Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Khảo sát hiện trạng nuôi tâm sú thâm canh tại Bến tre

Download » Agriviet.com
5
2.3.2 Phân bố

Trên thế giới: tôm sú phân bố rộng ở các thủy vực thuộc vùng nhiệt đới, tập
trung ở Ấn Độ – Tây Thái Bình Dương, Đông và Đông Nam Châu Phi từ Pakistan đến
Nhật Bản, từ quần đảo Malaysia đến Bắc Australia. Đặc biệt, phân bố tập trung ở vùng
Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippin và Việt Nam.

Ở Việt Nam: tôm sú phân bố ở ba miền: miền Nam, miền Trung và miền Bắc
tập trung nhiều nhất là ở vùng Duyên Hải miền Trung.

2.3.3 Tập tính sống

Tôm sú sống chủ yếu ở vùng nước lợ và ở vùng cửa sông ven biển, tôm có tập
tính sống đáy nơi có bùn cát. Thường hoạt động bắt mồi vào ban đêm và có tập tính là
lột xác để trưởng thành.

2.3.4 Chu kỳ sống

Các giai đoạn phát triển ấu trùng tôm sú:

Nauplli: Gồm 6 giai đoạn, các Nauplli bơi từng đoạn ngắn rồi nghó, lột vỏ 4 lần
mỗi lần khoảng 7 giờ, chúng tự sống bằng noãn hoàng không cần cho ăn.

Zoea: Gồm 3 giai đoạn, các Zoea bơi liên tục gần mặt nước, lột vỏ 2 lần, mỗi lần
khoảng 36 giờ, ăn thực vật phiêu sinh.

Mysis: Gồm 3 giai đoạn, các Mysis bơi hướng xuống sâu, đuôi đi trước đầu đi
sau.

+ M1: dài khoảng 3,4mm, có hình dạng của tôm trưởng thành, xuất hiện
các cặp chân bụng, đuôi và quạt đuôi, các gai bụng thu nhỏ lại.

+ M2: dài khoảng 4,0mm.

+ M3: dài khoảng 4,4mm, chân bụng dài hơn, phân thành đốt nhỏ xuất
hiện răng trên chủy.

Postlarvae: Giai đoạn hậu ấu trùng, thời kỳ này bắt đầu đặc trưng của sự chín bộ
phận sinh dục.

Juvenile: Giai đoạn ấu niên, thời kỳ này bộ phận sinh dục đã chín hoàn toàn, tôm
sống ở ngoài khơi.


Download » Agriviet.com
6
2.3.5 Đặc điểm dinh dưỡng

Tôm sú là loại ăn tạp, thích ăn các động vật sống và di chuyển chậm hơn là xác
thối rửa hay mảnh vụn hữu cơ, đặc biệt rất ưa ăn giáp xác, thực vật dưới nước, mảnh
vụn hữu, cơ giun nhiều tơ, loại hai mảnh vỏ và côn trùng. Tôm sống ngoài tự nhiên đa
phần là ăn giáp xác, cua nhỏ, động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ và một số ít thì ăn cá,
giun nhiều tơ và mảnh vụn hữu cơ. Tôm hoạt động bắt mồi nhiều vào sáng sớm và chiều
tối, thời gian tiêu hóa trong dạ dày của tôm khoãng 4 – 5 giờ.

2.3.6 Tốc độ tăng trưởng

Tôm sú có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong các loại tôm nuôi và có kích
thước lớn nhất trong họ tôm he.

Nếu nuôi trong điều kiện thích hợp thì tôm sú sẻ đạt trọng lượng trung bình từ 33
– 40 con/kg trong thời gian từ 3 – 4 tháng nuôi. Trong quá trình tăng trưởng, khi trọng
lượng và kích thước tăng lên ở một mức độ nhất đònh thì tôm phải lột bỏ lớp vỏ cũ để
lớn lên, sự lột xác trong vòng đời của tôm xảy ra với tần suất cao trong giai đoạn ấu
trùng và giảm dần sau đó. Sau 10 tháng tuổi tôm đạt tuổi trưởng thành và có thể sinh
sản được.

2.3.7 Đặc điểm sinh sản

Tôm ở ngoài tự nhiên khi đạt đến tuổi trưởng thành thì bắt đầu di cư ra ngoài
biển để tìm bãi đẻ, khi tìm được bãi đẻ phù hợp với đặc tính của tôm thì tôm cái sẽ đẻ
trứng. Tôm thường đẻ trứng vào ban đêm lúc gần về sáng, số lượng trứng đẻ còn phụ
thuộc vào kích thước và trọng lượng của tôm mẹ. Sức sinh sản của tôm sú ngoài tự
nhiên khoảng 200.000 – 1.200.000 trứng/con tôm mẹ. Trứng sau khi đẻ sẽ nở thành ấu
trùng và phát triển qua các giai đoạn: Nauplius, Zoea, Mysis, Poslarvae, tôm giống, tôm
giống trưởng thành và trưởng thành. Ngoài tự nhiên tôm sú đẻ tập trung vào hai thời kỳ
chính: vào tháng 3 – 4 và từ tháng 7 – 10 hàng năm.








2.3.8 Sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường

2.3.8.1 Yếu tố vật lý

a. Nhiệt độ
Download » Agriviet.com
7

Tôm sú là loài động vật rất nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ của môi trường.
Tôm thích nghi và tăng trưởng rất mạnh ở nhiệt độ nước dao động từ 25 – 30
0
C. Nếu
nhiệt độ nước nhỏ hơn 23
0
C và cao hơn 32
0
C sẽ gây ảnh hưởng lớn đến khả năng bắt
mồi làm cho quá trình trao đổi chất bò chậm lại, giảm khả năng điều hòa áp suất thẩm
thấu của tôm và làm cho tốc độ tăng trưởng của tôm phát triển chậm lại.

b. Độ mặn

Tôm sú là một loài rộng muối, sống được ở độ mặn 1 – 2
0
/
00
và cả ở biển. Tôm
thích hợp nhất cho sự tăng trưởng ở độ mặn từ 15 – 20
0
/
00
. Độ mặn làm ảnh hưởng trực
tiếp đến quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu của tôm.

c. Độ trong

Qua độ trong có thể đánh giá được tình trạng ao để có biện pháp xữ lý thích hợp.
Độ trong thích hợp trong ao nuôi tôm là 30cm – 40cm. Các nguyên tố ảnh hưởng đến độ
trong là sinh vật nổi, mùn bã hữu cơ trong nước, bùn cát và một số vật khác. Nếu độ
trong cao hơn 50cm sẽ làm giảm khả năng bắt mồi của tôm dẫn đến tôm chậm lớn còn
độ trong thấp hơn 2cm thì sẽ làm giảm khả năng chống lại bệnh tật của tôm.

2.3.8.2 Yếu tố hóa học

a. Oxy

Oxy hòa tan là một yếu tố môi trường quan trọng nhất trong quá trình nuôi tôm,
hàm lượng oxy hòa tan thích hợp nhất cho tôm nuôi từ 4 – 8mg/L.

Ở nồng độ oxy hòa tan < 4mg/L làm cho tôm kém bắt mồi, cơ thể chúng tiêu hóa
thức ăn kém hiệu quả và khả năng suất hiện bệnh tăng cao hơn bình thường. Khi oxy
giảm dưới ngưỡng cho phép trong ao nuôi thì lúc đó tôm sẽ tập trung vào bờ và trên mặt
nước để tìm oxy, khi có các khí độc như H
2
S thì xảy ra hiện tượng chết ngạt.

Tuy nhiên, lượng oxy hòa tan cao hơn ngưỡng cho phép cũng gây nguy hiểm vì
oxy hòa tan vượt quá nhu cầu tôm sẽ hô hấp ít đi và lượng CO
2
hình thành và tích tụ
trong máu cao làm cho khả năng vận chuyển đi khắp cơ thể dẫn đến tôm chậm phát
triển, có thể chết.

b. Độ pH

Độ pH của nước trong ao nuôi là chỉ tiêu quan trọng thứ hai sau độ oxy hòa tan,
độ pH gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước trong ao nuôi. Độ pH tốt nhất từ 7,5
– 8,5 và dao động không quá 0,5 trong ngày là phù hợp với tập tính thích nghi của tôm
giúp cho tôm phát triển tốt. Trong khi đó độ pH > 9 làm tăng độc tính của NH
3

Download » Agriviet.com
8
(Ammonia) và pH < 5 thì độc H
2
S (Hydrosunlfua) tăng. Với độ pH từ 7,5 – 8,5 thì sẽ
khống chế được các khí độc NH
3
, H
2
S bộc phát trong ao nuôi.

c. Độ kiềm

Độ kiềm có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì hệ đệm và làm giảm sự biến
động của pH trong ao nuôi. Ở nước mặn và lợ độ kiềm từ 100 – 120ppm là tốt nhất cho
ao nuôi.

d. Ammonia (NH
3
)

Tôm sú là loài sống đáy nên nền đáy ao ảnh hưởng rất lớn đến tôm nuôi. Các
chất hữu cơ do nguồn nước đưa vào, thức ăn thừa và các chất thải của tôm, sự phân hủy
các chất thải trên làm tiêu hao oxy và nguy hiểm hơn là sinh ra khí độc NH
3
. Trong môi
trường nước NH
3
tồn tại dưới hai dạng: NH
3
và dạng ion NH
4
+
.

Khi NH
3
trong nước tăng sẽ cản trở sự bài tiết NH
3
từ trong máu của tôm ra môi
trường nước bên ngoài. Làm lượng NH
3
và pH trong máu tăng làm ảnh hưởng xấu đến
các phản ứng xúc tác của emzyme và tính ổn đònh của màng tế bào. Khí NH
3
làm hư
mang, gan và làm giảm khả năng vận chuyển oxy của máu, làm tăng lượng oxy tiêu thụ
ở các mô do vậy tôm đòi hỏi lượng oxy cao hơn từ đó làm tôm kém ăn và giảm sức đề
kháng.

e. Hydrosulfua(H
2
S)

Khí H
2
S là sản phẩm của quá trình trao đổi chất, phân hủy của protein và quá
trình khử các khoáng chất lưu quỳnh. Khi H
2
S trong môi trường nước phụ thuộc vào pH
của nước, khi pH tăng thì H
2
S giảm, khi pH giảm thì H
2
S tăng. H
2
S > 0,03mg/L sẽ gây
độc hại cho tôm.

Các chất hữu cơ tích tụ ở đáy ao lâu ngày sẽ có màu đen đặc thù. Lớp đáy này
sinh ra hàm lượng khí H
2
S, NH
3
có mùi hôi thối cao, các khí độc này phát tán vào nước
ở mặt trên của đáy ao làm giảm lượng oxy và pH trong môi trường nuôi.




2.3.9 Một số bệnh thường gặp trong quá trình nuôi tôm

2.3.9.1 Bệnh do virus

Tôm là loài động vật rất nhạy cảm trong quá trình nuôi. Các loại bệnh do virus
gây ra làm tôm dễ chết nhất là virus gây bệnh gan tụy, bệnh đầu vàng, bệnh đốm trắng,
… những bệnh này chưa có thuốc trò chỉ phòng bệnh là chính và dễ dàng lây nhiễm từ
Download » Agriviet.com
9
các sinh vật trung gian như nguồn tôm giống và vật nuôi, … để phòng ngừa các bệnh
này thì khâu chuẩn bò ao phải thật tốt, môi trường nước không bò ô nhiễm kiểm tra con
giống kỷ trước khi thả.

2.3.9.2 Bệnh do vi khuẩn

Những bệnh do vi khuẩn gây ra đa số thuộc nhóm vi khuẩn Vibrio nhóm vi khuẩn
này gây bệnh trên mang, vỏ và tôm thường dễ nhiễm bệnh khi các yếu tố thủy lý hóa
thay đổi khác nhau. Nhóm vi khuẩn này thường có trong ao nuôi như một quần thể tự
nhiên rất khó xác đònh loài nào của Vibrio gây bệnh. Vì vậy khi nuôi ta phải thường xử
lý để phòng bệnh và khi phát hiện chúng ta nên kết hợp với điều trò bằng thuốc.

2.3.9.3 Bệnh do sinh vật bám

Đây là loại bệnh rất phổ biến thường xảy ra do sự phát triển của sinh vật, sự tích
tụ của các chất vô cơ và hữu cơ trên bề mặt cơ thể tôm hay còn là bệnh đóng rong. Tôm
khó có thể vận chuyển, hô hấp và gây trở ngại cho sự lột xác của tôm hiện tượng này
xảy ra khi sức khỏe tôm yếu do bất cứ lý do nào.

Phải cải tạo và tẩy dọn ao thật tốt khi thả nuôi phải tạo điều kiện thích hợp cho
tôm hoạt động và lột xác. Đối với tôm bò bệnh do sinh vật bám khi đã cải thiện môi
trường nước mà bệnh vẫn kéo dài thì nên xử lý bằng hóa chất chuyên dùng.

2.4 Điều Kiện Tự Nhiên và Kinh Tế – Xã Hội

2.4.1 Điều kiện tự nhiên

2.4.1.1 Vò trí đòa lý

Huyện Ba Tri nằm ở phía Đông Nam của thò xã Bến Tre, nằm ở phía Đông của
Cù Lao Bảo có vò trí đòa lí là 10
0
46

– 10
0
27

vó độ Bắc và 106
0
28

– 106
0
41

kinh Đông.

Phía Đông và Đông Bắc giáp sông Ba Lai, đây là ranh giới tiếp giáp giữa hai
huyện Bình Đại và Ba Tri. Phía Đông giáp biển Đông. Phía Tây và Tây Nam giáp sông
Hàm Luông là ranh giới giữa hai huyện Ba Tri và Thạnh Phú. Phía Tây và Tây Bắc giáp
với huyện Giồng Trôm.

Với vò trí đòa lý như trên huyện Ba Tri nằm trong khu vực trọng điểm kinh tế của
tỉnh Bến Tre. Tuyến Quốc lộ 60 từ Tiền Giang qua Bến Tre khi cầu Rạch Miễu làm
xong sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc phát triển ngành công nghiệp trong huyện,
đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận nhanh những tiến bộ khoa học
kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp và mở rộng thò trường tiêu thụ nông sản mà đặc
biệt là thủy hải sản tươi sống.

Download » Agriviet.com
10
2.4.1.2 Đòa hình

Huyện Ba Tri nằm trong khu vực tương đối thấp của tỉnh Bến Tre. Đòa hình của
huyện bằng phẳng mang đặc điểm chung của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long do gần
biển nên đòa hình ở đây hơi nghiêng về phía biển Đông. Độ cao trung bình so với mặt
nước biển của huyện từ 0,75 – 1,00m. Cũng do gần biển nên trên đòa bàn của huyện có
nhiều hệ thống đê bao cùng với nhiều hệ thống kênh rạch dày đặc nên bề mặt của
huyện bò chia cắt khá mạnh. Với đòa hình như trên đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho sản
xuất nông nghiệp đặc biệt là trồng lúa và nuôi trồng thủy hải sản.

2.4.1.3 Khí hậu

a. Nhiệt độ

Do huyện nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa của tỉnh Bến Tre thuộc Đồng
Bằng Sông Cửu Long và chòu ảnh hưởng của biển nên nhiệt độ cao và khá ổn đònh.

+ Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27,2
0
C.
+ Nhiệt độ cao nhất là 36,28
0
C.
+ Nhiệt độ thấp nhất là 18,5
0
C.

Biên độ chênh lệch giữa ban ngày và ban đêm là 10
0
C.

b
.
Lượng mưa – bốc hơi


Lượng mưa trung bình hàng năm của huyện Ba Tri vào khoảng 1.371,5mm và tập
trung vào các tháng 5 – 11 và bò ngắt quảng bởi thời gian hạn “Bà Chằn” vào cuối tháng
7 và đầu tháng 8. Trong khi đó lượng bốc hơi bình quân là 1.632mm lượng bức xạ cao
159 Kcal/cm
2
, khiến đất bò kiệt nước trong mùa khô làm tăng độ phèn mặn, khoáng hóa
kéo dài thời gian mặn ở một số xã. Lượng mưa ngày cao nhất đã xuất hiện ở khu vực
huyện là khoảng 168mm/ngày.


c. Chế độ gió

Huyện Ba Tri trong năm có hai mùa mưa và khô rõ rệt:

+ Mùa mưa: thường bắt đầu từ tháng 5 – 11, hướng gió thònh hành là gió Tây
Nam, sức gió cấp 3 – 4 từ tháng 5 – 9.

+ Mùa khô: bắt đầu từ tháng 12 – 4 năm sau hướng gió thònh hành là Bắc đến
Đông Bắc sức gió cấp hai.

Download » Agriviet.com
11
Đặc biệt trong các tháng 2 - 3 có gió chướng hướng gió gần như song song với
sông cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông đã đưa nước mặn vào sâu trong nội đồng. Vào cuối
mùa mưa gió chướng thường kết hợp với triều cường gây ra hiện tượng nước dâng cao
dọc theo bờ biển Ba Tri gây tràn bờ đê có cao trình thấp.

d. Độ ẩm

Độ ẩm của huyện Ba Tri liên quan chặt chẽ đến chế độ mưa trong năm. Trong
mùa mưa độ ẩm cao, từ 83 – 90%, mùa khô thấp từ 75 – 85%, độ ẩm không khí trung
bình là 79%. Với độ ẩm như trên thì huyện rất phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp
và nuôi trồng thủy sản.

Bảng 2.1 Các chỉ tiêu khí hậu của huyện

Yếu tố Đơn vò tính TB năm
Nhiệt độ không khí
0
C
+ Cao nhất “ 36,28
+ Thấp nhất “ 18,5
+ Trung bình “ 27,2
Lượng mưa mm 1.371,5
Lượng bốc hơi “ 1.632
Độ ẩm % 79
0

(Nguồn: Phòng Thủy sản huyện Ba Tri, 2004)

2.4.1.4 Nguồn nước thủy văn

Ba Tri là huyện ven biển Đông chòu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều, biên
độ dao động từ 1,2 – 2,4m. Nguồn nước của huyện chủ yếu được cung cấp từ hai con
sông lớn là sông Ba Lai (phía Đông Bắc) và sông Hàm Luông (phía Tây Nam) với hệ
thống chi lưu gồm 50 sông rạch ăn sâu vào trong nội đồng. Tổng chiều dài hệ thống
sông rạch tự nhiên lớn khoảng 128km.

Nước trên sông Ba Lai bò nhiễm mặn sớm khoảng tháng 3 – 4 , nước sông Hàm
Luông bò nhiễm mặn trể hơn trong khoảng tháng 4 – 5 với hệ thống sông ngòi trên rất
thuận lợi cho giao thông thủy, làm muối, nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ và hệ thống
cấp thoát nước. Nhưng bất lợi cho giao thông đường bộ, sản xuất nông nghiệp và sinh
hoạt của dân cư.

2.4.1.5 Thổ nhưỡng

Thổ nhưỡng của huyện Ba Tri chia làm hai nhóm chính: đất giồng cát và đất mặn
có tầng sinh phèn tiềm tàng sâu. Bên cạnh còn có nhóm đất phù sa và đất phù sa nhiễm
mặn.
Download » Agriviet.com
12

2.4.2 Hiện trạng kinh tế – xã hội

2.4.2.1 Cơ cấu hành chính

Huyện Ba Tri có tất cả 23 đơn vò cấp xã, một thò trấn Ba Tri với 107 ấp, khóm.

2.4.2.2 Diện tích

Huyện Ba Tri có tổng diện tích: 35.541,95ha, trong đó:

+ Diện tích đất nông nghiệp: 25.308,90ha
+ Diện tích đất lâm nghiệp: 670,83ha
+ Diện tích đất chuyên dùng: 4.389,02ha
+ Diện tích đất ở: 996,16ha
+ Diện tích đất chưa sử dụng.177,04ha

2.4.2.3 Dân số

Theo niên giám thống kê năm 2001 của cục thống kê tỉnh Bến Tre, tháng 5/2002,
hiện nay diện tích tự nhiên của huyện Ba Tri 355km
2
, dân số năm 2000 là 129.828
người, mật độ dân số 560 người/km
2
.

2.4.2.4 Tình hình lao động

Năm 2002 huyện Ba Tri có khoảng 10.000 người tham gia lao động trong ngành
thủy sản. Trong đó lao động nuôi trồng thủy sản có 3.100 người, số lao động nuôi trồng
thủy sản chủ yếu tập trung ở các xã ven biển.

Đa phần lực lượng lao động nuôi trồng thủy sản ở các hộ nuôi nắm kỹ thuật nuôi
ở mức độ trung bình, các hộ nuôi cũng đã tham gia các lớp tập huấn khuyến ngư của
huyện và tỉnh tổ chức, tuy nhiên cũng còn hạn chế trong tiếp thu các kiến thức.

2.4.3 Cơ sở hạ tầng

2.4.3.1 Hệ thống thủy lợi

Hệ thống thủy lợi huyện Ba Tri được đầu tư khá hoàn chỉnh nhưng chủ yếu phục
vụ cho nông nghiệp. Đối với vùng nuôi trồng thủy sản mặn, lợ hệ thống thủy lợi chưa
được đầu tư phát triển đúng mức chủ yếu là dựa vào tự nhiên là chính. Một số tuyến
kênh mương cũng đã được đầu tư nạo vét, đào mới theo yêu cầu của thủy sản nhưng
vẫn còn rất manh mún chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của diện tích nuôi. Hai
công trình quan trọng nhất trên đòa bàn huyện có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động nuôi
Download » Agriviet.com
13
trồng thủy sản là cống đập Ba Lai và hệ thống đê biển đã hoàn thành và đưa vào sử
dụng.

Tổng diện tích tự nhiên 5.540ha đưa vào qui hoạch nuôi trồng thuỷ sản tập trung
của huyện nằm trong các xã: Tân Xuân, Bảo Thạnh, Bảo Thuận, Tân Thuỷ, An Thủy,
An Hoà Tây, Vónh An, An Hiệp có chiều dài kênh rạch là 122km đạt mật độ là
0,022km/ha nhưng phân bố không đều.

2.4.3.2 Hệ thống giao thông

Hệ thống giao thông đường bộ của huyện Ba Tri phát triển đều khắp. Tổng chiều
dài đường bộ chưa kể đường thôn xóm là 174,5 km trong đó tổng chiều dài đường bộ
tính đến ngày 31/12/2001 mới chỉ có 6,18% tráng nhựa, 22,4% trải sỏi đỏ và 71,42% còn
lại là đường đất chỉ thông xe tốt vào mùa khô. Trên hệ thống giao thông đường bộ có 45
cầu dài 907m, giao thông đường thủy đây là thế mạnh của huyện với 114 km đường
sông. Ngoài ra Ba Tri còn có 12km bờ biển và rất nhiều kênh rạch tạo thành mạng lưới
giao thông thủy rất thuận lợi.

Nhìn chung, giao thông ở các vùng nuôi không được thuận lợi lắm, đường giao
thông chỉ tập trung ở các khu vực trung tâm, khu dân cư và trên giồng cát. Trong những
vùng nuôi tôm thì hệ thống giao thông rất thiếu có nhiều nơi chỉ đi lại bằng đường thủy.

2.4.3.3 Hệ thống điện

Đến năm 2000 điện lưới quốc gia đã phủ khắp 23/23 xã, thò trấn. Trong đó có
25.918 hộ sử dụng điện chiếm 65,27% số hộ trong toàn huyện.Trên cơ sở các hệ thống
mạng lưới điện của đòa phương, trong quá trình phát triển nuôi trồng thủy sản thâm canh
sẽ phải đầu tư thêm đường dây vào vùng nuôi và khu vực sản xuất giống.




2.5 Hiện Trạng và Kế Hoạch Phát Triển Nuôi Trồng Thủy Sản Huyện Ba Tri

2.5.1 Hiện trạng nuôi trồng thủy sản

Huyện ba Tri là nơi có ưu thế về diện tích phát triển nuôi trồng thủy sản nhất là
nuôi các đối tượng thủy sản nước lợ và mặn. Trong đó việc đầu tư phát triển ngành nuôi
trồng thủy sản của huyện nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất và nước góp phần cải tạo bộ
mặt kinh tế – xã hội huyện là đònh hướng đúng đắn.

Nghề nuôi thủy sản đang từng bước phát triển theo chiều sâu đặc biệt là vài năm
gần đây các mô hình nuôi tôm trong ruộng lúa, mô hình nuôi tôm bán thâm canh và
Download » Agriviet.com
14
thâm canh đạt hiệu quả cao, mô hình hợp tác kinh tế phát triển mạnh mẽ từ đó thúc đẩy
mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất.

Mặc dù huyện ba Tri là một trong những huyện có tiềm năng về diện tích đất
nuôi trồng thủy sản lớn, nhưng muốn tận dụng tiềm năng có sẵn này để sản xuất ra sản
phẩm có hiệu quả, giá trò cao về mặt kinh tế không phải dễ dàng. Việc tổ chức nuôi và
kinh doanh thủy sản tổng hợp trên tất cả diện tích mặt nước của huyện đòi hỏi phải có
thời gian và sự phối hợp nhiều mặt của nhiều ngành, nhiều cấp tạo điều kiện cho dân
thực hiện.

Diện tích nuôi trồng thủy sản nhiều, nhưng diện tích mặt nước hữu ích chỉ chiếm
từ 25 – 60% tùy theo loại mô hình nuôi. Mô hình nuôi thủy sản hiện nay đa số là quảng
canh truyền thống có thả thêm giống, đại bộ phận những người nuôi còn ít điều kiện
tiếp cận những khoa học kỹ thuật cơ bản về những đối tượng mà mình nuôi.

Nghề nuôi trồng thủy sản của huyện Ba Tri giai đoạn 1997 – 2002 chủ yếu do
nhân dân đảm nhận, phát triển chưa đúng quy hoạch điều chỉnh. Tỉnh đã có mạng lưới
dự báo và kiểm dòch phòng chống bệnh nuôi thủy sản nhưng lực lượng này còn rất
mõng.

Cơ sở hạ tầng phục vụ thủy sản mặc dù được quan tâm nhưng vẫn chưa đáp ứng
được nhu cầu sản xuất. Đa số diện tích nuôi tôm sú chưa có hệ thống cấp thoát nước
riêng biệt, nên nước cấp vào và thoát ra lẫn lộn giữa các diện tích nuôi khác nhau.

Công tác phòng trừ dòch bệnh còn gặp nhiều khó khăn, chất lượng con giống
phần lớn là chất lượng kém mà đa phần giống được di nhập từ các tỉnh và đòa phương
khác về. Trong khi đó năng lực sản xuất giống tại đòa phương còn hạn chế chỉ đáp ứng
khoảng 10 – 15% nên cũng phần nào khó khăn trong sản xuất giống tại đòa phương.

Thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy sản chủ yếu sử dụng thức ăn công nghiệp ở
hình thức nuôi bán thâm canh và thâm canh, tuy nhiên do hạn chế hiểu biết về kỹ thuật
nên một bộ phận không nhỏ các hộ nuôi thủy sản về công tác chăm sóc, cho ăn còn tùy
tiện và chưa được kiểm soát chặt chẻ ảnh hưởng phần nào đến hiệu quả nuôi.

Lao động nuôi trồng thủy sản của huyện Ba Tri tuy dồi dào về lực lượng, nhưng
trong đó không ít những người nuôi thuỷ sản chưa nắm chặt chẻ về kỹ thuật nuôi của
từng mô hình nuôi, từng đối tượng nuôi chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm bản thân.

Để nghề nuôi thủy sản được ổn đònh về năng suất và sản lượng thì việc nâng
cao trình độ hiểu biết về kỹ thuật của người nuôi tôm là việc làm rất cần thiết. Trung
Tâm Khuyến Ngư tỉnh phối với Phòng Thủy Sản huyện thường xuyên tổ chức các lớp
tập huấn để phổ biến công nghệ kỹ thuật mới để người dân kòp thời nắm bắt và đưa vào
sản xuất.( Phòng Thủy Sản huyện Ba Tri, 2004)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét