MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU.
II. NỘI DUNG CHÍNH.
1. Khái quát chung về BPNC tạm giam.
1.1.Khái niệm.
1.2.Ý nghiã.
2. BPNC tạm giam theo quy định của pháp luật TTHSVN hiện hành.
2.1.Đối tượng bị tạm giam.
2.2.Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.
2.3.Thẩm quyền ra lệnh tạm giam.
2.4.Thủ tục tạm giam.
2.5.Thời hạn tạm giam.
2.6.Một số quy định chung khác về tạm giam.
3. Thực trạng tình hình tạm giam, những bất cập, tồn tại, nguyên nhân và giải
pháp.
3.1.Thực trạng.
3.1.1. Những kết quả đạt được.
3.1.2. Những khó khăn, bất cập.
3.2.Nguyên nhân của những khó khăn, bất cập.
3.3.Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC tạm giam.
III. KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Một số cụm từ viết tắt.
BPNC : Biện pháp ngăn chặn BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự
VKS : Viện kiểm sát CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng
CQĐT: Cơ quan điều tra TA : Tòa án
BÀI LÀM
I. MỞ ĐẦU.
Trong hệ thống các BPNC được quy định trong BLTTHS, tạm giam là BPNC có tính
cưỡng chế nghiêm khắc nhất và có tầm quan trọng đặc biệt. Việc áp dụng BPNC này
tạo điều kiện thuận lợi cho các CQTHTT trong việc giải quyết các vụ án, ngăn chặn
bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên thực tế cho thấy việc áp dụng
chế định tạm giam còn nhiều vướng mắc cần được tháo gỡ, khắc phục. Nhận thức
1
được ý nghĩa và tầm quan trọng của chế định tạm giam trong TTHS cùng với mong
muốn tìm hiểu thêm vấn đề này, em đã chọn để tài: “Tạm giam trong tố tụng hình sự
và việc hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp này”.
II. NỘI DUNG CHÍNH.
1. Khái quát chung về BPNC tạm giam.
1.1. Khái niệm.
Căn cứ vào Điều 88 BLTTHS 2003 có thể đưa ra khái niệm về BPNC tạm giam như
sau: Tạm giam là BPNC do CQĐT, VKS hoặc Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo phạm
tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai
năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét
xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội và người phạm tội quả tang bị bắt trong trường hợp
khẩn cấp nhằm mục đích ngăn chặn bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra,
truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
1.2. Ý nghĩa.
Với ý nghĩa là một BPNC, tạm giam có ý nghĩa rất lớn trong việc đấu tranh phòng và
chống các loại tội phạm cũng như việc bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công
dân. Cụ thể:
Thứ nhất, tạm giam góp phần nâng cao hiệu lực quản lí nhà nước, củng cố tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự kiên quyết của nhà nước trong việc đấu
tranh phòng chống tội phạm. Với việc áp dụng biện pháp tạm giam sẽ đảm bảo cho
trật tự xã hội được ổn định, pháp luật được giữ vững, chế độ xã hội chủ nghĩa được
bảo vệ, các quyền cũng như lợi ích hợp pháp của công dân được tôn trọng.
Thứ hai, tạm giam là biện pháp hữu hiệu bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án đạt hiệu quả cao nhất. Bởi đây là biện pháp đảm bảo sự có mặt của
bị can, bị cáo theo Giấy triệu tập của CQTHTT, đảm bảo sự chính xác, khách quan
của hoạt động tố tụng, ngăn ngừa các đối tượng tiếp tục phạm tội hoặc tìm cách xóa
bỏ dấu vết phạm tội, chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án. Ngoài ra, tạm giam còn
đảm bảo cho việc thi hành án đúng pháp luật và hiệu lực của bản án đã được tuyên.
Thứ ba, tạm giam tạo cơ sở pháp lí vững chắc nhằm đảm bảo sự tôn trọng các quyền
cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Đảm bảo không một
công dân nào có thể bị tạm giam trái pháp luật, khi bị áp dụng biện pháp tạm giam
không đúng luật định công dân có quyền khiếu nại đến các chủ thể có thẩm quyền.
Thứ tư, tạm giam thể hiện tính ưu việt của nhà nước ta. Đó là biện pháp đảm bảo cho
mọi công dân được sống trong một xã hội mà quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi
người được tôn trọng và bảo vệ, tránh được sự tấn công xâm hại từ phía các đối
tượng nhất định, bảo đảm cho mọi người dân yên tâm sinh sống, học tập, làm việc,
tham gia vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả cao nhất.
2
2. BPNC tạm giam theo quy định của pháp luật TTHSVN hiện hành.
2.1. Đối tượng bị tạm giam.
Khoản 1 Điều 88 BLTTHS quy định: “1. Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị
can, bị cáo trong những trường hợp sau đây:
a) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;
b) Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS
quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn
hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội”.
Theo quy định trên thì đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam chỉ có thể là
bị can, bị cáo. Bị can là những người đã bị khởi tố về hình sự (khoản 1 Điều 49
BLTTHS 2003), tức là những người đã có quyết định khởi tố bị can về một tội phạm
cụ thể trong BLHS. Còn bị cáo là những người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử
(khoản 1 Điều 50 BLTTHS 2003). Tuy nhiên không phải tất cả bị can, bị cáo đều bị
áp dụng biện pháp tạm giam mà chỉ áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ trong hai
trường hợp sau:
- Trường hợp thứ nhất: Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất
nghiêm trọng. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn
cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm
tù, tù chung thân hoặc tử hình; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại
rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười
lăm năm tù (khoản 3 Điều 8 BLHS 1999). Nếu bị can, bị cáo thuộc những trường hợp
này, những người có thẩm quyền ra lệnh tạm giam có thể tạm giam ngay mà không
cần có thêm căn cứ khác.
- Trường hợp thứ hai: Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng
mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể
trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Theo quy
định của BLTTHS, tạm giam chỉ áp dụng đối với những bị can, bị cáo phạm tội ít
nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm. Đối với bị can, bị cáo
phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù từ hai năm trở xuống hoặc
hình phạt khác không phải là hình phạt tù thì không bị áp dụng BPNCTG. Nếu cần
thiết, CQTHTT có thể áp dụng BPNC khác như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt
tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Trong trường hợp bị can, bị cáo phạm tội
nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định tù trên hai năm, để tạm
giam họ cần phải có thêm điều kiện thứ hai, đó là có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo có
thể bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Để có thể xác định được thế nào là có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo có thể bỏ trốn
hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội, chúng ta phải căn cứ
3
vào nhân thân bị can, bị cáo, thái độ của họ sau khi phạm tội hoặc những vi phạm
nghĩa vụ của bị can, bị cáo khi được áp dụng BPNC khác ít nghiêm khắc.
Thể hiện tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa khoản 2 Điều 88 BLTTHS 2003 quy
định những trường hợp không áp dụng BPNC tạm giam bao gồm:
+) Bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi;
+) Bị can, bị cáo là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng.
Tuy vậy những đối tượng này có thể bị áp dụng BPNC tạm giam trong những trường
hợp đặc biệt đó là:
+) Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã;
+) Bị can, bị cáo được áp dụng BPNC khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây
cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử;
+) Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu
không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
Với quy định này, BLTTHS ở nước ta đã thể hiện khá rõ nguyên tắc nhân đạo xã hội
chủ nghĩa, tôn trọng quyền con người, bảo vệ quyền trẻ em. Với điều kiện sinh hoạt
trong các trại giam thì không thể đảm bảo những nhu cầu thiết yếu của phụ nữ mang
thai, phụ nữ nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, người già yếu và người bị bệnh
nặng. Hơn nữa trong những trường hợp này thì bị can, bị cáo đã có nơi cư trú rõ ràng,
nếu họ không thuộc các trường hợp đặc biệt kể trên, các CQTHTT có thể áp dụng
BPNC khác để đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của
CQTHTT.
2.2. Căn cứ áp dụng BPNC tạm giam.
BLTTHS 2003 không trực tiếp quy định các căn cứ áp dụng BPNC tạm giam mà chỉ
quy định các căn cứ áp dụng BPNC nói chung. Điều 79 BLTTHS 2003 quy định các
căn cứ áp dụng BPNC bao gồm:
- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm.
- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy
tố, xét xử.
- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội.
- Để đảm bảo thi hành án.
Trong số các căn cứ áp dụng BPNC kể trên, căn cứ “để kịp thời ngăn chặn tội phạm”
chỉ áp dụng cho các trường hợp bắt người phạm tội quả tang theo khoản 1 Điều 82
hoặc bắt người trong trường hợp khẩn cấp theo điểm a khoản 1 Điều 81 BLTTHS
nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, không để tội phạm xảy ra hay không để
người phạm tội kết thúc hành vi phạm tội của mình, gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã
hội. Căn cứ này không thể là căn cứ áp dụng BPNC tạm giam vì đối tượng áp dụng
BPNC tạm giam là bị can, bị cáo, hành vi phạm tội của họ là hành vi đã được thực
hiện trong quá khứ. Căn cứ áp dụng BPNC tạm giam bao gồm:
4
+) Căn cứ thứ nhất: Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử.
Hành vi gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thể hiện qua việc sau
khi thực hiện hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm có thể bỏ trốn, tiêu hủy,
làm giả hoặc thay đổi chứng cứ, xóa các dấu vết của vụ án, bàn bạc nhau trốn tránh
pháp luật, mua chuộc, dụ dỗ, cưỡng ép, khống chế người làm chứng, người bị hại…
gây khó khăn phức tạp cho việc xác định, làm rõ sự thật khách quan vụ án. Trong các
giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử có thể áp dụng căn cứ này để tạm giam.
+) Căn cứ thứ hai: Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội.
Căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội có thể được thể hiện qua các yếu
tố phản ánh về nhân thân của các bị can, bị cáo: bị can, bị cáo là những phần tử xấu,
tái phạm, tái phạm nguy hiểm, là những tên tội phạm có tính chất chuyên nghiệp,
những tên côn đồ hung hãn coi thường pháp luật; bị can, bị cáo có hành vi đe dọa trả
thù người làm chứng, người bị hại và sự đe dọa đó có khả năng trở thành hiện thực.
+) Căn cứ thứ ba: Để đảm bảo thi hành án.
Khi cần bảo đảm thi hành án, tùy theo tính chất cụ thể của từng vụ án, tùy theo nhân
thân của người bị kết án, Tòa án có thể áp dụng BPNC thích hợp trong đó Tòa án có
thể sử dụng BPNC tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án, còn nếu
có đủ cơ sở cho rằng bị cáo sẽ không bỏ trốn, không gây cản trở khó khăn cho việc
thi hành án thì không cần áp dụng BPNC tạm giam mà chỉ cần áp dụng các BPNC
khác ít nghiêm khắc hơn.
2.3. Thẩm quyền ra lệnh tạm giam.
Khoản 3 Điều 88 BLTTHS 2003 quy định: “Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt
được quy định tại Điều 80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giam. Lệnh tạm giam
của những người này được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải
được Viện kiểm sát cúng cấp phê chuẩn trước khi thi hành”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 80 BLTTHS 2003, những người sau đây có quyền ra
lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
- Viện trưởng, Phó viện trưởng VKSND và VKSQS các cấp;
- Chánh án, Phó chánh án TAND và TAQS các cấp;
- Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó chánh tòa phúc thẩm TANDTC; Hội
đồng xét xử;
- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các cấp. trong trường hợp này, lệnh tạm
giam phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
Như vậy, thẩm quyền áp dụng BPNC tạm giam được quy định cho nhiều cơ quan với
nhiều chủ thể khác nhau tùy thuộc vào các giai đoạn tố tụng. VKS với chức năng là
cơ quan kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ kiểm tra, giám sát hoạt động này, đặc biệt
5
với lệnh tạm giam của thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các cấp phải được VKS
cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
2.4. Thủ tục tạm giam.
Với tính chất là BPNC nghiêm khắc nhất, hạn chế tự do của người bị áp dụng trong
một khoảng thời gian nhất định, vì vậy việc áp dụng BPNC tạm giam cần phải tuân
theo một trình tự, thủ tục rất chặt chẽ.
Theo quy định của BLTTHS 2003 thì việc tạm giam bị can, bị cáo phải có lệnh tạm
giam. Lệnh này phải do những người có thẩm quyền kí. Lệnh tạm giam phải ghi rõ
ngày, tháng, năm; họ tên, chức cụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị tạm
giam; lí do tạm giam, thời hạn tạm giam và giao cho người bị tạm giam một bản.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 88 BLTTHS lệnh tạm giam của CQĐT phải được
Viện trưởng VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
Tạm giam không chỉ hạn chế quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do và
danh dự của công dân mà còn ảnh hưởng đến cả nhân thân của họ. Chính vì vậy, sau
khi ra lệnh tạm giam cơ quan đã ra lệnh tạm giam cần phải thông báo ngay cho gia
đình người bị tạm giam và cho cơ quan chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ
quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú, làm việc biết. Bên cạnh đó, khi tiến hành
tạm giam một người cần phải đảm bảo các thủ tục liên quan khác như: thực hiện việc
chăm nom người thân thích, bảo quản tài sản của người bị tạm giam (Điều 90
BLTTHS 2003).
2.5. Thời hạn tạm giam.
Trong BLTTHS 2003 thời hạn tạm giam không được quy định tập trung ở một điều
luật mà được quy định theo từng giai đoạn của quá trình tố tụng. Cụ thể:
- Thời hạn tạm giam để điều tra.
Điều 120 BLTTHS 2003 quy định thời hạn tạm giam để điều tra không quá 2 tháng
đối với tội ít nghiêm trọng, không quá 3 tháng đối với tội nghiêm trọng, không quá 4
tháng đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp vụ án có
nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không
có căn cứ để thay đổi, hủy bỏ BPNC tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết
thời hạn tạm giam, CQĐT phải có văn bản đề nghị VKS gia hạn tạm giam. Việc gia
hạn tạm giam được quy định như sau: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được
gia hạn tạm giam một lần không quá 1 tháng. Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể
được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá 2 tháng và lần thứ hai không
quá 1 tháng. Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần,
lần thứ nhất không quá 3 tháng, lần thứ hai không quá 2 tháng. Đối với tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần, mỗi lần không quá 4 tháng.
6
Như vậy, đối với tội phạm ít nghiêm trọng thời hạn tạm giam để điều tra tối đa có thể
là 3 tháng, đối với tội phạm nghiêm trọng tối đa có thể là 6 tháng, đối với tội phạm
rất nghiêm trọng tối đa có thể là 9 tháng, còn đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
tối đa có thể lên đến 16 tháng. Riêng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trong
trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam lần thứ hai quy định tại điểm 3 khoản 3 Điều
120 đã hết và vụ án có nhiều tình tiết phức tạp mà không có căn cứ để thay đổi hoặc
hủy bỏ BPNC tạm giam thì Viện trưởng VKSNDTC có thể gia hạn tạm giam lần thứ
ba. Trường hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng
VKSNDTC có quyền gia hạn thêm một lần nữa không quá 4 tháng (Khoản 5 Điều
120). So sánh thời hạn tạm giam để điều tra (quy định tại Điều 120) với thời hạn điều
tra (quy định tại Điều 119) thì thời hạn tạm giam để điều tra bằng với thời hạn điều
tra còn thời hạn gia hạn tam giam để điều tra đối với các tội ít nghiêm trọng, nghiêm
trọng và rất nghiêm trọng ngắn hơn thời hạn gia hạn để điều tra. Với quy định này
nhà làm luật nhằm mục đích hạn chế việc lạm dụng gia hạn tạm giam, đồng thời còn
có ý nghĩa trong việc đảm bảo CQĐT cần phải đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án,
nếu không thời hạn tạm giam với bị can sẽ hết mặc dù thời hạn điều tra vẫn còn.
- Thời hạn tạm giam để truy tố.
Khoản 2 Điều 166 BLTTHS 2003 quy định: “Thời hạn tạm giam không được quá
thời hạn quy định tại Khoản 1 Điều này”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 166: Trong
thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày
đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày
nhận được hồ sơ vụ án và kết luận điều tra, VKS phải ra một trong các quyết định
sau: quyết định truy tố bị can ra trước Tòa bằng bản cáo trạng; quyết định trả hồ sơ
để điều tra bổ sung; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Trong trường hợp
cần thiết, Viện trưởng VKS có thể gia hạn tạm giam nhưng không quá 10 ngày đối
với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá 15 ngày đối với
tội phạm rất nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng.
Như vậy, thời hạn tạm giam để truy tố đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm
nghiêm trọng tối đa có thể lên đến 30 ngày, đối với tội phạm rất nghiêm trọng tối đa
có thể lên đến 45 ngày, còn đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thời hạn tạm
giam để truy tố tối đa có thể lên đến 60 ngày.
- Thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm.
Điều 177 BLTTHS 2003 quy định: “Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không
được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 176 của Bộ luật này”. Theo quy
định tại Điều 176, thời hạn chuẩn bị xét xử là 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm
trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 2 tháng đối với tội phạm rất nghiêm
7
trọng, 3 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án.
Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn nhưng
không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, không
quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì thời hạn tạm giam để mở phiên tòa là từ
15 đến 30 ngày. Ngoài ra, đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa
thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần thiết thì Tòa án có thể ra lệnh tạm giam
cho đến khi kết thúc phiên tòa.
Như vậy, thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử tối đa (kể cả gia hạn) là 75 ngày đối
với tội phạm ít nghiêm trọng, 90 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 120 ngày đối
với tội phạm rất nghiêm trọng và đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì thời hạn
này có thể lên đến 150 ngày.
- Thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm.
Điều 243 BLTTHS quy định: sau khi nhận hồ sơ vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm có
quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ BPNC. Việc áp dụng, thay đổi
hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó chánh án Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, tòa án quân sự cấp quân khu, Chánh tòa, Phó chánh tòa phúc thẩm TANDTC
quyết định. Thời hạn tạm giam không được quá thời hạn xét xử phúc thẩm quy định
tại Điều 242 Bộ luật này.
Theo quy định tại Điều 242 BLTTHS 2003, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án quân sự
cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 16 ngày; tòa phúc thẩm
TANDTC, tòa án quân sự trung ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 90
ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.
- Thời hạn tạm giam để đảm bảo thi hành án.
Ngay sau khi xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm, HĐXX có thể quyết định việc tạm
giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án. Đối với giai đoạn XXST, Điều 288
BLTTHS quy định: Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà bị phạt tù nhưng đến ngày
kết thúc phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết thì HĐXX ra quyết định tạm giam bị cáo
để đảm bảo cho việc thi hành án. Trong trường hợp bị cáo không bị tạm giam thì
HĐXX có thể ra quyết định bắt tạm giam ngay bị cáo nếu có căn cứ cho thấy bị cáo
có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội. Thời hạn tạm giam bị cáo là 45 ngày, kể từ ngày
tuyên án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, theo quy định tại Điều 243 BLTTHS 2003, nếu bị cáo đang
bị tạm giam, bị xử phạt tù mà đến ngày kết thúc phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết
thì HĐXX ra quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án, thời hạn tạm
giam là 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
2.6. Một số quy định chung khác về tạm giam.
8
+) Về chế độ tạm giam.
Tạm giam là BPNC được áp dụng để đảm bảo cho hoạt động của các CQTHTT và
không để cho người phạm tội có điều kiện thực hiện tội phạm. BPNC này không phải
là hình phạt đối với người phạm tội, do đó “chế độ tạm giữ, tạm giam khác với chế
độ đối với người đang chấp hành hình phạt tù” (Điều 89 BLTTHS).
Ngày 7/11/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/NĐ-CP về quy chế tạm giữ,
tạm giam. Nghị định này thay thế Nghị định 149-HĐBT ngày 5/5/1992 của HĐBT
(nay là Chính phủ) về chế độ tạm giữ, tạm giam. Sự ra đời của Nghị định 89 có ý
nghĩa quan trọng, thể hiện sự tiến bộ trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm
và vi phạm pháp luật.
+) Về chế độ thăm nom người thân và bảo quản tài sản của người bị tạm giam.
Theo Điều 90 BLTTHS quy định chế độ thăm nom người thân và bảo quản tài sản
của người bị tạm giam là một điểm tiến bộ, thể hiện chính sách nhân đạo của nhà
nước ta tạo điều kiện cho người bị tạm giam yên tâm, tháo gỡ được những vướng
mắc về tư tưởng trong một phạm vi nhất định, để họ có thể được thực hiện đúng
quyền và nghĩa vụ của mình trong thời gian bị tạm giam. Nội dung quy định này như
sau:
“ 1. Khi người bị tạm giữ, tạm giam có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc có
người thân thích là người tàn tật, già yếu mà không có người chăm sóc, thì cơ quan ra
quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam giao những người đó cho người thân thích chăm
nom. Trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam không có người thân thích thì cơ
quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam giao những người đó cho chính quyền sở
tại chăm nom. 2. Trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam có nhà hoặc tài sản
khác mà không có người trông nom, bảo quản thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh
tạm giam phải áp dụng những biện pháp trông nom, bảo quản thích đáng”.
+) Việc khấu trừ thời hạn tạm giam vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Theo Điều 33 BLHS năm 1999, thời hạn tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành
hình phạt tù, cứ mỗi ngày tạm giam bằng một ngày tù. Quy định này không chỉ áp
dụng đối với người bị tạm giam liên tục cho đến khi xét xử mà còn áp dụng đối với
cả những người bị áp dụng BPNC khác sau một thời gian bị tạm giam. Những hình
phạt khác không phải là hình phạt tù có thời hạn như cảnh cáo, phạt tiền hoặc tử hình
thì không áp dụng quy định này mặc dù trước đó họ có bị tạm giam. Riêng hình phạt
cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỉ luật của quân đội và hình phạt tù
chung thân thì thời hạn tạm giam sẽ được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
+) Về quyền của người bị tạm giam.
Theo quy định của BLTTHS 2003 đối tượng có thể áp dụng BPNC tạm giam là bị
can, bị cáo, người đã bị kết án phạt tù hoặc tử hình bỏ trốn bị bắt để tạm giam.
9
Khi bị tạm giam bị can, bị cáo có đầy đủ quyền của bị can, bị cáo được quy định tại
Điều 49, Điều 50 BLTTHS và khi họ là người bị kết án đang chờ thi hành hình phạt
tù họ có các quyền được quy định tại Điều 260 BLTTHS 2003.
3. Thực trạng tình hình tạm giam, những bất cập, tồn tại, nguyên nhân và
giải pháp.
3.1. Thực trạng.
3.1.1. Những kết quả đạt được.
Có thể nói việc áp dụng BPNC tạm giam trong TTHS đã góp phần mang lại hiệu quả
rất lớn trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta trong thời gian qua.
Hàng loạt vụ án đã được khám phá nhanh chóng, kịp thời đáp ứng nhiệm vụ giữ gìn
trật tự, an toàn xã hội, các quyền và lợi ích của nhân dân được tôn trọng và bảo vệ.
Biện pháp tạm giam là BPNC tác động trực tiếp đến quyền nhân thân của công dân
nên khi áp dụng biện pháp này các cơ quan có thẩm quyền luôn chú trọng tuân thủ
những quy định của pháp luật nhằm bảo vệ một cách tốt nhất các quyền và lợi ích
hợp pháp của bị can, bị cáo. Thực tiễn cho thấy đại đa số các trường hợp tạm giam là
có căn cứ, đúng pháp luật, tình trạng tạm giam quá thời hạn đã từng bước được khắc
phục. Những trường hợp không cần thiết phải tạm giam các CQTHTT đã mạnh dạn
áp dụng các BPNC khác như: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản
có giá trị để bảo đảm.
Theo báo cáo tổng kết của VKSNDTC năm 2009 toàn quốc có 135.012 người bị tạm
giam, tăng 21,6% so với cùng kì năm 2008. Các CQTHTT đã giải quyết 98.709
trường hợp. Trả tự do cho 1442 người vì thời hạn tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn
tạm giam. VKS không phê chuẩn lệnh bắt tạm giam của CQĐT 178 trường hợp và
không phê chuẩn lệnh tạm giam 190 trường hợp. Nhìn chung việc phê chuẩn hoặc
không phê chuẩn lệnh tạm giam, lệnh bắt để tạm giam của VKS là có căn cứ và đúng
pháp luật. Việc thực hiện chế độ sinh hoạt và khám chữa bệnh đối với người bị tạm
giam trong thời gian qua được đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
3.1.2. Những tồn tại, bất cập.
Ở mỗi giai đoạn TTHS BPNC tạm giam được các CQTHTT áp dụng nhằm mục đích
đảm bảo cho việc hoàn thành chức năng nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên trên thực tế,
việc áp dụng BPNC tạm giam trong các giai đoạn tố tụng đôi khi còn gặp những khó
khăn, vướng mắc cần được khắc phục. Cụ thể là:
+) Vướng mắc trong căn cứ tạm giam đối với bị can, bị cáo chưa thành niên quy định
tại khoản 2 Điều 303 BLTTHS 2003.
Khoản 2 Điều 303 BLTTHS 2003 quy định: “ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 80, 81, 82,
86, 88 và Điều 120 của Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội
nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm
10
trọng”. Như vậy, trường hợp người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm
trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý thì không thể áp dụng BPNC tạm
giam đối với họ vì bất cứ lí do gì.
Trên thực tế, số người vị thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ngày càng gia
tăng, các đối tượng này chủ yếu phạm những tội ít nghiêm trọng; nhiều trường hợp bị
can, bị cáo từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng được tại ngoại đã bỏ
trốn nhiều lần và bị bắt theo lệnh truy nã, khi CQĐT, TA trao đổi để áp dụng biện
pháp tạm giam đối với họ thì VKS không biết xử lí như thế nào, vì theo quy định tại
khoản 2 Điều 303 BLTTHS thì không có căn cứ để áp dụng BPNC tạm giam.
+) Vướng mắc trong quy định về thẩm quyền áp dụng BPNC tạm giam.
Khoản 3 Điều 88 BLTTHS 2003 quy định: “Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt
được quy định tại Điều 80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giam. Lệnh tạm giam
của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải
được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành”. Dẫn chiếu sang quy định tại khoản
1 Điều 80 cho thấy ở giai đoạn điều tra Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các cấp có
quyền ra lệnh tạm giam, tuy nhiên lệnh tạm giam đó phải được VKS phê chuẩn trước
khi thi hành. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, việc quyết định, hủy bỏ, thay thế
BPNC tạm giam; quyết định việc gia hạn tạm giam cũng đều thuộc thẩm quyền của
VKS, CQĐT chỉ có quyền đề nghị. Như vậy, việc quy định cho CQĐT thẩm quyền
áp dụng BPNC tạm giam ở giai đoạn điều tra chỉ mang tính hình thức, còn trên thực
tế việc áp dụng, thay thế, hủy bỏ BPNC tạm giam do VKS quyết định.
+) Về trách nhiệm của người đề xuất, người ra lệnh và người phê chuẩn lệnh TG.
Có thể hiểu rằng, quan hệ giữa Thủ trưởng CQĐT và Điều tra viên là quan hệ chỉ huy
phục tùng. Sau khi khởi tố vụ án, thủ trưởng CQĐT có thể trực tiếp tiến hành điều tra
hoặc quyết định phân công cho điều tra viên điều tra vụ án. Khi được phân công điều
tra, điều tra viên có quyền tiến hành các biện pháp điều tra do BLTTHS quy định,
còn việc áp dụng biện pháp tạm giam điều tra viên chỉ có quyền đề xuất. Thủ trưởng
CQĐT kí lệnh tạm giam và VKS phê chuẩn. Trong trường hợp việc tạm giam là trái
pháp luật thì ai là người phải chịu trách nhiệm: điều tra viên, thủ trưởng CQĐT? Nếu
việc tạm giam sau đó lại được VKS phê chuẩn thì người phê chuẩn đó có phải chịu
trách nhiệm không?
Trên thực tế, lệnh tạm giam cần phải có sự phê chuẩn của VKS thường được phê
chuẩn cùng ngày ra lệnh, nhưng vẫn có những trường hợp phê chuẩn sau ngày bắt bị
can, bị cáo để tạm giam. Theo quy định tại khoản 3 Điều 88 BLTTHS, trong thời hạn
3 ngày, kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn, hồ sơ và tài liệu
liên quan đến việc tạm giam, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê
chuẩn. Với vụ án đơn giản, tài liệu không nhiều thì VKS có thể xem xét phê chuẩn
ngay trong ngày. Song trên thực tế không ít vụ việc phức tạp, nhiều tài liệu hồ sơ, đòi
11
hỏi VKS phải có thời gian nghiên cứu để xem xét có phê chuẩn hay không. Ngoài ra,
không loại trừ VKS vì lí do nào đó chậm trễ trong việc phê chuẩn dẫn đến bị can
trốn, tiêu hủy chứng cứ, gây khó khăn cho công tác điều tra. Trong trường hợp đó
VKS có phải chịu trách nhiệm về việc chậm trễ phê chuẩn hay không? Nếu có thì đó
là trách nhiệm gì?
* Những vi phạm pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
+) Tình trạng tạm giam quá thời hạn.
Theo quy định của BLTTHS, thời hạn tạm giam được xác định cụ thể ở từng giai
đoạn tố tụng. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn khá nhiều trường hợp tạm giam quá hạn,
nhất là ở giai đoạn điều tra đối với một số vụ án có nhiều tình tiết phức tạp và có
nhiều bị can. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của người bị tạm giam, gây
mất lòng tin của quần chúng nhân dân vào cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng
biện pháp tạm giam.
+) Những vi phạm về chế độ tạm giam.
Do điều kiện trại giam nhiều nơi đang còn chật hẹp, tình hình tội phạm gia tăng, thực
tế vẫn còn xảy ra tình trạng vi phạm về diện tích tối thiểu cho người bị tạm giam;
công tác quản lí trại giam còn chưa tốt nên vẫn còn xảy ra tình trạng đánh nhau và bỏ
trốn khỏi trại giam.
Hiện tượng cán bộ trại giam và cán bộ điều tra có những hành động như đánh đập, ép
cung đối với bị can bị tạm giam cũng là một trong những vấn đề gây bức xúc trong
nhân dân hiện nay, có rất nhiều trường hợp người bị tạm giam đã chết trong trại giam
mà nguyên nhân của những cái chết này có liên quan đến vấn đề bị đánh đập, tra tấn
như trường hợp cái chết của anh Nguyễn Quốc Bảo tại Công an quận Hai Bà Trưng,
Hà Nội được báo pháp luật đưa tin ngày 29/03/2010.
+) Vi phạm về đối tượng bị áp dụng BPNC tạm giam như tạm giam đối với phụ nữ
có thai hay người bị bệnh nặng mặc dù không thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại
khoản 2 Điều 88 BLTTHS. Ví dụ như trường hợp “Vụ án cổ phiếu chứng khoán giả
ở Hải Phòng” được báo Tiền phong đưa tin ngày 23/4/2007. Trong vụ án, bị cáo
Hương là người đã mang thai, theo quy định tại Điều 88 BLTTHS năm 20003 thì bị
cáo Hương không bị áp dụng BPNC tạm giam nhưng trên thực tế bị cáo vẫn bị tạm
giam.
3.2. Nguyên nhân của những khó khăn, bất cập.
+) Nguyên nhân khách quan.
Thứ nhất, về công tác xây dựng pháp luật: BLTTHS 2003 ra đời đánh dấu bước phát
triển mới về kĩ thuật lập pháp nói chung đồng thời dần hoàn thiện các quy định về
chế định tạm giam nói riêng. Tuy nhiên, việc áp dụng BPNC này trên thực tế hiện
nay vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc mà nguyên nhân chủ yếu là do các quy định
của pháp luật tố tụng về BPNCTG còn có những hạn chế nhất định. Cụ thể như khái
niệm BPNCTG hiện nay vẫn chưa được đề cập đến trong BLTTHS 2003 dẫn đến có
12
nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này. Vấn đề đối tượng áp dụng BPNCTG luật
vẫn chưa dự liệu hết. Hiện nay, BLTTHS chỉ quy định đối tượng bị áp dụng
BPNCTG là bị can, bị cáo (Điều 88 BLTTHS) nhưng thực tế những đối tượng không
phải là bị can, bị cáo nhưng vẫn phải áp dụng BPNCTG đó là những đối tượng bị
tuyên án phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình đã hết thời hạn tạm giam và chưa
được thi hành ngay thì phải tạm giam để chờ thi hành án (Điều 288, Điều 243
BLTTHS). Vì thế, khi xây dựng khái niệm BPNC tạm giam trong tố tụng hình sự cần
thiết phải ghi nhận nhóm đối tượng này. Việc bắt giam bị cáo ngay tại phiên tòa sau
khi tuyên án hiện nay chưa có quy định cụ thể là phải có lệnh tạm giam mà chỉ nêu
chung chung trong phần quyết định của bản án dẫn đến nhiều khó khăn, vướng mắc
trong việc áp dụng quy định này trên thực tế.
Thứ hai, những điều kiện cần thiết đảm bảo cho công tác tạm giam chưa được chú
trọng đúng mức, điều kiện cơ sở vật chất tại các trại giam còn thiếu thốn, xuống cấp
trầm trọng, kinh phí để sửa chữa xây dựng còn rất hạn hẹp nên vấn đề nâng cao chất
lượng sống và sinh hoạt cho người bị tạm giam còn gặp rất nhiều khó khăn.
+) Nguyên nhân chủ quan.
Thứ nhất, các CQTHTT, người THTT chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của
việc quy định cũng như áp dụng áp dụng BPNC tạm giam dẫn đến áp dụng biện pháp
này một cách thiếu căn cứ, trái pháp luật. Năng lực của người THTT còn có những
hạn chế nhất định cần khắc phục, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ chưa
cao, nặng về trấn áp, xem nhẹ quyền tự do, dân chủ của công dân.
Thứ hai, công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tạm giam ở nhiều
địa phương chưa được kiểm tra thường xuyên, đều khắp nên chưa phát hiện và kịp
thời có những biện pháp khắc phục những biểu hiện vi phạm. Sự phối hợp giữa các
CQTHTT cũng như với những người có trách nhiệm trong công tác quản lí người bị
tạm giam chưa chặt chẽ, linh hoạt. Cá biệt có nơi còn xảy ra tình trạng đùn đẩy hồ sơ
giữa các CQTHTT. Một bộ phận cán bộ trực tiếp làm công tác quản lí, theo dõi người
bị tạm giam còn thiếu trách nhiệm, lơ là trong công tác để xảy ra nhiều trường hợp
người bị tạm giam bỏ trốn hoặc bị chết do đánh nhau. Nhiều trại tạm giam chưa ban
hành quy chế tạm giam làm cơ sở cho việc quản lí giam giữ.
3.3. Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC tạm giam.
Việc quy định và áp dụng BPNC tạm giam trong thời gian qua cho thấy BPNC tạm
giam đã mang lại những kết quả rất khả quan, góp phần to lớn trong công cuộc đấu
tranh phòng, chống tội phạm song cũng đã bộc lộ những yếu kém, vướng mắc, bất
cập cần được tháo gỡ. Qua việc phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về
BPNC tạm giam, từ những tồn tại, bất cập và những nguyên nhân dẫn đến những tồn
tại, bất cập đó em xin đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của chế
13
định tạm giam, góp phần nâng cao hiệu quả của việc áp dụng BPNC tạm giam. Cụ
thể:
+) Kiến nghị về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTHS về BPNCTG.
Thứ nhất là trong BLTTHS hiện hành chưa có quy định về khái niệm BPNC tạm
giam. Tại Điều 88 BLTTHS 2003 mới chỉ nêu ra được đối tượng bị áp dụng BPNC
tạm giam, do vậy có thể đưa khái niệm BPNC tạm giam vào khoản 1 Điều 88
BLTTHS 2003 như sau: “Điều 88. Tạm giam.
1. Tạm giam là BPNC do CQĐT,VKS hoặc Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo
phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt
tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc
điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội; người phạm tội quả tang
bị bắt trong trường hợp khẩn cấp và người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù
chung thân đang trong thời gian chờ thi hành án nhằm mục đích ngăn chặn
người đó bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc có
thể tiếp tục phạm tội.
2. …”
Thứ hai, cần quy định cụ thể các căn cứ áp dụng BPNC tạm giam đối với người chưa
thành niên. Về nguyên tắc, người phạm tội đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy
định tại Điều 12 BLHS thì đều có thể áp dụng BPNC tạm giam.
Thứ ba là việc bắt giam bị cáo ngay tại phiên tòa cần có quy định theo hướng là phải
có lệnh tạm giam vì nếu chỉ tuyên trong phần quyết định của bản án thì không thể
tiếp tục tạm giam bị cáo, do bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, chưa được
đem ra thi hành, trừ trường hợp bản án được đem ra thi hành ngay theo quy định tại
khoản 2 Điều 255 BLTTHS.
Thứ tư là vấn đề phê chuẩn lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam thì BLTTHS nên quy
định các mức thời hạn phê chuẩn lệnh của VKS theo từng loại vụ án đơn giản hay
phức tạp, kể từ khi nhận được công văn đề nghị phê chuẩn và tài liệu của vụ án. Nếu
vụ án đơn giản, hồ sơ tài liệu đầy đủ thì chỉ cần 1 ngày nhưng cũng có những vụ án
mà hồ sơ, tài liệu nhiều lại phức tạp thì cần phải có nhiều thời gian hơn để VKS
nghiên cứu trước khi phê chuẩn.
Thứ năm, về trách nhiệm của người đề xuất, người ra lệnh và người phê chuẩn cần
phải có quy định rõ ràng. Nếu tạm giam trái pháp luật Điều tra viên phải chịu trách
nhiệm của người đề xuất, Thủ trưởng CQĐT phải chịu trách nhiệm của người ra lệnh
còn nếu việc tạm giam sau đó lại được VKS phê chuẩn thì người đã đề xuất phê
chuẩn phải chịu trách nhiệm của người đề xuất, người đã phê chuẩn phải chịu trách
nhiệm của người đã phê chuẩn.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét