng không đặt cho nó một tên nào cả, chỉ bảo nó là một tôn giáo có tính
cách xã hội (religion sociale) - chữ xã hội này hiểu theo nghĩa trái với cá nhân -
mục đích của nó là mưu hạnh phúc cho quốc gia, xã hội, toàn thể nhân dân: quốc
gia được thăng bình, xã hội có trật tự mà nhân dân nhờ mưa thuận gió hoà mà được
no ấm. Đó cũng là một đặc điểm nữa của dân tộc, của văn minh Trung Hoa.

12
Không có kinh kệ, không có giáo đường thì lòng tín ngưỡng của dân không mạnh,
không có địa ngục thì dân không sợ; sử chép một ông vua đời Thương đã vác cung
ra sân bắn trời và trong Kinh Thi có nhiều câu ca dao oán trời.
Ngay Khổng Tử rất kính trời mà cũng chỉ nhắc tới trời trong mỗi một câu: "Trời có
nói gì đâu, bốn mùa thay đổi, vạn vật sinh sôi, trời có nói gì đâu," cơ hồ ông chỉ coi
trời là luật thiên nhiên thôi.
Sau ông, Mặc Tử thấy tín ngưỡng của dân sa sút quá, muốn gây lại lòng tín ngưỡng
thời Ân, Thương, lập một tổ chức như một giáo phái, quy tụ được một số tín đồ coi
ông là giáo chủ, nhưng ít ai theo và chưa được trăm năm, ngay môn đệ của ông
cũng bỏ luôn.
Phải tới đời Hán, Trung Hoa mới có một tổ chức tựa như một tôn giáo tế độ cho cá
nhân, tôi sẽ xét ở sau.

D. Tổ chức hành chính

Triều đình - quan chế

Bên cạnh thiên tử có những chức quan lớn mà danh hiệu mỗi triều đại một khác, do
đó mỗi sách chép một khác, có khi cùng một danh hiệu mà sách nay chỉ một chức
vụ này, sách khác chỉ một chức vụ khác, ví dụ danh hiệu trủng tế chỉ một chức
quan coi về các việc riêng (chắc là ở trong cung) của vua, theo Henri Maspéro (La
Chine antique); mà trong Trung Quốc sử lược của Phan Khoang, lại chỉ một chức
coi việc hành chính trong nước.
Chúng ta chỉ cần biết đại khái rằng đời Chu, triều đình đã có bốn chức như chức
thượng thư đời sau: tư mã coi việc binh, tư khấu coi việc hình, tư đồ coi về canh
nông, tư không coi về dân sự, ruộng đất, đê điều, đường sá (tức như bộ công thời
sau)[6] - Vậy là chưa có hai bộ: bộ lại, bộ hộ, vì chưa cần thiết, có thể giao cho
những quan nhỏ.

13
Ngoài ra có một chức coi về việc riêng của vua (trủng tế?); một chức coi về việc ăn
uống của vua (thiện phu); một chức coi về kho lẫm (truyền phủ); một chức dạy thái
tử (sư phó?); dĩ nhiên có một quan coi các hoạn quan nữa.
Ở triều đình có ba chức quan nhỏ: Chức coi về thiên sự, tế lễ, lịch; Thái bốc coi về
bói ; và Sử coi về nhân sự, chép lại việc các đế vương đời trước, để lưu truyền
những điều các tiên vương đã đặt ra. Những Kinh, Thi, Thư,Lễ, Nhạc đều do sử
quan làm ra. Điểm này rất đặc biệt: không dân tộc nào chép sử kỹ như Trung Hoa.
Ngoài kinh đô, nước chia ra làm châu, rồi tới quận, lý (làng), giao cho đại phu hoặc
kẻ sĩ cai trị.

Điền chế

Đất nào cũng là của nhà vua. Vua ban đất cho họ hàng, bề tôi để họ khai thác (đất
đó gọi là đất phong); họ lại giao cho một người quản lý, gọi là tế. Viên này tuy là
quản gia nhưng rất có quyền, những nông dân trong đất thuộc quyền của họ, phải
nộp cho họ một phần mười hoa lợi.
Người ta thi hành phép tỉnh điền (xét ở sau), chia ruộng làm ba hạng: tốt, trung
bình, xấu; đất trung bình thì số ruộng được chia bằng hai số ruộng tốt; đất xấu thì
được bằng ba.
Tới đời Xuân Thu, một số nước như Tần cho mọi người được tự tiện khai phá đất
hoang, do đó phát sinh một hạng chủ điền, một giai cấp mới giàu có, dần dần có
học.

Binh chế

Nhà Chu cho phép trưng binh. Lính, chiến xa, ngựa, bò, dân phải nộp cho nhà nước
theo định số. Quân đội chia làm ngũ (năm người lính), lượng (năm ngũ) do một tư
mã cai quản, tốt (bốn lượng), lữ (năm tốt), sư (năm lữ) do một đại phu làm suý cai

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét