Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
định. Vì nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng nào đó dù chỉ là 1 ngân
hàng và ở 1 mức độ nhất định nào đó cũng sẽ đe doạ tới sự tan toàn và ổn
định của toàn bộ hệ thống ngân hàng.
2.2. Xu thế hội nhập hiện nay cho thấy cần thiết phải nghiên cứu tỉ mỉ
và cẩn thận vấn đề này.
Thế giới hiện nay là thế giới của toàn cầu hoá và hội nhập hoá Việt
Nam cũng không nằm ngoài quy luật này 11/06 Việt Nam chính thức gia nhập
WTO - Tổ chức thương mại thế giới, đánh dấu bước ngoặt lớn của nền kinh tế
Việt Nam khi bước vào một sân chơi mới đồng thời đặt ra nhiều cơ hội
nhưng cũng đầu thách thức. Cải cách khu vực ngân hàng thương mại là một
trong những chủ trương cải cách khu vực Ngân hàng thương mại là một trong
những chủ trương cải cách hàng đầu mà Chính phủ luôn theo đuổi với mục
tiêu từng bước hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng. Bởi vậy vấn đề nợ
xấu lớn trong các Ngân hàng thương mại là một thách thức trên con đường
hội nhập. Có xử lí được vấn đề này, năng lực đấu tranh của các Ngân hàng
thương mại mới được cải thiện. Sau năm 2010, các hạn chế, phân biệt giữa
ngân hàng trong và ngoài nước bị xoá bỏ, chấm dứt sự bảo hộ ở nhà nước, các
Ngân hàng thương mại sẽ thực sự đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt. Do đó,
ngay từ bây giờ, giải quyết những tồn tại, hạn chế trong hệ thống Ngân hàng
thương mại là rất cần thiết, đặc biệt là vấn đề xử lý nợ xấu cần được quan
tâm, chú ý hơn.
3. Nội dung xử lí nợ xấu đối với Ngân hàng thương mại
Khi xử lí các khoản nợ xấu, Ngân hàng thương mại có 2 sự lựa chọn
tổng quan: khai thác hoặc thanh lí khai thác là một quá trình làm việc với
người vay cho đến khi khoán cho vay được trả một phần hay toàn bộ người
không dựa vào các công cụ pháp lí để ép buộc thu ngân thanh lí là ép người
vay tuân theo các điều khoản của hợp đồng cho vay, áp dụng và thực hiện tất
cả biện pháp pháp lí để đạt mục tiêu
5
Tài chính doanh nghiệp 46B
5
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn mà ngân hàng sẽ theo đuổi
để xử lí những khoản cho vay. Nổi bật nhất là khó khăn trong việc thu ngân
và tổn thất có thể xảy ra đối với khoản cho vay, trong trường hợp này ngân
hàng phải áp dụng hình thức thu ngân bắt buộc theo luật. Bên cạnh đó có các
yếu tố như sự thật thà và thái độ của người vay đối với các khoản nợ, sức
mạnh tài chính là khả năng chi trả của người vay, mặc dù cần thiết thời gian
đáng kể, giá trị của người vay đối với ngân hàng, chi phí kèm theo việc thu
ngân hàng khôi phục cho người vay và phương pháp nào sẽ đem lại lợi ích
lớn nhất cho ngân hàng trên số vốn đã và đang bị khó khăn. Một yếu tố cuối
cùng cần phải quan tâm là thái độ của chủ nợ, mà điều này xảy ra rất nhiều.
Trong việc xử lí ngoài phạm vi của toà án, sự sắp xếp các việc phải làm cần
được những người liên quan chấp nhận. Một người phản đối có thể làm cho
kế hoạch không được thực hiện phải thuyết phục của chủ nợ này rằng, họ
được lợi bằng cách cộng tác với một kế hoạch được đề nghị hơn là hoạt động
đơn phương.
* Tổ chức khai thác
Khi người vay gặp khó khăn về tài chính, ngân hàng có thể và thường
tham gia tổ chức khai thác, dĩ nhiên phải đặt trong giả thuyết người vay thật
thà thái độ của họ đối với khoản nợ và chi trả là thoả đáng. Điều này đặc biệt
đúng, nếu như người vay có vốn lớn trong doanh nghiệp, một số tài sản cố
định có giá trị, một tổ chức có thể tạo lợi nhuận đủ số lượng để hoàn trả
khoản vay đáng nghi vấn, cũng như những khoản cho vay khác cần cho việc
duy trì doanh nghiệp, nếu gnười vay không thể trả nợ theo nghĩa sự vỡ nợ thì
ngân hàng nên thực hiện thanh lí.
Hầu hết các khoản cho vay khó đòi tại ngân hàng thương mại được xử
lí bằng phương pháp khai thác, nghĩa là người vay được phép tự khắc phục
khó khăn tài chính và hoàn trả các khoản nợ ngân hàng càng nhanh càng tốt.
Vì tổ chức khai thác không phải là một công cụ pháp lí,nó có thể có một số
hình thức khác nhau giữa những khoản cho vay các biện pháp có thể bao gồm
6
Tài chính doanh nghiệp 46B
6
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
lời khuyên trên nhiều chủ đề nhằm tác động đến khả năng tạo ra và thu lợi tức
của người vay, gia hạn hoặc điều chỉnh hợp đồng cho vay để giảm bớt quy mô
hoàn trả cấp phát thêm vốn nhằm tạo cho người vay có được vị thế tài chính
mạnh hơn ngân hàng nắm phần chủ động trong hoạt động kinh doanh nó, cho
đến khi bảo đảm rằng, khoản cho vay sẽ được hoàn trả.
Khi bất cứ khoản cho vay nào đến giai đoạn khó khăn, lập tức ngân
hàng áp dụng biện pháp để bảo đảm thế chấp và một thoả thuận bảo đảm trên
mọi tích sản khả dụng của người cho vay.
* Tổ chức thanh lý
Nếu ngân hàng thấy rõ là việc tổ chức khai thác không tiện lợi, sự
thanh lí dưới 1 trong vài hình thức có thể được coi là cách hay nhất để xử lí
một khoản cho vay đã trở thành nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn (thuộc
nhóm 4 và 5). Khi phương pháp này được lựa chọn, có nghĩa là ngân hàng đã
quyết định sau khi cần nhất tất cả mọi yếu tố kể trên người nhận thấy rằng khả
năng cải thiện tình hình tài chính của người vay là xa vời, việc gia hạn hợp
đồng cho vay hay cấp thêm vốn là mạo hiểm ngân hàng sẽ bớt được một tỷ lệ
% vốn cấp phát, biện pháp thanh lí là tối ưu nhất. Sự thanh lí thường được
nhanh chóng thực hiện trong những trường hợp tư tưởng không sẵn lòng chi
trả đã rõ, hành động lừa đảo hay không thật thà đã bộc lộ, tình trạng vỡ nợ đã
hiện ra, tình hình tài chính của người vay là vô vọng, hay không có ý muốn
trả nợ.
Có một số biện pháp thực hiện việc thanh lí
Nếu khoản cho vay được bảo đảm, có thể bán nó đi, thường thì nó
không đem lại mức giá thị trường hợp lí. Trong trường hợp khối lượng nhận
được từ việc bán vật thế chấp không đủ thanh toán nợ, ngân hàng có thể nhận
phán quyết của toà án về khoản chênh lệch phán quyết như thế cho phép ngân
hàng quyền thu thêm nếu người vay có các tích sản.
Nhân việc ngân hàng có thể thực hiện thanh lí với sự giúp đỡ của
chuyên gia tư vấn pháp luật của ngân hàng hay bộ phận liên quan đến những
7
Tài chính doanh nghiệp 46B
7
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
khoản cho vay có vấn đề và thành viên của bộ phận tham mưu có chuyên môn
về lĩnh vực này. Cuối cùng một nhân viên thanh lí chuyên nghiệp được ngân
hàng thuê xử lí việc thanh lí.
Một hình thức thanh lí khác là tái sở hữu các hàng hoá tiêu dùng lâu
bền trong một số trường hợp tư liệu sản xuất, được bán theo hợp đồng bán có
điều kiệnvà mua lại từ một nhà buôn. Quá trình này được thực hiện bằng cách
giữ lại hàng hoá sau đó tiến hành bán với giá nào đó hy vọng có thể trả hết nợ.
Trong trường hợp ngân hàng quyết định sử dụng biện pháp xử lý để thu
hồi số nợ vaykhông bảo đảm, phán quyết cần phải có từ toà án thích hợp.
Phán quyết này cho phép nắm giữ người bán tài sản của người thiếu nợ với số
lượng phù hợp với quyết định của toà án hay trừ vào lương theo mức được
luật pháp cho phép.
Nếu ngân hàng là một trong số các chủ nợ và ai cũng muốn lấy lại tiền
và có vị thế mạnh tương ứng như ngân hàng thì một uỷ ban chủ nợ có thể
được thành lập. Cách giải quyết này không áp dụng cho trường hợp phá sản
và cũng có thể áp dụng phương pháp khai thác.
Phá sản có 2 hình thức bồi thường cơ bản cho các chủ nợ, thanh lí và
hồi phục. Phá sản có thể miễn cưỡng hay cố ý. Nó là biện pháp cuối cùng theo
quan điểm của các chủ nợ. Ngân hàng hay bất cứ chủ nợ nào khác bao giờ
cũng mong muốn nhận được phần đáng kể các khoản cho vay từ quá trình
thanh lí nhưng thực tế thường không được như mong muốn.
Trong nhiều trường hợp, nó được áp dụng khi các chủ nợ không thể đạt
thoả thuận hợp lý liên quan đến các biện pháp phải thực hiện để thu hồi được
vốn vay, hay khi 1 chủ nợ nhỏ nào đó từ chối tiến hành một thoả thuận hợp
tác hay khi người vay từ chối làm việc với chủ nợ để cố gắng giải quyết khó
khăn tài chính.
II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÍ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Thực trạng và giải pháp
8
Tài chính doanh nghiệp 46B
8
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Tình hình "nợ xấu" trong thời gian gần đây đã được đề cập đến nhiều
nhưng hầu như bài toán hóc búa này chưa có lời giải cuối cùng và sự gia tăng
các món nợ xấu trong các ngân hàng vẫn đang tiếp diễn. Cho đến tháng
12/2006, thì nước ta đã hình thành một hệ thống ngân hàng rộng khắp cả nước
với NHTM nhà nước chiếm thị phần 80%, trong tổng vốn tự có chỉ trên 1 tỷ
USD, chưa đạt hệ số an toàn vốn tối thiểu (8%) khả năng tăng vốn và xử lý nợ
xấu yếu, 37 NHTM cổ phần, 5 ngân hàng liên doanh, 31 chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, 46 văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài, 6 công ty tài
chính, 10 công ty cho thuê tài chính và hơn 900 quỹ tín dụng nhân dân.
Tính theo tiêu chuẩn trong nước thì tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng
thương mại qua các năm là: 13,7% năm 1999; 7,6 năm 2002; 5,8% năm 2003.
Tỷ lệ nợ quá hạn ở các ngân hàng trung ương Việt Nam cao gấp 4 lần vốn tự
có (vốn chủ sở hữu của ngân hàng).
Tính đến cuối tháng 6/2004, nợ vốn vay xây dựng cơ bản thuộc 5 ngân
hàng thương mại nhà nước đối với các đơn vị thi công là khoảng 24.500 tỷ
đồng, trong đó nợ quá hạn là 1344 tỷ đồng. Đối với ngân hàng công thương
Việt Nam, đến cuối nâm 2004, tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay là
4%. Tính theo tiêu chuẩn kế toán quốc tế IAS thì tỷ lệ nợ xấu thực tế của các
ngân hàng thương mại quốc doanh dao động ở mức 40%; tổng dư nợ gấp 8
lần tiêu chuẩn an toàn cho phép trong đó 58% là nợ quá hạn không có khả
năng thu hồi.
Theo báo cáo của Quốc hội, tổng số nợ vốn đầu tư xây dựng cơ bản có
liên quan đến nguồn ngân sách đến hết năm 2003 là 11.000 tỷ đồng; trong đó
khối Bộ, ngành Trung ương nợ 3500 tỷ đồng, khối tỉnh, thành phố nợ 7500 tỷ
đồng. Đáng chú ý có địa phương nợ lớn, số nợ gấp nhiều lần vốn đầu tư xây
dựng cơ bản trong kế hoạch. Một số tổng công ty lớn và nhiều công ty xây
dựng cơ sở hạ tầng đã và đang đối mặt với sự suy yếu nghiêm trọng về tài
chính. Tổng công ty công trình giao thông số 5 đã lâm vào tình trạng suy kiệt
tài chính trong năm 2003 với khoản nợ ngân hàng lên tới 2200 tỷ đồng, nhưng
9
Tài chính doanh nghiệp 46B
9
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
bản thân công ty này cũng là chủ nợ của các khoản nợ khó đòi 1930 tỷ đồng
(tại thời điểm 6/2003). Theo Bộ tài chính đến 10/2004, tổng số nợ tồn đọng
của riêng khối doanh nghiệp nhà nước là 28 785 tỷ đồng tăng hơn 7000 tỷ so
với số liệu tại thời điểm thống kê năm 2003.
Trong tín dụng ngân hàng, Việt Nam được đánh giá là độc quyền cho
vay. Ngành Ngân hàng Việt Nam bị chi phối bởi 4 ngân hàng thương mại lớn
đó là: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank); Ngân
hàng ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng Công thương (Incombank),
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV). Bốn Ngân hàng này chiếm khoảng
70% thị phần cho vay trong nước. Nhóm cho vay lớn thứ 2 là các ngân hàng
nước ngoài với thị phần 15%, tiếp theo là ngân hàng cổ phần với 12% và các
ngân hàng liên doanh đóng góp 3%. Bốn ngân hàng thương mại QP chiếm 3/4
thị phần tín dụng cho vay và huy động của ngân hàng các ngân hàng này có
bảng cân đối kế toán khá yếu kém; phản ánh sự kế thừa các khoản cho vay
trực tiếp đối với các dự án hỗ trợ của nhà nước. Đến cuối năm 2000 những
ngân hàng này đã có những khoản cho vay không hoàn lại lên tới 23 000 tỷ,
tương đương 2 lần số vốn của họ chiếm 5% GDP, và 15% tất cả các khoản tín
dụng cung ứng cho nền kinh tế. Trong thời gian qua ngân hàng nhà nước chủ
trương phân loại các khoản cho vay, với tiêu chuẩn quốc tế hơn và chấp nhận
các kế hoạch dự phòng mất mát các khoản cho vay đưa vào sử dụng dần dần.
Mặc dù vậy theo đánh giá của WB "chuẩn mực phân loại khoản cho vay còn
mơ hồ". Nhiều nghiên cứu khẳng định rằng, nếu kiểm toán 4 Ngân hàng
Thương mại QD theo tiêu chuẩn quốc tế, kết quả có thể tất cả đều có vốn âm.
Mặc dù hiện nay hệ thống ngân hàng đã và đang tiếp tục được cải cách
theo chuẩn quốc tế, xây dựng như quy định 493 về phân loại nợ và trích lập
dự phòng đã ra đời, nhưng cho đến 31/12/2005, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ ở
khối ngân hàng thương mại cổ phần chủ yếu < 2%, của các ngân hàng thương
mại quốc doanh bình quân 5,4% song hoạt động tín dụng ở các ngân hàng
thương mại hiện tiềm ẩn nhiều rủi ro. Con số tỷ lệ nợ xấu cho thấy là tương
10
Tài chính doanh nghiệp 46B
10
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
đương với những ngân hàng uy tín cao trong khu vực và quốc tế nhưng nó
mới chỉ xác định theo tiêu chí định lượng thời gian quá hạn của khoản vay mà
chưa xác định theo tiêu chí định tính theo quy định của Quyết định 493. Các
yếu tố ảnh hưởng đến những báo cáo về các con số này là hệ thống phân loại,
khái niệm hiện dùng không nhất quán và tính so sánh giữa các thời điểm khác
nhau. Như vậy tỷ lệ hay các con số đưa ra liệu có đúng? Nếu tính theo tỷ lệ
dự tính ở IMF, nợ xấu cả nội và ngoại bang ở ngân hàng thương mại quốc
doanh khoảng 6,2 tỷ USD tức 13% GDP. Với một tốc độ tăng trưởng tín dụng
hàng năm khá cao (20%) và tỷ lệ tăng nợ xấu cao hơn tăng trưởng tín dụng
đây là tình trạng đáng báo động cần các biện pháp ngừa phòng khủng hoảng
tài chính.
Như vậy Việt Nam có thể hơi quá lạc quan với tình hình nợ xấu và
nguy cơ khủng hoảng tài chính vì nợ tồn đọng và nợ xấu thực tế có thể lớn
hơn nhiều so với báo cáo.
2. Nguyên nhân ở thực trạng trên
* Sự hoạt động kinh doanh không có hiệu quả ở các doanh nghiệp vay
vốn ngân hàng, có thể thấy qua bảng thể hiện tỷ lệ nợ quá hạn/tổng doanh
nghiệp sau:
Năm
Chỉ tiêu
1999 2000 2001 2002 2003
1. Tổng dư nợ (tỷ VNĐ)
toàn bộ nền kinh tế
139.180 184.936 225.704 286.614 365.300
2. Tỷ lệ nợ quá hạn/Tổng
DN
13,2% 10,75% 8,7% 8,15% 8,02%
* Về phía doanh nghiệp
- Nguyên nhân khách quan: Doanh nghiệp vay vốn gặp rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của mình: thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh,… do vậy
việc sử dụng vốn vay không đạt hiệu quả, có thể mất hoàn toàn vốn. Hoặc sự
11
Tài chính doanh nghiệp 46B
11
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
biến động và sức ép cạnh tranh ngày càng tăng của thị trường, hoặc môi
trường kinh doanh, làm cho doanh nghiệp không có khả năng thích ứng kịp
thời, kinh doanh khó khăn dẫn đến mất khả năng thanh toán. Trong điều kiện
hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay cần chú ý tới các tác nhân: sự biến
động của tỷ giá, giá xăng dầu, nguyên liệu.
- Nguyên nhân chủ quan: doanh nghiệp quản lý sản xuất kinh doanh
kém hiệu quả, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiền vay về không có
tác dụng thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến doanh
nghiệp vay vốn làm ăn kém hiệu quả, nợ ngân hàng tăng. Hoặc bản thân
doanh nghiệp thiếu ý thức trong vấn đề sử dụng vốn vay, hoặc thiếu ý thức
trong vấn đề trả nợ, không lo lắng, không quan tâm đến nợ ngân hàng, mặc dù
khả năng tài chính của doanh nghiệp có. Hay bản thân doanh nghiệp cũng cho
vay, mà số vốn đó bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng quá mức, dẫn tói khả
năng không thể trả được nợ cho ngân hàng.
* Về phía ngân hàng thương mại:
Khi quyết định cho vay thiếu căn cứ khoa học, không phân tích tình
hình khả năng sử dụng vốn và hoàn trả nợ của doanh nghiệp, do vậy đã đưa
vốn vào những doanh nghiệp kém hiệu quả sẽ dẫn đến nợ quá hạn, nợ tồn
đọng hoặc cũng có thể do nguyên nhân từ phía đạo đức của người cán bộ tín
dụng, cố tình cho vay vì mục đích lợi riêng cho mình.
* Một nguyên nhân lớn cần phải đề cập đó là: cho đến nay ngân hàng
thương mại nhà nước vẫn là người cho các doanh nghiệp nhà nước vay nhiều
nhất. Trong khi ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm đến 80% thị phần,
trong đó khoảng 50-60% danh mục cho vay dành cho các DNNN. Xuất phát
từ mối quan hệ truyền thống giữa ngân hàng thương mại nhà nước và doanh
nghiệp nhà nước cùng với nhu cầu cho vay lớn và khả năng cho vay lớn (mà
ngân hàng thương mại cổ phần khó đáp ứng), nếu có chuyện gì thì cùng nhà
nước quản lí.
12
Tài chính doanh nghiệp 46B
12
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam do nhà nước sở hữu duy
nhất, nhà nước có quyền quyết định toàn bộ hoạt động kinh doanh tiền tệ tín
dụng của ngân hàng thương mại. Điều này tạo nên tính lưỡng tính trong ngân
hàng thương mại nhà nước tối đa hoá lợi ích trên vốn chủ sở hữu đối với ngân
hàng thương mại nhà nước không chỉ là tối đa hoá lợi nhuận ròng trên vốn
chủ.
Do hình thức sở hữu nên thời gian dài trước đây (từ năm 2000 trở về
trước), hình thành cách thức cho vay theo "chỉ thị": cho vay theo chỉ thị của
chính phủ, và cho vay theo chỉ thị ngầm của các cấp chính quyền. Nếu chính
phủ yêu cầu ngân hàng cho vay chính phủ sẽ chịu trách nhiệm chuyển nguồn,
hoặc bù lãi suất và trách nhiệm với nợ không thu hồi được.
Tại nhiều địa phương các cấp chính quyền, đoàn thể thường phối hợp
với ngân hàng trong việc thúc đẩy khách hàng trả nợ đúng hạn. Quan hệ này
được hình thành dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn các cấp chính quyền và
ngân hàng về kỉ luật tín dụng. Tuy nhiên có một số cấp chính quyền lại coi
ngân hàng như kênh tài trợ quan trọng khi ngân sách có khó khăn. Họ gây áp
lực cho ngân hàng bỏ qua kỉ luật tín dụng để tài trợ cho những dự án tài chính
yếu kém. Một số cán bộ ngân hàng thì lại lợi dụng điều này để chia chác kiếm
lợi, dù gì cũng là tiền của nhà nước.
Cũng do quan hệ như vậy mà việc cho vay của ngân hàng thương mại
nhà nước vẫn chưa theo nguyên tắc thị trường. Việc ngân hàng cho các doanh
nghiệp nhà nước vay nhưng với thực lực tài chính yếu kém thì vấn đề nợ xấu
xảy ra là điều không thể tránh khỏi.
Như vậy chừng nào mà vẫn còn rủi ro đạo đức trong quan hệ giữa
Chính phủ, các ngân hàng thương mại quốc doanh, các doanh nghiệp nhà
nước tức là vẫn còn kỳ vọng giữa người cho vay (ngân hàng) và người đi vay
(doanh nghiệp nhà nước) và sự cứu vớt của Chính phủ trong tương lai, do đó
ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn tiếp tục ưu tiên cho các doanh nghiệp
13
Tài chính doanh nghiệp 46B
13
Đề án Lý thuyết Tài chính tiền tệ
nhà nước vay thì chừng đó vấn đề nợ xấu vẫn không được giải quyết triệt để
và luôn có xu hướng nảy sinh trở lại.
* Một nguyên nhân nữa đó là các văn bản hướng dẫn quy định về phân
loại và xử lý nợ còn chông cheo và chưa cụ thể, làm cho các ngân hàng chưa
chủ động trong việc xử lý các tài sản bảo đảm. Ngoài ra còn có sự chưa phù
hợp của luật pháp với thực tế khi ngân hàng xử lý tài sản khi mà khách hàng
không hợp tác và các cơ quan chức năng nhiều khi chưa hỗ trợ hiệu quả.
3. Giải pháp giúp xử lí nợ xấu ở ngân hàng thương mại
Như vậy trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, hội nhập
quốc tế của nền kinh tế nói chung và của hệ thống ngân hàng nói riêng, đặc
biệt là trong giai đoạn hiện nay, để hệ thống ngân hàng ổn định an toàn và
phát triển bền vững điều quan trọng là cần nâng cao năng lực cạnh tranh của
các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên tình trạng nợ xấu của các ngân hàng
thương mại Việt Nam đã gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động
kinh doanh ở ngân hàng, gây giảm sút năng lực cạnh tranh. Mặc dù những
năm gần đây Chính phủ, Ngân hàng nhà nước cùng các ngân hàng thương
mại đã thực hiện nhiều chính sách và các giải pháp quan trọng để giảm thiểu
nợ xấu, đặc biệt chúng ta đang từng bước áp dụng tiêu chuẩn quốc tế trong
quản lý nợ xấu, đó là việc cho ra đời Quyết định 493/2005/QĐ- NHNN về
phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro trong tín dụng, trong hoạt
động ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Đến nay tỷ lệ nợ xấu trong toàn bộ hệ
thống ngân hàng chỉ vào 3% so với tổng dư nợ, tuy nhiên để thực trạng nợ
xấu được giải quyết một cách căn bản thì cần phải thực hiện.
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lì có
hiệu lực, đảm bảo sự bình đẳng, an toàn cho mọi tổ chức hoạt động dịch vụ
ngân hàng và tài chính trên lãnh thổ Việt Nam, gây sức ép phải đổi mới và
tăng hiệu quả hoạt động lên ngân hàng thương mại Việt Nam như: nâng cao
chất lượng dịch vụ, đồng thời phải đổi mới cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, chức
năng của hệ thống ngân hàng nhà nước nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả
14
Tài chính doanh nghiệp 46B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét