Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm mở rộng khả năng thanh toỏn sộc tại SGDI NHNo & PTNT VN

Nhận thức đợc tầm quan trọng của séc cũng nh những bất cập trong thanh
toán bằng séc. Từ kiến thức đã học ở trờng kết hợp với hiểu biết thực tế trong
quá trình thực tập tại SGDI nên em quyết định chọn đề tài: Một số giải pháp
nhằm mở rộng khả năng thanh toán séc tại SGDI NHNo & PTNT VN để làm
khoá luận tốt nghiệp của mình.
* Phơng pháp nghiên cứu:
Phơng pháp nghiên cứu chủ yếu của khoá luận này là phơng pháp phân
tích và so sánh. Ngoài ra còn sử dụng một số phơng pháp khác nh logic biện
chứng và diễn dịch.
* Phạm vi nghiên cứu:
Dựa trên lý luận cơ bản về thanh toán bằng séc đã học kết hợp với thực
tiển tại SGDI NHNo và PTNT Việt Nam bài viết sẽ tập trung phân tích, đánh giá
thực trạng và những tồn tại của phơng thức thanh toán bằng séc từ đó đề ra
những giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng khả năng thanh toán séc trong tơng
lai.
* Khoá luận sẽ đợc trình bày làm 3 chơng:
C1: Cơ sở lý luận về thanh toán bằng séc.
C2: Thực trạng thanh toán bằng séc tại SGDI.
C3: Một số giải pháp nhằm mở rộng khả năng thanh toán bằng séc tại SGDI.
Do những khó khăn trong việc thu thập tài liệu và số liệu phân tích, hơn
nữa do khả năng nghiên cứu, phân tích còn hạn chế và thời gian thực tập còn hẹp
nên bài viết không tránh khỏi những khiếm khuyết. Kính mong sự đóng góp ý
kiến của các thầy cô giáo để luận văn đợc hoàn thiện tốt hơn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo và các cô chú trong phòng
kế toán ngân quỹ và đặc biệt là Thạc sỹ Bùi Quang Tiên đã hết lòng giúp đỡ em
hoàn thành luận văn này.
5
Chơng1: Cơ sở lý luận về thanh toán bằng
séc
I. Sự cần thiết khách quan và vai trò của thanh toán bằng séc
trong nền kinh tế:
1.Sự cần thiết khách quan của thanh toán séc:
Xuất phát từ sơ đồ tổng quát của một chu kỳ sản xuất T-H-H-T ta có thể thấy
rằng thanh toán là khâu mở đầu của một chu kỳ sản xuất khi các doanh nghiệp,
các nhà sản xuất thực hiện nhập các yếu tố máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu,
lao động phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Và nó cũng là khâu cuối
cùng kết thúc một chu kỳ sản xuất, thu hồi vốn để thực hiện tái sản xuất tiếp
theo. Bởi vậy khi thanh toán đợc tổ chức tốt sẽ có tác dụng rất lớn trong việc
thúc đẩy sản xuất - lu thông phát triển và ngợc lại. Vì vậy thanh toán tiền tệ là sự
cần thiết khách quan và đóng vai trò quan trọng đối với quá trình sản xuất của
nền kinh tế hàng hoá. Nói cách khác nền kinh tế hàng hoá gắn với thanh toán và
chu chuyển tiền tệ, kinh tế hàng hoá càng phát triển thì thanh toán chu chuyển
tiền tệ càng mở rộng để có thể phục vụ đắc lực cho lu thông hàng hoá.
Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn với sự ra đời và phát triển của sản
xúât hàng hoá. Và quan hệ thanh toán giữa ngời mua và ngời bán cũng phát triển
theo khi trình độ sản xuất và lu thông hàng hóa còn ở mức độ thấp khối lợng
hàng hoá sản xuất còn ít cha đa dạng phong phú phạm vi tiêu dùng hàng hoá
mới chỉ bó hẹp trong một khu vực một địa phơng lúc này phạm vi thanh toán
còn hẹp. Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt tỏ ra rất có hiệu quả, linh hoạt, giúp
cho quan hệ giữa ngời mua và ngời bán diễn ra một cách nhanh chóng, thuận
tiện. Nhng khi sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển khối lợng sản phẩm đợc
sản xuất và tiêu thụ trên phạm vi rộng khắp không chỉ bó hẹp trong một quốc
gia mà vợt ra khỏi phạm vi của một quốc gia làm cho quan hệ thanh toán ngày
càng mở rộng và phức tạp vì không chỉ thanh toán nội địa mà cả thanh toán với
nớc ngoài. Nh vậy nền kinh tế ngày càng phát triển thì yêu cầu đối với công tác
6
tổ chức thanh toán ngày càng cao trong khi đó thanh toán bằng tiền mặt ngày
càng bộc lộ nhiều hạn chế: Nó không thể đáp ứng linh hoạt kịp thời và đầy đủ
mọi nhu cầu thanh toán. Việc thanh toán một khối lợng hàng hóa lớn cần một l-
ợng tiền mặt lớn làm tăng chi phí vận chuyển, bảo quản và không an toàn; đồng
thời thanh toán bằng tiền mặt nó còn làm tăng các chi phí xã hội nh: Chi phí in
ấn, phát hành, bảo quản, tiêu huỷ tiền nó không chỉ gây ra những bất lợi đối với
việc tổ chức điều hành lu thông tiền tệ của các nhà quản lý mà còn gây ra một sự
lãng phí vốn lớn không đợc tập trung, tận dụng cho việc phát triển kinh tế do l-
ợng vốn lớn của nền kinh tế nằm trôi nổi ngoài lu thông. Thanh toán bằng tiền
mặt đã trở thành vật cản trở cho tốc độ chu chuyển và tuần hoàn vốn của chu kỳ
sản xuất. Hơn nữa, nó còn tạo ra những sơ hở khó kiểm soát nổi thuận lợi cho
những hành vi tham ô, hối lộ, chiếm đoạt tài sản xã hội, tình trạng trốn thuế
ngày càng gia tăng.
Trớc những thực trạng đó đòi hỏi phải có một phơng thức thanh toán tiên
tiến hơn, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế. Và thanh toán không dùng
tiền mặt ra đời đã phát huy tốt lợi thế của nó đó là sự nhanh chóng, tiện lợi an
toàn và chính xác hơn nữa lại rất kinh tế: giúp giảm các chi phí vận chuyển, in
ấn, phát hành, bảo quản và giúp NHNN thực hiện tốt chức năng quản lý của
mình. Đây là phơng thức thanh toán không có sự xuất hiện trực tiếp của tiền mặt
mà thanh toán bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản của ngời chi trả và tài
khoản của ngời thụ hớng mở tại ngân hàng hoặc bằng cách thanh toán bù trừ lẫn
nhau thông qua vai trò trung gian của ngân hàng.
Đây là hình thức thanh toán hiện đại, phù hợp với sự phát triển của nền
kinh tế thị trờng và thể hiện sự hoàn thiện của tiền tệ với chức năng là phơng
tiện thanh toán.
Trong quá trình thực hiện chức năng trung gian thanh toán của mình
NHTM đã tự tạo ra đợc các công cụ tài chính thay thể tiền làm phơng tiện thanh
toán - đáng chú ý nhất là séc một trong những công cụ chủ yếu để tiền vận động
7
qua ngân hàng. Vậy nên cũng có thể coi séc là tiền trong quan hệ trao đối
hàng hoá. Thật vậy, ta biết rằng từ khi xuất hiện việc mua bán trao đối hàng hoá
dịch vụ, tiền - là vật thể trung gian thực hiện thanh toán. Nhà kinh tế Mỹ
Frederic S. Mishkin đã định nghĩa rất đơn giản dễ hiểu tiền là bất cứ cái gì đợc
chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá hoặc dịch vụ hoặc
trong việc trả nợ. Hay nói cách khác, tiền là một vật thể, nếu đợc mọi ngời
nhận nó trong quá trình thanh toán hàng hoá dịch vụ. Chính từ khái niệm này
mà từ thời xa xa đến nay tiền đã trải qua rất nhiều loại từ vỏ sò, vỏ hến rồi đến
kim loại quý nh vàng, bạc và hiện nay là tiền giấy. Tiền giấy đang là công cụ
thanh toán chủ yếu của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong các công cụ
thanh toán, séc cũng đợc coi nh một lọai tiền nó hoạt động bền vững, hiệu quả
bên cạnh tiền giấy.
Thế mạnh của tiền giấy thì khỏi phải nói, hầu hết ngời dân trên toàn khắp
thế giới đều rất quen thuộc và chắc chắn nó còn trờng tồn trong nền kinh tế toàn
cầu. Tuy nhiên, sự phát triển không ngừng của công nghệ mới và tiền - là đối t-
ợng luôn có sự phát triển, thay thể vì nó luôn có hạn chế nh mệnh giá hạn chế,
các chi phí phát sinh xung quanh việc sử dụng tiền. Séc ra đời và là ngời đồng
hành của tiền làm đa dạng môi trờng thanh toán, bổ sung những điều khiếm
khuyết của tiền, cho dù bản thân séc còn tồn tại nhiều vấn đề khó sửa.
Việc đa séc vào sử dụng trong thanh toán là một điểm mới, có tính chất
làm thay đổi hoạt động thanh toán bằng tiền mặt trớc đó và cải thiện hệ thống
thanh toán. Ngời ta đã đa ra 5 cái đợc và hai cái cha đợc của séc. - Thứ
nhất: Mệnh giá của một tờ séc cao hơn rất nhiều so với một đồng tiền thực thụ.
Do đó, khâu bảo quản, kiểm điếm đơn giản, các chi phí liên quan đến thanh toán
séc thấp.
- Thứ hai: Thông thờng trong giao dịch có món thu, món chi (món đi và
món về) séc có lợi thể hơn hẳn tiền mặt là khả năng bù trừ rất tốt. Điều này nếu
thanh toán bằng tiền mặt sẽ phải chuyển một lợng tiền mặt khả lớn để thanh
8
hàng hoá dịch vụ, đồng thời lại nhận đợc một lợng tiền mặt không nhỏ khi bán
hàng hoá dịch vụ.
- Thứ ba: Khi sử dụng séc, giảm thiểu chi phí hành chính, có lợi ích về
kinh tế là khá rõ rệt.
- Thứ t: Một tiện lợi khác của séc mà tiền giấy không thể có đợc đó là khi
thanh toán, séc chạy qua ngân hàng, làm tăng khả năng tập trung và vòng quay
của vốn, giúp cho việc quản lý, phân tích và xây dựng tốt chính sách tiền tệ quốc
gia.
- Thứ năm: Séc có tính hơn hẳn hệ thống thanh toán điện tử là có chứng từ
gốc. Ngày nay việc áp dụng các công nghệ mới trong thanh toán séc đã sử dụng
mã khoá, lu trử séc thông qua file ảnh, thông tin xử lý thông qua hệ thống truyền
thông là những lợi thể không thể phủ nhận đựơc.
Tuy nhiên hai cái không đợc của nó là: Ngời thụ hởng séc không đợc sử
dụng ngay số tiền mà khách hàng thanh toán hàng hoá dịch vụ, bởi nó phải chờ
đợi sự xác nhận của ngân hàng phát hành séc. Thời gian chậm trể này có thể kéo
dài 3-4 ngày có khi lâu hơn. Hạn chế này của séc đã đợc rút ngắn nhiều nhờ áp
dụng công nghệ mới trong chu trình luân chuyển của tờ séc. Tuy vậy, nó vấn là
trở ngại chính cho ngời nhận tiền bằng séc sơ với nhận bàng tiền mặt. Thứ hai,
khi thanh toán bằng séc, ngời thụ hởng luôn phải xuất trình những giấy tờ tuỳ
thân để khẳng định nguồn gốc của séc khi có sự cố, đồng thời phải có một hệ
thống pháp lý đầy đủ mới có thể hợp thức hoá sự tồn tại của séc, đây cũng là
những khó khăn cho việc thanh toán bằng séc.
Từ giữa thế kỷ XX séc đã đợc các nớc phát triển sử dụng và mang lại hiệu
quả kinh tế rất cao. Hiện nay ở các nớc này ngời dân thích sử dụng séc hơn tiền
mặt bởi tính an toàn của nó rất cao mệnh giá uyển chuyển và hệ thống thanh
toán séc phát triển nhanh, độ trể của séc không làm ngời nhận khó chịu vì vậy
việc sử dụng séc trong hệ thống thanh toán của Việt Nam sẽ là cầu nối thu hút
các nhà đầu t và du lịch nớc ngoài.
9
2. Vai trò của thanh toán bằng séc:
TTKDTM có vai trò hết sức quan trọng, có tác dụng hầu hết lên mọi lĩnh
vực của nền kinh tế và có tác động không nhỏ đến việc ban hành và thực thi
chính sách tiền tệ của NHNN. Hơn nữa nó là một nhân tố không thể thiếu trong
việc ổn định và phát triển kinh tế.
Séc là một trong những công cụ thanh toán không dùng tiền mặt rất hữu
ích, có nhiều lợi thế hơn hẳn so với các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt
khác. Sử dụng séc trong thanh toán sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cụ thể nh sau:
2.1 Đối với khách hàng:
-Việc sử dụng séc rất an toàn: Bởi vì nếu sử dụng tiền mặt trực tiếp trong
thanh toán thì mức độ rủi ro rất cao: có thể bị mất do trộm, cớp, bị cháy, bị rách.
Trong khi áp dụng phơng thức thanh toán bằng séc, khách hàng có thể yên tâm
trong việc bảo quản, đảm bảo an toàn về số tiền của mình trong ngân hàng. Khi
thanh toán thì tiền đợc chuyển trong hệ thống ngân hàng bằng cách chuyển từ
tài khoản này sang tài khoản khác .
Nhờ vậy giảm đợc chi phí bảo quản, vận chuyển tiền; Giảm đợc mất mát và tổn
thất tài sản của khách hàng; Hơn nữa khi đánh mất séc khách hàng có thể báo
ngay với ngân hàng để dừng việc thanh toán tờ séc bị mất đó nên sự an toàn
trong sử dụng séc là rất cao.
- Tính kinh tế, hiệu quả của việc sử dụng séc: Đối với khách hàng mục
tiêu cao nhất của họ là tối đa hoá lợi nhuận trong quá trình hoạt động kinh
doanh.Việc sử dụng phơng thức thanh toán bằng séc giúp họ giảm bớt đợc rất
nhiều chi phí cho sử dụng tiền mặt gây ra nhiều chi vận chuyển, bảo quản chỉ
phải trả một khoản phí nhỏ cho ngân hàng khi thực hiên dịch vụ thanh toán.
Giúp cho họ có thể tiết kiệm chi phí tăng lợi nhuận. Mặt khác thanh toán qua
ngân hàng không bị giới hạn về mặt địa lý mà khách hàng có thể thực hiện thanh
toán mọi lúc, mọi nơi, cả trong nớc và quốc tế với tốc độ cực nhanh và chính
xác. Điều này có ý nghĩa quan trong giúp cho khách hàng- đặc biệt là doanh
10
nghiệp có thể tập trung hơn vào quá trình sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu
quả hoạt động cho doanh nghiệp.
- Sự thuận tiện, linh hoạt: Séc đợc xem là công cụ thanh toán linh hoạt.
Thể hiện ở chổ khách hàng có thể thanh toán với bất cứ số tiền nào và có thể sử
dụng các loại séc khác nhau tuỳ thuộc vào nhu cầu của mình. Séc chuyển khoản
thì thủ tục phát hành đơn giản, đòi hỏi phải có sự tín nhiệm lẫn nhau, còn séc
bảo chi đảm bảo an toàn hơn cho ngời bán, séc chuyển tiền giúp khách hàng
chuyển tiền đến một địa điểm khác mà không phải mang theo một lợng tiền mặt
lớn. Rất thuận tiện cho khách hàng khi sử dụng.
2.2 Đối với ngân hàng:
Việc cung cấp dịch vụ thanh toán séc giúp ngân hàng mở rộng các hoạt
động của mình nói chung và đa dạng hoá các dịch vụ của ngân hàng nói riêng.
Nó vừa tạo thu nhập cho ngân hàng vừa giúp cho ngân hàng thực sự trở thành
trung tâm thanh toán - là cầu nối giữa các khách hàng của mình. Mặt khác thông
qua các tài khoản tiền gửi thanh toán mà khách hàng mở tại ngân hàng và số d
đợc duy trì trên tài khoản để đáp ứng nhu cầu thanh toán. Ngân hàng có thể tập
trung một lợng vốn lớn nhàn rỗi tạm thời để cho vay, đầu t đem lại lợi nhuận cho
ngân hàng.
Ngoài ra ngân hàng có thể nắm rõ hơn tình hình tài chính của khách hàng
thông qua biến động số d trên tài khoản tiền gửi của khách hàng. Là cơ sở đánh
giá mức độ tin tởng của ngân hàng đối với khách hàng khi cho vay và theo dỏi
quá trình giải ngân, quá trình sử dụng vốn của khách hàng, giảm thiểu rủi ro tín
dụng cho ngân hàng.
2.3 Đối với nền kinh tế:
Thanh toán bằng séc đã giúp cho vốn luân chuyển nhanh. Từ đó thúc đẩy nhanh
tốc độ lu chuyển tiền tệ, thúc đẩy sản xuất - lu thông phát triển. Đồng thời tạo
điều kiện cho NHNN quản lý đợc một cách tổng thể quá trình sản xuất và lu
thông hàng hoá. Thông qua các công cụ TTKDTM đặc biệt là thanh toán séc
11
NHNN có thể kiểm soát đợc một lợng tiền trong nền kinh tế cũng nh mức tạo
tiền của các NHTM, góp phần thực hiện tốt chính sách tiền tệ quốc gia và các
chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nớc.
Có thể nói rằng séc là một phơng tiện thanh toán có vai trò rất lớn trong việc
thúc đẩy sản xuất phát triển. Thế nên tạo cơ sở để cho séc phát huy hết tính u
việt của nó và để cho séc đi vào trong hoạt động thanh toán của ngời dân cũng
nh các tổ chức kinh tế xã hội - nh là một sân chơi hấp dẫn không chỉ có ý
nghĩa về mặt kinh tế mà còn là một trong những nhân tố thúc đẩy quá trình hội
nhập kinh tế đất nớc với khu vực và quốc tế.
II Một vài nét về séc theo luật séc quốc tế.
Séc là một phơng tiện thanh toán, đã xuất hiện từ lâu và đợc sử dụng rất
phổ biến trên thế giới- Séc có giá trị thanh toán trực tiếp nh tiền tệ, cho nên séc
phải có những quy định về nội dung và hình thức theo luật định. Năm 1931
nhiều nớc T Bản Chủ Nghĩa nh: Đức, Pháp, ý, Đan Mach, Hà Lan, Na Uy, Thuỵ
Điển, áo, Bồ Đào Nha đã họp ở Giơnevơ để ký một công ớc quốc tế về séc.
Công ớc Giơnevơ về séc năm 1931 đợc nhiều nớc t bản chủ nghĩa áp dụng.
Theo đó séc đợc định nghĩa nh sau: Séc là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô
điều kiện do một khách hàng ký phát, ra lệnh cho ngân hàng phục vụ mình trích
một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho ngời thụ hởng có tên trên
séc hoặc cho ngời cầm séc.
Nh vậy các chủ thể tham gia thanh toán séc gồm:
- Ngời ký séc: Đó là chủ tài khoản tiền gửi thanh toán ở ngân hàng.
- Ngời thụ lệnh: Ngân hàng (thực hiện về trích tài khoản ngời phát hành
trả cho ngời thụ hởng) .
- Ngời thụ hởng: Ngời đợc hởng số tiền ghi trên tờ séc.
Những nội dung ghi chú bắt buộc trên tờ séc
Séc phải đợc làm bằng văn bản và có một hình mẵu nhất định. ở các nớc
T Bản Chủ Nghĩa, ai cũng có quyền phát hành séc nên hình mẫu thế nào là do
12
ngời phát hành séc quyết định còn ở các nớc Xã Hội Chủ Nghĩa, NHNN in mẫu
séc thống nhất trong toàn quốc. Các chủ tài khoản muốn phát hành séc thì phải
đến ngân hàng xin nhợng séc theo thủ tục của ngân hàng nớc sở tại.
Nội dung ghi trên tờ séc phải ghi đầy đủ những yếu tố sau:
- Phải có tiền đề séc: vì nếu không có tiền đề này ngân hàng sẽ từ chối
việc thực hiện lệnh của ngời ký phát.
- Lệnh trả tiền vô điều kiện
- Số tiền ghi trên tờ séc: phải đợc ghi rõ ràng, đơn giản, dể nhận biết Số
tiền ghi bằng chữ và bằng số phải thống nhất với nhau. Nếu có sự chênh lệch
giữa số tiền ghi bằng số và số tiền ghi bằng chữ thì tờ séc vẫn đợc thanh toán
nhng thờng căn cứ vào số tiền ghi bằng chữ hoặc số tiền nhỏ hơn.
- Ngày tháng và địa điểm ký phát séc.
- Tên ngời nhận và ngời trả tiền.
- Địa điểm trả tiền.
- Chữ ký của ngời ký phát.
Những điều kiện phát hành séc
* Ngời ký séc phải có tiền trên tài khoản mở tại ngân hàng. Số tiền trên tờ
séc không vợt qua số d có trên tài khoản tại ngân hàng
Tuy nhiên theo ULC 1931, ngời ký phát séc có thể phát hành tờ séc mà tại
thời điểm đó trên tài khoản của họ không còn đủ số d, miễn sao vào thời điểm
lúc thanh toán séc, trên tài khoản có đủ số tiền là đợc, nếu không tờ séc đã phát
hành vẫn có giá trị thanh toán nhng ngời ký phát séc phải chịu trách nhiệm trớc
pháp luật.
* Thời hạn xuất trình và thời hạn hiệu lực của séc:
+Thời hạn xuất trình là thời hạn mà ngời thụ hởng phải chuyển giao tờ
séc cho ngân hàng theo lệnh để nhận tiền. Trong thời hạn này ngời phát hành
séc phải duy trì số tiền bằng mệnh giá séc, trên tài khoản tiền gửi tại ngân hàng
để đảm bảo việc thanh toán cho ngời hởng lợi.
13
Theo ULC 1931 thời gian xuất trình đợc quy định cụ thể: 8 ngày làm
việc (nếu séc lu thông trong phạm vi một quốc gia), 20 ngày làm việc (nếu séc l-
u thông giữa các nớc trên cùng một lục địa), 70 ngày làm việc (nếu séc lu thông
giữa các nớc khác lục địa).
Thời hạn xuất trình đợc tính từ ngày ký phát đến ngày xuất trình séc cho
ngân hàng thụ lệnh.
+ Thời hạn hiệu lực: Là thời hạn mà trong đó ngân hàng vẫn đóng vai trò
là ngời thụ lệnh, thực hiện việc chi trả cho ngời thụ hởng.
Thời hạn hiệu lực đợc quy định là 1 năm, kể từ ngày hết hạn xuất trình.
Sau khi hết hạn hiệu lực của tờ séc, ngân hàng thụ lệnh không có nghĩa vụ
thực hiện việc chi trả. Tuy nhiên, Ngời ký phát vẫn còn nguyên nghĩa vụ thanh
toán tiền trên tờ séc cho ngời hởng lợi vì tờ séc vẫn còn hiệu lực pháp lý của một
hợp đồng dân sự.
Một số loại séc th ờng sử dụng
- Séc vô danh: Là loại séc không ghi tên ngời hởng lợi, thờng ghi pay to
bearer ( trả cho ngời cầm séc). Với loại séc này, ai nắm giữ séc sẽ là ngời hởng
lợi. Do vậy loại séc này có thể chuyển nhợng dễ dàng bằng cách trao tay.
- Séc đích danh: Là loại séc chỉ định cụ thể tên ngời hởng lợi, do đó chỉ
có ngời này mới lĩnh đợc tiền. Loại séc này không chuyển nhợng đợc.
- Séc theo lệnh: Là loại séc có ghi pay to the orther (trả theo lệnh) loại
séc này có thể chuyển nhợng đợc bằng thủ tục ký hậu.
- Séc ghạch chéo: Là loại séc mà trên mặt trớc của nó có hai gạch chéo
song song chạy từ góc này sang góc kia của tờ séc.Với hai ghạch chéo này, ngời
ký phát đã chỉ thị cho ngân hàng thụ lệnh chỉ thanh toán cho ngời thụ hởng bằng
chuyển khoản, không thanh toán bằng tiền mặt. Có hai loại séc gạch chéo:
+ Séc gạch chéo thông thờng:giữa hai ghạch chéo không ghi tên ngân
hàng nhận thanh toán. Do vậy, loại này ngân hàng nào cũng có thể thực hiện
việc thanh toán.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét