Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014
Cải thiện môi trường sông Tô lịch
5
+ Lệ phí cao hơn một chút so với chi phí vận hành thiết bị
+ Lệ phí thay đổi theo số lượng, nồng độ và loai chất gây ơ nhiễm
được thải ra
+ Lệ phí ơ nhiễm áp dụng cho việc xả thải nước thải cơng nghiệp
đối với chất gây ơ nhiễm nhất định nào đó được tính bằng cách nhân với lượng
nồng độ chất gây ơ nhiễm vượt q tiêu chuẩn.
Malaysia một nước trong khu vực, vào giữa những năm 1979, chính phủ
Malaysia đã tiến hành áp dụng hệ thu phí đối với ngành chế biến dầu cọ thơ, chế
biến cao su tự nhiên và các hoạt động khai hoang. Hệ thống này được thiết lập
trên cơ sở các tiêu chuẩn về nồng độ cho phép trong nước thải cảu các chất gây
ơ nhiễm. Các lệ phí ấn định cho việc xả thải các chất gây ơ nhiễm ở dưới mức
tiêu chuẩn. Vượt q mức tiêu chuẩn phải bị sử phạt mức nộp lệ phí.
Còn với các quốc gia phat triển OECD áp dụng phí đánh vào nguồn gây ơ
nhiễm nước, loại phí này được áp dụng riêng khơng liên quan gì đến hệ thống
xử lí nước thải từ các nhà máy xí nghiệp. ở hầu hết các nước OECD phí sử dụng
hệ thống thốt nước thải là cơng trình cơng cộng, chịu sự quản lí và giám sát của
chính quyền địa phương. Do đó, các hộ gia đình và cơ sở sản xuất thường phải
trả lệ phí do sử dụng hệ thống cơng cộng này.
Từ kinh nghiệm, cũng như thực tế của các quốc gia đã làm trước chúng ta
có thể thấy rằng, phí bảo vệ ơ nhiễm mơi trường nói chung và phí nước thải nói
riêng được áp dụng là một thực tế khách quan và cũng là xu hướng chung và tất
yếu của thế giới
Còn với nước ta phí bảo vệ mơi trường có mục đích khuyến khích các nhà
sản xuất, kinh doanh đầu tư giảm thiểu ơ nhiễm, thay đổi hành vi ơ nhiễm theo
hướng tích cực cho mơi trường, có lợi cho mơi trường. Ngồi ra phí bảo vệ mơi
trường còn có mục đích khác là tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước để
đầu tư khắc phục và cai thiện mơi trường. Với mục đích này, phí bảo vệ mơi
trường là cơng cụ kinh tế được xây dựng trên ngun tắc “người gây ơ nhiễm
phải trả tiền đóng góp tài chính để khắc phục ơ nhiễm mơi trường và cải thiện
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
mơi trường ” và ai hưởng lợi từ việc mơi trường trong lành phải đóng phí khắc
phục ơ nhiễm.
II.1. Ngun tắc người gây ơ nhiễm phải trả tiền (PPP).
Ngun tắc này bắt nguồn từ sáng kiến do tổ chức hợp tác kinh tế và phat
triển (OECD) đề ra vào các năm 1972 và 1974. PPP qui định năm 1972 có quan
điểm những tác nhân gây ơ nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm sốt
và phòng chống ơ nhiễm. PPP năm 1974 chủ trương rằng, các tác nhân gây ơ
nhiễm thi ngồi việc tn thủ theo các chỉ tiêu đối với việc gây ơ nhiễm thì còn
phải bồi thường thiệt hại cho những người bị thiệt hại do ơ nhiễm này gây ra.
Nói tóm lại, theo ngun tắc PPP thì người gây ơ nhiễm phải chịu mọi khoản chi
phíđể thực hiện các biện pháp làm giảm ơ nhiễm do chính quyền thục hiện,
nhằm đảm bảo mơi trương ở mức chấp nhận được.
II.2. Ngun tắc người hưởng lợi phải trả tiền(BPP)
Ngun tắc BPP chủ trương rằng việc phòng ngừa ơ nhiễm và cải thiện
mơi trường cần được bảo trợ bởi những người muốn thay đổi hoặc những người
khơng phải trả giá cho việc gây ơ nhiễm. Ngun tắc BPP cũng tạo ra một khoản
thu cho nhà nước, mức phí tính theo đầu người càng cao và càng nhiều người
nộp thì số tiền thu được càng nhiều. Số tiền thu được từ BPP được thu theo
ngun tắc các cá nhân muốn bảo vệ mơi trường và những cá nhân khơng phải
trả cho việc gây ơ nhiễm nhưng khi mơi trường được cải thiện họ là những
người được hưởng lợi cần đóng góp. Tuy nhiên số tiền này khơng trực tiếp do
người hưởng lợi tự giác trả mà phải một chính sách do nhà nước ban hành qua
thuế hoặc phí buộc những người hưởng lời phải đóng góp, nên ngưn tắc BPP
chỉ khuyến khích việc bảo vệ mơi trường một cách gián tiếp.
Đây là ngun tắc có thể được sử dụng như một định hướng hỗ trợ nhằm
đạt được mục tieu mơi trường, dù đó là bảo vệ hay phục hồi mơi trường. Tuy
nhiên hiệu quả mơi trường có thể đạt được hay khơng, trên thực tế phụ thuộc
vào mức lệ phí, số người đóng góp và khả năng sủ dụng tiền hợp lí.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
III. Ngun tắc xác định phí nước thải.
Theo nghị định 67/2003/NĐ-CP của chính phủ ban hành việc thu phí
nước thải và thơng tư 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn thi hành nghị
định 67. Nghị định 67 quy định về phí bảo vệ mơi trường đối với nước thải; chế
độ thu, nộp, quản lí và sử dụng phí bảo vệ mơi trường đối với nước thải. Còn
thơng tư 125 hướng dẫn thi hành nghị định 67. trong đó quy định rõ đối tượng
phải chịu phí bảo vệ mơi trường với nước thải và cách tính phí.
Đối với nước thải cơng nghiệp cách tính phí được tính:
Số phí = tổng lượng nước thải * hàm lượng chất gây ơ nhiễm trong nước
thải(mg/l)*10
-3
* mức thu đối với chât gây ơ nhiễm ra MT(đồng/kg)
Đối với sinh hoạt:
Số phí = lượng nước sử dụng * giá bán(đồng/m
3
) * tỉ lệ thu phí(%)
Qua các văn bản pháp luật có thể thấy phí nước thải nước ta được tính dựa
vào các tiêu chí:
+ Tổng lượng thải
+ hàm lượng các chất gây ơ nhiễm có trong nước tính bằng mg/l
+ Đặc tính các chất gây ơ nhiễm. Mỗi chất gây ơ nhiễm khác nhau có
một mức thu phí tối đa và tối thiểu khác nhau, tuỳ theo mức độ độc hại của mỗi
loại chất và được quy đinh tại nghị định 67. Các chất gây ơ nhiễm chủ yếu được
qui đinh trong luật là: BOD, COD, TSS, Hg, Pb, As, Cd.
Stt
Chất gây ơ nhiễm có trong nước thải
Mức thu
(đồng/kg chất gây ơ nhiễm có trong
nước thải)
Tên hố chất Kí hiệu Tối thiểu Tối đa
1 Nhu cầu ơ xy sinh hố A
BOD
100 300
2 Nhu cầu ơ xy hố học A
COD
100 300
3 Chất rắn lơ lửng A
TSS
200 400
4 Thuỷ ngân A
Hg
10.000.000 20.000.000
5 Chì A
Pb
300.000 500.000
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
6 Arsenic A
As
600.000 1.000.000
7 Cadmium A
Cd
600.000 1.000.000
Việc thực thi phí nước thải ở nhiều nước trên thế giới đã thu được nhiều
thành tựu đáng khích lệ. Do đó việc thực thi phí nước thải với nước ta cũng có
nhiều ảnh hưởng tác động đến mơi trường nước mặt. Mà cụ thể ở đây là nước
mặt và mơi trường sơng Tơ Lịch. Nó có thể giúp mọi người nâng cao ý thức bảo
vệ mơi trường. Nhà nước và địa phương có thêm nguồn thu từ đó đầu tư trở lại
vào mơi trường nhằm bảo vệ mơi trường. Kích thích các doanh nghiệp đầu tư
vào hệ thống sử lí nước thải hoặc đổi mới cơng nghệ nhằm làm giảm lượng ơ
nhiễm, từ đó nâng cao chất lượng mơi trường.
Hiện nay tổng lượng nươc thải sinh hoạt của khu vực nội thành Hà Nội
khoảng 500.000m
3
/ngày đểm trong đó có khoảng 100.000m
3
ngày đêm là nước
thải của các cơ sở cơng nghiệp, dịch vụ, bệnh viên. tồn bộ lượng nước thải này
được tiêu thốt chủ yếu qua 4 con sơng chính cẩu thành phố là: sơng Tơ Lịch,
sơng Sét, sơng Kim Ngưu và sơng Lừ. Nước thải sinh hoạt phần lớn qua sử lí sơ
bộ tại các bể tự hoại trước khi thải vào tuyến cống chung, kênh, mương, ao, hồ.
Tuy nhiên các bể tự hoại này làm việc kém hiệu quả do xây dựng khơng đúng
quy cách, khơng hút phân cặn thường xun nên hàm lượng chất bẩn trong nước
cao, gây ảnh hưởng xấu trong chất lượng nước trong các kênh mương.
Sơng Tơ lịch là con sơng lớn nhất trong bốn con sơng tiêu thốt nước
chính của thành phố Hà Nội. Qua đánh giá thực tế ban đầu bằng việc quan sát
trực tiếp sơng, có thể nói sơng đang bị ơ nhiễm nặng dù mùa khơ hay mùa mưa.
vào những ngày nóng bức mùi từ sơng bốc lên gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới
đời sống, sức khoẻ, cũng như sản xuất của ngưòi dân hai bên bờ sơng. Khơng
những thế nó còn gây mất mĩ quan đơ thị làm giảm hình ảnh thủ đơ cũng như
mơi trường của thành phố.
Tuy nhiên với việc áp dụng phí nước thải với các cơ sở sản xuất và các hộ
gia đình, sẽ có những tác động tích cực tới mơi trường. Phí nước thải có thể
buộc các doanh nghiệp phải làm giảm lượng gây ơ nhiễm, từ đó nâng cao chất
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
lượng mơi trường. Với nguồn thu từ phí nước thải, chinh phủ có thể đầu tư trở
lại mơi trường thực hiện các cơng việc khảo sát đo đạc, lập báo cáo, thực hiện
các cơng việc quản lí cũng như các cơng trình về mơi trường. Khuyến khích các
doanh nghiệp thực hiện các biện pháp cũng như xây dựng hệ thống sử lí nước
thải, đổi mới cơng nghệ.
Song vấn đề đặt trong giai đoạn đầu của chương trình thu phí ơ nhiễm đối
với nước thải là có thể xác định phí nói trên với tất cả các cơ sở sản xuất gây ơ
nhiễm ở Hà Nội hay khơng?
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
PHẦN II. HIỆN TRẠNG Ơ NHIỄM
I. Khái qt chung
I.1. Đặc điểm tự nhiên của thành phố Hà Nội
Hà nội nằm ở 20 độ 57 phút vĩ bắc và 105 độ 35 phút – 106 độ 25 phút độ
kinh đơng. Từ bắc xuống nam dài nhất khoảng 93 km, từ đơng sang tây rộng
nhất khoảng 30 km.
Hà Nội nằm trong vùng nhiệt đới gío mùa, độ ẩm trung bình trong năm là
81-82% tháng cao nhất vào khoảng 85-86%. Nhiệt độ trung bình có chiều hướng
tăng, năm 1985 là 23,5 độ C, từ năm 1990-1995 nhiệt độ trung binh là 24 độ C (
có năm lên tới 24,1 độ C ) hàng năm bình qn có từ 8-10 cơn bão và áp thấp
nhiệt đới đi qua. Tổng lượng mưa trong năm, theo thống kê thì trong những năm
gần đây có nhiều biến động, tuy nhiên trung bình hàng năm khoảng 1500 mm.
Số ngày mưa từ 140-160 ngày trong năm.
Sơng Tơ Lịch thuộc nội thành Hà Nội, nó dài 13.5 km rộng từ 30-40m sâu
khoảng từ 3-4 m. Đầu nguồn bắt đầu từ kênh đào cũ Thụy Khê thuộc khu vực
Phan Đình Phùng. Nó qua Từ Liêm và dịa hạt quận Thanh Trì rồi cùng ba con
sơng khác chảy đổ vào sơng Nhuệ qua Đầm Thanh Liệt. Sơng được cải tạo bằng
nguồn vốn vay ODA, hai bên bờ sơng được thành phố cải tạo có xây kè đá và
các hệ thống thốt nước thải trực tiếp vào trong lòng sơng qua rất nhiều các ống
cống lớn nhỏ của các hộ dân cư và các doanh nghiệp trên địa bàn.
Tình trạng ơ nhiễm do nước thải của thành Phố Hà Nội. Nước thải của
thành phố Hà Nội thải ra hệ thống thốt nước hàng ngày khoảng 500.00m
3
ngày/đêm trong đó có khoảng 100.000 m
3
ngày/đêm là nước thải cơng nghiệp,
của các cơ sở dịch vụ và bệnh viện
Thực trạng ơ nhiễm tại sơng Tơ Lịch
Sơng Tơ Lịch là con sơng lớn nhất trong bốn con sơng và cũng là con
song bị ơ nhiễm nặng nhất, điều này được thể hiện thơng qua nước thải đổ vào
sơng Tơ Lịch mỗi ngày là 242.506m
3
ngày/đêm. Trong đó nước thải cơng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
nghiệp của các nhà máy trên địa bàn Hà Nội là 68.206m
3
ngày/đêm, ttổng lượng
nước thải của khu cục cơng cộng và bệnh viện là 43.300 m
3
ngày/dêm.
Do Hà Nội chưa có hệ thống xử lí nước thải, nên nước thải được đổ trực
tiếp qua các con sơng và qua các hồ. Mặc dù hệ thống này có khả ngăng tự làm
sạch rất lớn, nhưng do mức độ ơ nhiễm q cao đẫn tới khả năng này hầu như
khơng còn được phát huy được nữa mà một phần do tốc độ đơ thị hố q
nhanh. Năm 1996 sơng Tơ Lịch tiếp nhận chỉ khoảng 3000m
3
nước thải từ
30.000 hộ gia đình và 22000m
3
từ 33 nhà máy.
Nhìn vào bảng 1 về nồng độ một số chất ơ nhiễm có trong nước thải
Bảng 1. Tình trạng ơ nhiễm sơng Tơ Lịch
Các chỉ tiêu Vị trí Cầu Mới Vị trí Nghĩa đơ
Ph 7.7-8.2 7.5
Chất rắn lơ lửng (mg/l) 230-570 211
CDO (mg/l) 183-325 149
BOD (mg/l) 21-120 40.2
NO
3
(mg/l) 0.39 0.61
NH
4
(mg/l) 5.3-17.1 9.6
H
2
S (mg/l) 3.2
Nguồn: Đinh Văn Sâm năm 1996
Sơng Tơ lịch có độ ơ nhiễm cao như vậy có thể kể ra đây một số nguồn thải
chính là:
Bệnh viện Lao.
Bệnh viện nhi Thuỵ Điển.
Bệnh viện phụ sản.
Bệnh biện giao thơng.
Nhà máy giầy Thượng Đình.
Nhà máy cao su Sao Vàng
Nhà máy lever Haso
Nhà máy bóng đèn.
Nhà máy bia Hà Nội.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
Nhà máy Trung Kính
Nhà máy nhựa Đại kim
Nhà máy Sơn tổng hợp.
Ngồi những bệnh viện đã thống kê ở trên sơng còn tiếp nhận những
nguồn nước thả từ sinh hoạt với khối lượng nước lớn và khơng kém phần độc
hại. Phần lớn nước thải ra sơng đều khơng qua sử lí và được thải trực tiếp hoặc
gián tiếp gây làm tăng nồng độ các chất dinh dưỡng, nghiêm trọng nhất là nước
thải của các bệnh viện, nhà máy. Đây là nguồn gây ra ơ nhiễm chínhchơ nươớc
sơng, làm cho q trình xử lí sinh học bị giới hạn hoặc bị q tải và có thể bị
huỷ hoại hồn tồn do các chất hữu cơ và các chất thải cơng nghiệp độc hại. Các
chất hữu cơ như phốtpho và nitơ là lí do chủ yếu là cho nước sơng phì dinh
dưỡng.
Sự q tải của rác thải là ngun nhân chính gây ra ngăn cản dòng sơng,
làm cho lòng sơng bị thu hẹp đáng kể, tăng khả năng ngập úng, tăng lươợng bùn
đáy sơng. Mặc dù sơng đã được cải tạo bằng việc xây dựng kè đá hai bên bờ
sơng nhằm làm giảm lượng rác thải xuống sơng cũng như các loại đất đá và tạo
một cảnh quan mới cho phù hợp với sự phát triển của thành phố. Thành phố sử
dụng nguồn vốn vay ODA của Nhật Bản song vẫn chưa thấy có dấu hiệu khả
quan nào đối với mơi trường tại sơng Tơ Lịch, đặc biệt khi sơng nằm trong lòng
thủ Đơ Hà Nội và nó sẽ gây ảnh hưởng đến hình ảnh một thủ đơ tươi đẹp của
nước ta, hướng tới văn minh hiện đại. Việc ơ nhiễm của sơng Tơ Lịch gây ảnh
hưởng nghiêm trọng khơng chỉ tới dân cư sống hai bên bờ sơng mà con gây ảnh
hưởng tới các khu vực xung quanh, khi mà ỏ hai bên bờ sơng có nhều trưòng
học và một số bệnh viện và đây cũng là một điểm có giao thơng đi lại với cường
độ lớn của thành phố.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
Bảng 2: Tình trạng ơ nhiễm sơng tơ lịch năm 1999-2000 tại Cầu Mới
Chỉ tiêu đơn vị 1999 2000
TCVN5942-
1995B
DO mg/l 1.78 0.4 >=2
BOD
5
mg/l 18.5 27 <25
COD mg/l 36.8 89 <35
SS mg/l 47 36.8 80
NH
4
+
mg/l - 27 1
Coli-form PC/100ml - 49.10
5
10000
Do đặc điểm khí hậu miền Bắc là nhiệt đới gió mùa một năm chia làm hai
mùa rõ rệt mùa khơ và mùa mưa. vào mùa mưa lượng mưa tuơng đối lớn, trong
khi đó mùa khơ hạn chế hơn. Do đó lượng nước sơng Tơ Lịch thay đổi theo
mùa. Vì vậy có sự chênh lệch nồng độ các chất ơ nhiễm có trong nước.
Bảng 2. Chất lượng nước sơng Tơ Lịch theo hai mùa.
Chất lượng nước sơng Tơ Lịch tại cống Bưởi
Các chỉ tiêu (mg/l) Mùa mưa Mùa khơ
PH 8.5 8.8
BOD 15.5 18.88
COD 31.2 34
SS 28 38
NO
3
-
0.25 0.45
NH
4
2.33 6.7
Nguồn: Cơng ty tư vấn xây dựng Hà Nội.
Qua số liệu của bảng trên ta có thể nhận thấy:
a) Về mùa khơ, nước sơng bị ơ nhiễm nặng. Hàm lượng BOD và COD
đều vượt q chỉ tiêu cho phép, BOD đo dược khoảng 25 mg/ldến 30 mg/l. hàm
lượng các chất hữu cơ NO
3
-
đều vượt q tiêu chuẩn cho phép, sơng ln ở tình
trạng thừa dinh dưỡng. Do tập tính lâu đời mà cư dân hai bên dòng sơng thường
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
vất rác xuống lòng sơng, nước sơng có màu đen, mùi hơi đặc biệt vào những
ngày nắng nóng, rác và rau bèo hai bên bờ sơng ngăn cản dòng sơng chảy.
b) về mùa mưa nước sơng chảy mạnh hơn, lưu tốc độ dòng chảy tăng do
ảnh hưởng của nước mưa đã pha lỗng. Song có một thực tế qua phân tích và
nghiên cứu nguồn nước của sơng cho thấy nước sơng Tơ Lịch chủ yếu là nước
thải do tốc độ dòng chảy chậm và tại đầu nguồn của sơng tại khu vực đường
Hồng Quốc Việt cho thấy đầu nguồn của sơng khơng hề bắt nguồn từ bất cứ
nguồn nước nào của thành phố, mà nguồn nước của sơng chủ yếu từ các nguồn
nước thải chưa qua sử lí đổ trực tiếp vào sơng tạo thành một hệ thống hình thành
nguồn nước cho sơng Tơ Lịch.
II.2. Ngun nhân gây ơ nhiễm.
Thành phố Hà Nội trong nhiều năm qua khơng chỉ là một địa phương có
tốc độ phát triển kinh tế cao của đất nước và con là thành phố trong điểm của
miền Bắc trong việc phát triển kinh tế. Chính vì vậy trong nhiều năm qua đã có
rất nhiều nhà máy, các cơng ty, các khu cơng nghiệp đã mọc lên ở trong thành
phố và đi cùng với sự phát triển ấy là kèm theo các vấn đề về mơi trường.
Dân số của Hà Nội mấy năm vừa qua tăng khá nhanh chủ yếu là tăng cơ
học do những người ngoại tỉnh đổ xơ về đây tìm việc làm đặc biệt là những lúc
nơng nhàn. vì vậy mà thành phố đã đầu tư nhiều cho hệ thống cấp thốt nước
của thành phố mà vẫn khơng sao đáp ủng nổi nhu cầu về nước sạch của người
đân đặc biệt trong những tháng hè. Thành phố hàng ngày tiêu thụ một lượng
nước khá lớn khoảng 500.000m
3
ngày/đêm và cũng sẽ có khoảng gần ngần ấy
nước được thải ra mơi trường. Sơng Tơ Lịch là con sơng chứa nước thải lớn nhất
của thành phố, chính vì vậy mà lượng nước thải đổ vào sơng hàng ngày là rất
lớn, ngồi ra đây cũng là nơi tập trung dân cư khá đơng đúc của thành phố Hà
Nội. Tại hai quận Thanh Xn và quận Cầu Giấy nơi đây tập trung khá nhiều cơ
sở sản xuất của quốc doanh lãn ngồi quốc doanh. Đặc biệt ở quận cầu Giấy có
khu cơng nghiệp Thượng Đình đây là một nguồn gây ơ nhiễm lớn khi mà khu
cơng nghiệp này hàng ngày thải một lượng lớn nước thải vào sơng. Khơng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét