Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
* 28/2/2008: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các nạn
nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản mất giá là
1,36 tỷ euro.
* 16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP Morgan
Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu.
* 29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một khoản
thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ
xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản.
* 11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng
IndyMac Bancorp. Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước
tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày.
* 31/7/2008: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6
tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD. Deutsche Bank trở
thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu.
* 7/9/2008: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền kiểm soát
hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac nhằm hỗ trợ thị
trường nhà đất Mỹ.
* 11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại
chính mình. Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%.
* 14/9/208: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cp
sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers.
* 15/9/2008: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mở
cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm 2001. Lehman
Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch bị Bank of
America Corp thâu tóm; American International Group - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất
thế giới mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố.
* 16/9/2008: Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỉ USD
vào các thị trường tiền tệ với nỗ lực hạ nhiệt tình trạng căng thẳng và ngăn chặn sự
đóng băng của hệ thống tài chính toàn cầu. Cổ phiếu AIG giảm gần một nửa. Fed
công bố kế hoạch bơm 85 tỷ USD vào AIG và nắm giữ 80% cổ phần. Ngân hàng
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
Barclays của Anh mua lại một phần tài sản tại Bắc Mỹ của Lehman với trị giá 1,75 tỷ
USD.
* 17/9/2008: Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảm mạnh; Tập
đoàn Lloyds TSB của Anh mua lại đối thủ HBOS; Uỷ ban Chứng khoán Mỹ kiềm
chế tình trạng bán khống.
* 19/9/2008: Các thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt sau khi Mỹ công bố
kế hoạch mua lại tài sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khó khăn, giúp làm
thanh sạch hệ thống tài chính.
* 20-21/9/2008: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD. Hai
ngân hàng Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân
hàng đa năng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall.
* 22/9/2008: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để thâu
tóm hoạt động của Lehman tại châu Á. Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại
châu Âu và Trung Đông. Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần Morgan
Stanley.
* 23/9/2008: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman Sachs;
Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghi
ngờ có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ.
* 25/9/2008: Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những ngân hàng lớn
nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp. Cơ
quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và sau
đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan Chase & Co.
với giá 1,9 tỷ USD. Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị
phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ.
Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã
đồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD.
* 29/9/2008: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tài
chính Mỹ. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones
tụt giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
* 1/10/2008: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ
lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế
thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD);
tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000
USD lên 250.000 USD.
* 3/10/2008: Sau 3 giờ thảo luận và thuyết phục nhau, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu
lần thứ hai và thông qua dự luật giải cứu với tỷ lệ phiếu 262-171. Không đầy 2 giờ
sau đó, Tổng thống Mỹ đặt bút ký để chính thức chuyển kế hoạch thành đạo luật.
* Ngày 4/10/2008: Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã triệu tập cuộc họp
thượng đỉnh khẩn cấp với lãnh đạo 4 nước lớn nhất trong Liên minh Châu Âu là Anh,
Pháp, Đức và Ý. Phiên họp kết thúc với tuyên bố hợp tác xử lý khủng hoảng, nhưng
không thống nhất được một gói giải pháp tổng thể theo mô hình của Mỹ.
* Ngày 5/10/2008: Mặc dù Thủ tướng Đức Angela Merkel đã chỉ trích quyết
định của Ireland tuần trước về bảo hiểm toàn bộ các tài khoản ngân hàng tại Ireland,
ngày Chủ nhật 5/10 Bộ trưởng Tài chính Đức đã thông báo tất cả các tài khoản tiền
gửi ngân hàng tại Đức sẽ được bảo hiểm không có giới hạn.
* Ngày 6/10/2008: Trong đêm Chủ nhật 5/10, ngân hàng BNP Paribas SA của
Pháp gửi email thông báo đã thỏa thuận chi 14,5 tỷ Euro (tương đương 19,8 tỷ USD)
để mua lại ngân hàng Fortis, trong đó có 9 tỷ Euro bằng cổ phiếu và 5,5 tỷ Euro bằng
tiền mặt. BNP sẽ sở hữu 75% Fortis tại Bỉ, 67% Fortis tại Luxembourg, và toàn bộ
mảng bảo hiểm của Fortis tại Bỉ.
* Ngày 8/10/2008: Trong một nỗ lực phối hợp chưa từng có tiền lệ, Cục dự trữ
liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 4 ngân hàng trung
ương các nước khác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất nhằm giảm ảnh hưởng nghiêm
trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái năm 1930.
* Ngày 10/10/2008: Tập đoàn bảo hiểm có lịch sử hoạt động 98 năm tại Nhật là
Yamato Life Insurance Co. chính thức đệ đơn xin được bảo hộ phá sản do các khoản
nợ đã vượt tài sàn 11,5 tỷ yen (tương đương 116 triệu USD). Đây được coi là mốc
đánh dấu cuộc khủng hoảng đã lan sang châu Á.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
* Ngày 13/10/2008: Giải Nobel Kinh tế 2008 được công bố thuộc về Giáo sư
Paul Krugman. Ngoài thành tích xây dựng mô hình ứng dụng thương mại toàn cầu,
ông cũng là người chỉ trích kịch liệt Chính phủ của Tổng thống Bush, và là người
vạch ra những hiểm họa của tự do thị trường thiếu sự giám sát của Chính phủ.
* Ngày 14/10/1008: Chính phủ Mỹ công bố dành 250 tỉ USD trong gói giải cứu
700 tỉ USD để rót vào các ngân hàng lớn, đổi lại sẽ nhận được cổ phiếu ưu đãi của
các ngân hàng này. Đây là bước thay đổi lớn trong chiến lược giải cứu, vì trong kế
hoạch ban đầu, Chính phủ vẫn hướng đến giải pháp mua lại nợ xấu ngân hàng, không
mua cổ phần .
Chúng ta biết rằng, ở Mỹ "gần như hầu hết người dân khi mua nhà là phải vay
tiền ngân hàng và trả cả lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó. Do đó, có một sự
liên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản.
Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên
cao, khi lãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy
giá nhà xuống thấp. Bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ - nền
kinh tế lúc này quả thật đang trì trệ, mục đích giảm lãi suất một phần cũng để khôi
phục nền kinh tế, tuy nhiên đằng sau vẫn còn một nguyên nhân khác nữa, cục dự trữ
liên bang Mỹ ( FED) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ
lãi suất cho vay tiền mua bất động sản (mặc dù những loại lãi suất cho vay tiền mua
nhà do các ngân hàng thương mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so với lãi suất
cơ bản của FED, nhưng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụ thuộc vào
lãi suất cơ bản). Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của FED là trên 6% nhưng sau
đó, lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%." (Báo
Thanh niên, 16/10/2008, trang 19). Việc cắt giảm lãi suất liên tục đã làm cho lạm
phát gia tăng. Do lo lắng về diễn biến lạm phát, FED bắt đầu tăng dần lãi suất, dẫn
đến việc thị trường bất động sản bắt đầu chững lại vào đầu năm 2006. Trong khi vào
giữa năm 2003 lãi suất căn bản của FED chỉ có 1% thì vào giữa năm 2006 nó đã tăng
lên đến 5,25%, bắt buộc các ngân hàng thương mại phải đẩy lãi suất cho vay tiền mua
nhà lên cao hơn nhiều nữa. Tình hình lãi suất cao đã khiến cường độ vay để mua nhà
giảm lại. Giá nhà bắt đầu trượt dốc vì cung vượt cầu. Nhiều người mua nhà giá cao
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
trước đây bắt đầu thấy giá thị trường của căn nhà đang sở hữu thấp hơn khoảng nợ
mà mình đang vay. Bên cạnh đó, rất nhiều người trong nhóm vay tiền với lãi suất
dưới chuẩn bắt đầu mất khả năng trả nợ khi lãi suất của họ bị điều chỉnh trở lại theo
lãi suất mới hiện hành khá cao. Họ muốn bán nhà để trả nợ cũng không được vì giá
nhà thấp hơn khoản nợ do thị trường tụt dốc. Hệ quả là họ đành bỏ nhà cho ngân
hàng trưng thu lại." (Báo Thanh niên, 17/10/2008, trang 13, chữ nghiêng là do tôi
viết). Cuối cùng là khủng hoảng. Còn việc nó lan sang lĩnh vực tài chính như thế nào
cũng như diễn biến hiện tại của tình hình tài chính ra sao thì đã có rất nhiều ý kiến
được đưa ra rồi, tôi không cần phải đi sâu hơn nữa. Ở đây, tuy năm 1929 khủng
hoảng bắt đầu từ ngay thị trường chứng khoán, còn hiện tại thị lại bắt nguồn từ khủng
hoảng thị trường bất động sản, nhưng chúng ta dễ dàng thấy ngay điểm chung giữa
hai cuộc khủng hoảng, đó là nó mở đầu bẳng việc hạ lãi suất cơ bản để kích thích đầu
tư.
3. Hậu quả đối với nền kinh tế thế giới
a. Thương mại toàn cầu sụt giảm
Đây là ảnh hưởng dễ nhận thấy nhất. Nếu cả sản lượng và nhu cầu của nền kinh
tế Mỹ cũng giảm, tiêu dùng tư nhân, đầu tư của các công ty và các hoạt động sản xuất
cùng sụt giảm, dẫn tới sự sụt giảm trong nhập khẩu các loại hàng hóa tiêu dùng, hàng
hóa cơ bản và các nguyên vật liệu khác từ thị trường bên ngoài.
Trong khi đó, rất nhiều nước trên thế giới coi Mỹ là thị trường xuất khẩu chính,
như Canada, Trung Quốc, Nhật Bản, Mexico, Hàn Quốc, các nước Đông Nam Á, và
coi đây là một trong những động lực tăng trưởng kinh tế. Do đó, nhu cầu sụt giảm ở
Mỹ đồng nghĩa với sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của những nước này.
Trung Quốc đặc biệt đáng lo ngại vì Mỹ là nước tiêu dùng lớn nhất thế giới còn
Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới. Nếu người Mỹ không mua, hàng
“Made in China” sẽ đi về đâu?
Trung Quốc cũng là một ví dụ rõ ràng về việc những mắt xích trong chuỗi
thương mại quốc tế sẽ chịu tác động ra sao từ sự suy thoái của Mỹ. Trước đây, các
trung tâm chế tạo của châu Á như Hàn Quốc và Đài Loan trực tiếp sản xuất hàng
thành phẩm như hàng điện tử để xuất khẩu trực tiếp sang Mỹ. Nhưng với sự nổi lên
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
của Trung Quốc trong lĩnh vực này, các nước châu Á đã chuyển sang sản xuất linh
kiện để xuất sang Trung Quốc.
Sau đó, Trung Quốc tiến hành lắp ráp rồi xuất sang Mỹ. Do đó, nhập khẩu của
Mỹ đi xuống làm xuất khẩu của Trung Quốc giảm, dẫn tới nhu cầu của Trung Quốc
đối với linh kiện do các nước châu Á khác sản xuất cũng “lao” theo.
b. Đồng USD yếu khiến mọi chuyện thêm tồi tệ
Sự suy yếu của kinh tế Mỹ và việc FED liên tiếp cắt giảm lãi suất USD đã khiến
giá trị đồng tiền này giảm mạnh so với nhiều đồng tiền khác như Euro, Yên và Won.
Đồng USD yếu sẽ thúc đẩy xuất khẩu của Mỹ, nhưng lại là cơn ác mộng đối với các
nhà xuất khẩu Đức, Nhật và Hàn Quốc - những nước vốn phụ thuộc nhiều vào xuất
khẩu sang thị trường Mỹ.
c.“Bong bóng” bất động sản sẽ nổ tung toàn cầu
Mỹ không phải là quốc gia duy nhất trên thế giới có tình trạng bong bóng xảy ra
trên thị trường bất động sản trong những năm gần đây. Hoạt động tín dụng lỏng lẻo,
mức lãi suất thấp và dài hạn cũng diễn ra ở nhiều quốc gia khác, nhất là ở châu Âu.
Mỹ không phải là nước duy nhất mà “bong bóng” bất động sản đã vỡ.
Anh, Ireland và Tây Ban Nha đi sau Mỹ có chút ít về tốc độ mất giá của nhà đất.
Các nước khác với tiềm năng bong bóng bất động sản sắp vỡ bao gồm Pháp, Hy Lạp,
Hungary, Italy, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ và các nước vùng Baltic. Tại châu Á,
những nước như Australia, Trung Quốc, New Zealand và Singapore, “bong bóng”
nhà đất đã vỡ tại một số khu vực. Đến cả Ấn Độ cũng xảy ra tình trạng bong bóng
địa ốc. Những “bong bóng” này chắc chắn sẽ vỡ một khi tình trạng tín chặt tín dụng
“châm kim” vào chúng, dẫn tới tốc độ tăng trưởng chậm chạp tại một số nước và suy
thoái tại một số nước khác.
d. Giá hàng hóa và nguyên vật liệu thô sẽ giảm
Chỉ cần nhìn vào giá dầu cao là có thể nhận thấy nhu cầu hàng hóa của thế giới
đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Tuy nhiên, tình trạng này sẽ kéo dài không
lâu. Đó là do hai đầu máy của kinh tế thế giới là Mỹ và Trung Quốc tăng trưởng
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
chậm lại sẽ kéo theo sự sụt giảm mạnh nhu cầu của các loại hàng hóa như dầu, thực
phẩm và khoáng sản.
Điều này tất yếu sẽ tác động tiêu cực tới xuất khẩu và tăng trưởng của các nước
xuất khẩu các mặt hàng này ở châu Phi, Mỹ Latin và châu Phi. Chẳng hạn, Chile là
nước xuất khẩu đồng lớn nhất thế giới, đồng từ nước này được sử dụng để làm chip
máy tính và dây điện. Nhu cầu của Mỹ và Trung Quốc giảm chắc chắn sẽ khiến giá
cả và nhu cầu đồng cùng giảm xuống, kéo theo tốc độ tăng trưởng kinh tế của Chile.
e. Niềm tin sẽ giảm mạnh
Cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn đã gây ra tình trạng thắt chặt thanh
khoản và tín dụng trên Wall Street. Tình trạng này cũng đã lan rộng ra thị trường tài
chính nhiều nước trên thế giới. Một lượng trái phiếu bất động sản chứa đựng đầy rủi
ro và nợ thế chấp của Mỹ đã được bán cho các nhà đầu tư nước ngoài. Đó là lý do tại
sao những thất thoát tài chính do tình trạng vỡ nợ tại các thành phố Mỹ như
Cleveland, Las Vegas và Pheonix lại có tác động mạnh đến Australia và châu Âu, hay
thậm chí cả những ngôi làng nhỏ ở Nauy.
Niềm tin tiêu dùng bên ngoài nước Mỹ, đặc biệt là tại châu Âu và Nhật Bản,
không bao giờ vững mạnh và sẽ trở nên yếu hơn trước những tin xấu về kinh tế Mỹ.
Những khoản thua lỗ trong hoạt động tại Mỹ cũng sẽ khiến các tập đoàn đa quốc gia
đi đến chỗ cắt giảm đầu tư vào các nhà máy không chỉ ở Mỹ mà còn nhiều nơi khác
trên thế giới. Các tập đoàn tại châu Âu sẽ chịu tác động đặc biệt lớn do họ phụ thuộc
vào các khoản vay ngân hàng nhiều hơn các doanh nghiệp Mỹ. Sự thắt chặt tín dụng
toàn cầu sẽ hạn chế khả năng của họ trong việc sản xuất, thuê nhân công và đầu tư.
Cách tốt nhất để xem cơn bão tài chính này lan rộng ra sao là theo dõi thị
trường chứng khoán toàn cầu. Các nhà đầu tư e dè hơn trước những rủi ro khi nền
kinh tế của họ có vẻ như tăng chậm lại. Do đó, bất kỳ khi nào những thông tin xấu về
kinh tế Mỹ xuất hiện, các nền kinh tế khác cũng ngay lập tức lo theo.
Một kịch bản thường gặp là các nhà đầu tư Wall Street bán tháo cổ phiếu, khiến
chỉ số Dow Jones sụt giảm và một vài giờ sau, các chỉ số chính của thị trường chứng
khoán châu Á cũng mở cửa với đường đi dốc xuống. Rồi sau đó, tình hình các thị
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
trường chứng khoán châu Âu cũng diẽn biến tương tự. Điều này có thể nhận thấy rõ
trong đợt suy giảm mạnh toàn cầu của thị trường chứng khoán tháng 1 vừa qua.
f. Các ngân hàng trung ương “bó tay”
Những người lạc quan tin tưởng rằng các ngân hàng trung ương có thể cứu thế
giới khỏi những tác động tiêu cực của tình trạng suy thoái kinh tế ở Mỹ. Như ở kỳ
suy thoái năm 2001, FED đã cắt giảm lãi suất từ 6,5% xuống còn 1%, Ngân hàng
Trung ương châu Âu (ECB) giảm lãi suất từ 4% xuống 2%, còn Ngân hàng Trung
ương Nhật (BOJ) giảm lãi suất xuống 0.
Nhưng ngày nay, khả năng của các ngân hàng trung ương trong việc sử dụng
các công cụ tiền tệ để kích thích tăng trưởng và hạn chế tác động của tình trạng kinh
tế tăng chậm lại toàn cầu đã bị hạn chế hơn trước rất nhiều. Lạm phát tăng cao tại
nhiều nước đang “bó tay” các ngân hàng trung ương.
FED sẽ còn cắt giảm lãi suất, nhưng chắc chắn sẽ lo ngại về tình trạng mất giá
liên tiếp của USD sẽ khiến các nhà đầu tư nước ngoài e ngại không muốn bỏ tiền
mua các loại trái phiếu của Mỹ. Và trong nền kinh tế toàn cầu nói chung, đồng USD
yếu cũng là một trò chơi có tổng bằng 0, đồng USD yếu sẽ có lợi xuất khẩu của nước
Mỹ, nhưng lại làm tổn thương khả năng cạnh tranh và tăng trưởng của các đối tác
thương mại của Mỹ.
Chính sách tiền tệ cũng kém tác dụng hơn vào thời điểm này vì một lý do khác.
Nguồn cung nhà cửa, xe cộ và các hàng hóa tiêu dùng khác trên thế giới nói chung
đang rất dư dả. Nhu cầu đối với những hàng hóa này đã bớt nhạy cảm hơn trước
những biến động lãi suất vì phải mất rất nhiều năm người tiêu dùng mới có thể “hút”
hết lượng hàng hóa thừa mứa này. Việc cắt giảm thuế cho dân Mỹ cũng chẳng thể
thay đổi tình huống, nhất là khi dân Mỹ đang nợ “như chúa chổm”.
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ hiện nay cũng được coi là đã vượt khỏi tầm
kiểm soát của FED. Những vấn đề mà kinh tế Mỹ đang phải đối mặt không phải là
thiếu tiền mà là những khoản nợ không trả nổi. Hàng triệu ngôi nhà đang đứng trước
nguy cơ bị tịch biên vì người sở hữu không có tiền trả nợ và hơn 100 tổ chức cho vay
cầm cố đang có nguy cơ phá sản.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
Mặt khác, không chỉ cho vay cầm cố, các ngân hàng của Mỹ còn thả cửa cho
vay để các doanh nghiệp đầu tư vào các vụ mua lại hoặc các loại tài sản địa ốc
thương mại. Do đó, nếu kinh tế Mỹ tiếp tục xấu đi, lượng vỡ nợ của các doanh
nghiệp cũng sẽ tăng vọt.
Thêm vào đó, ở Mỹ còn tồn tại một hệ thống ngân hàng “chợ đen” bao gồm
những tổ chức tài chính không phải là ngân hàng nhưng lại vay tiền ngắn hạn để cho
vay hoặc đầu tư dài hạn. Chẳng hạn, các quỹ đầu tư thị trường tiền tệ có thể bị rút
sạch vốn trong vòng một đêm, hay các quỹ phòng hộ chỉ được báo trước 1 tháng để
trả nợ. Nhiều trong số những quỹ này đã tự “trói” mình vào những loại trái phiếu có
độ rủi ro cao và dài hạn do đó họ phải đối mặt với rủi ro lớn hơn vì họ không phải là
đối tượng được nhận hỗ trợ của FED trong trường hợp xấu nhất.
Khả năng áp dụng các biện pháp kích thích tài chính của chính phủ hiện nay
cũng đã hạn chế hơn trước rất nhiều do Mỹ, Nhật và châu Âu hiện đều cùng ở trong
tình trạng thâm hụt ngân sách. Trong lần suy thoái trước, ngân sách của Mỹ đã đi từ
chỗ thặng dư 2,5% GDP vào năm 2000 đến chỗ thâm hụt 3,2% GDP vào năm 2004.
Nhưng lần này, thâm hụt ngân sách của Mỹ đã ở mức cao và Chính phủ Mỹ chỉ có
thể thực hiện kích thích tài chính bằng 1% GDP theo như đã nêu trong kế hoạch kích
thích kinh tế trọn gói mới đây của ông Bush. Tình hình ở Mỹ và châu Âu cũng tương
tự.
Vào thời điểm hiện nay, kế hoạch kích thích kinh tế này của ông Bush quá nhỏ
để có thể tạo ra một sự khác biệt lớn, và những gì mà FED đang làm là quá ít ỏi và
muộn màng. Nước Mỹ sẽ phải mất nhiều năm để giải quyết những vấn đề đã dẫn tới
cuộc khủng hoảng này. Quản lý yếu kém đối với hoạt động cho vay cầm cố, sự thiếu
minh bạch đối với những sản phẩm tài chính phức tạp, chính sách khuyến khích thiếu
hợp lý trong gói lương thưởng cho lãnh đạo các ngân hàng, quản lý rủi ro kém, đánh
giá tín dụng sai lầm… và còn rất nhiều vấn đề khác nữa.
Cuối cùng, trong thế giới phẳng ngày nay, sự phụ thuộc lẫn nhau thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế tại các quốc gia vào những thời điểm tốt đẹp. Nhưng không may,
chính những ràng buộc thương mại và tài chính này cũng đồng nghĩa với việc tăng
trưởng yếu đi ở nơi này sẽ kéo theo tăng trưởng ở những nơi khác. Không phải nước
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG - QTKD TM48C
nào cũng sẽ suy thoái cùng với Mỹ, nhưng chắc chắn không nước nào có thể “miễn
nhiễm”.
4. Tác động của suy thoái đến VIỆTNAM
Nền kinh tế Việt Nam có thể sẽ bị ảnh hưởng tới xuất khẩu và đầu tư nước
ngoài như bất cứ một quốc gia đang phát triển nào khác, nhưng hệ thống tài chính
ngân hàng Việt Nam hiện có thể đứng vững trước cơn sóng gió này.
Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tác động gián tiếp từ những diễn biến
bất lợi của thị trường tài chính thế giới đã kéo theo 3 phiên giao dịch giảm điểm liên
tiếp vào giữa tuần. Ảnh hưởng tâm lý đến nhà đầu tư Việt Nam rất hiện hữu, dù rằng
tác động rõ ràng của khủng hoảng tài chính thế giới đến Việt Nam chưa được xác
định cả trong ngắn hạn và dài hạn. Tính chung cả tuần, chỉ số VN Index mất gần 40
điểm.
Chỉ đến phiên giao dịch cuối tuần, nhờ những thông tin về việc Ngân hàng
Trung ương tại một số thị trường lớn bắt đầu vào cuộc "cứu trợ", cùng với sự bật dậy
của các thị trường lớn, thì chứng khoán Việt Nam mới bất ngờ có được phiên đảo
chiều tăng điểm ấn tượng: gần 100% mã chứng khoán tăng hết biên độ.
Trong số những tập đoàn tài chính hàng đầu của Mỹ lâm cảnh khó khăn, thì sự
việc ở tập đoàn bảo hiểm AIG được nhiều người Việt Nam quan tâm. Công ty AIG
Việt Nam đang thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với gần 300.000 khách hàng
tại Việt Nam.
Chỉ 1 ngày sau biến cố tại Mỹ, đại diện AIG Việt Nam và Bộ Tài chính đã đưa
ra những số liệu để khẳng định: Quyền lợi của tất cả các khách hàng của AIG tại Việt
Nam sẽ không thể bị ảnh hưởng.
Ông Trịnh Thanh Hoan, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm - Bộ Tài chính cho biết: "AIG
Việt Nam hoạt động tại Việt Nam với mô hình là một công ty TNHH, họ có tính độc
lập tương đối với hoạt động của tập đoàn mẹ. Chúng tôi giám sát hoạt động của các
công ty bảo hiểm nước ngoài dựa vào biên khả năng thanh toán của họ. Hiện nay,
mức bồi thường của AIG Việt Nam đang cao gấp 28 lần nếu so với biên khả năng
thanh toán. Thậm chí cả trong trường hợp AIG phá sản, thì trước tiên, mọi quyền lợi
của khách hàng trong hợp đồng chắc chắn vẫn được đảm bảo".
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét