Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014
VỊ TỪ GÂY KHIẾN TRONG TIẾNG VIỆT
Vì thế, việc phân loại vị từ như trên vừa không đảm bảo tính nhất quán vừa
không bao quát được hết các tiểu loại vị từ.
Người tiếp theo mà chúng tôi muốn nhắc đến là học giả Lê Văn Lý vì trong cuốn
“Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam”, (1972) ông đã phân loại “Tự ngữ Việt Nam” thành 6
loại như sau:
Loại A: danh tự
Loại B: Động tự
Loại B’: Tính tự
Loại C:
C1: Ngôi tự
C2: Số tự
C3: Phụ tự
Những từ được xếp vào trong l
oại B theo ông phải:
- Có thể có những “ngôi tự” ( đại từ nhân xưng ), đứng trước: tôi viết, mày học,
nó chơi…
- Có thể có những ngữ vị phủ định đi sau: đi không?Về chưa?
- Có một trong những “tự ngữ” sau đây đứng trước: đang , đương, vẫn, vốn, đã,
sẽ, sắp…
Tác giả còn bị chú thêm: đa số các tự ngữ của tiếng Việt đều thuộc về ba từ loại
A, B và B’, còn các tự ngữ khác thuộc loại C.
Như vậy, Lê Văn Lý cũng không quan tâm đến những tiểu loại nhỏ hơn của vị từ
như vị từ gây khiến.
Một tác giả khác thuộc trường phái miêu tả là M. B. Emeneau trong ấn phẩm
“Studies in Vietnamese Grammar”, (1951), đã đưa ra một khuôn mẫu về trật tự của
chuỗi động từ như s
au:
1 2 3 4
sẽ
đã
chớ / đừng
không / chẳng
cũng
chưa
tự ….
Từ bảng mẫu về trật tự của chuỗi động từ của M. B. Emeneau, chúng tôi thấy
rằng trong quá trình nghiên cứu của mình, ông chỉ quan tâm đến việc phân tích một
số vị từ cụ thể và so sánh chúng với vị từ tiếng Anh ( chẳng hạn: động từ “có” ( to
have), động từ “làm” (to do), động từ “ cho” ( to give)…Ong chưa tiến hành phân
định những loại nhỏ hơn trong nội bộ vị từ do đó việc vị từ gây khiến không được đề
cập cũng là điều dễ hiểu.
Còn tác giả Bùi Đức Tịnh trong “Văn phạm Việt Nam”, (1952) ông đã dựa vào
phương diện ý nghĩa mà phân biệt động từ thành hai loại:
Động tư viên ý ( ĐTVY ): Động từ không cần có “sự vật túc ngữ” (SVTN):
Ví dụ:
Tôi cười.
ĐTVY
Động từ khuyết ý ( ĐTKY ): Động từ phải có một “sự vật túc ngữ” mới đủ
nghĩa.
Ví dụ:
Anh Giáp trồng rau
.
ĐTKY SVTN
Ong còn lưu ý là một động từ có thể “viên ý” hay “khuyết ý” tuỳ từng trường
hợp.
Ví dụ:
Tôi ăn cơm. (ăn: khuyết ý).
Anh ấy ngủ, tôi ăn. (ăn: viên ý) [45, tr82].
Từ những tìm hiểu trên, chúng ta thấy rằng, tác giả này phân loại vị từ theo “ý”
nhưng lại lấy hình thức, tức sự có mặt hay không có mặt của túc ngữ trong cấu trúc
bề mặt, làm tiêu chuẩn. Do mắc phải những hạn chế đó nên ông cũng không có điều
kiện quan tâm
đến vị từ gây khiến.
Cùng nhóm này còn có tập thể soạn giả, Uy ban Khoa học Xã hội Việt Nam,
quyển“ Ngữ pháp tiếng Việt”,(1983). Tác phẩm đã đưa ra kết quả phân loại động từ
như sau:
- Động từ ngoại động: làm, viết…
- Động từ nội động: ngủ, tắm…
- Động từ cảm nghĩ: nghe, tin, nhớ…
- Động từ phương hướng: lên, xuống, ra, vào…
- Động từ tồn tại: có, còn, mất, hết…
- Động từ biến hóa: trở nên, trở thành…
- Động từ ý chí: dám, muốn, toan…
- Động từ tiếp thụ: bị, được, phải…
- Động từ so sánh: bằng, thua, hơn…
- Động từ là.
Nhìn chung thì
đây là một kết quả phân loại vị từ tương đối đầy đủ. Nhưng
trong danh sách khá dài các vị từ được liệt kê, chúng tôi điểm thấy không có mặt các
vị từ gây khiến. Họ đã không gọi tên vị từ gây khiến một cách minh bạch và do đó, vị
từ gây khiến cũng không có tư cách là một tiểu loại của vị từ hành động.
Nhìn bao quát danh sách động từ mà các tác giả trên nêu ra, chúng tôi nhận thấy
không có mặt vị từ gây khiến. Qua đó chứng tỏ, các tác giả này khi phân loại động từ
đã bỏ qua
một loại vị từ có số lượng khá lớn và được sử dụng tương đối phổ biến
trong giao tiếp hằng ngày như vị từ gây khiến. Điều này thật là đáng tiếc.
Xu hướng thứ hai là của các t
ác giả có đề cập đến các vị từ gây khiến, tức là thừa
nhận có sự tồn tại của vị từ gây khiến. Tuy nhiên, ở mỗi tác giả, chúng tôi lại tìm thấy
một cách xác định khác nhau về vị từ gây khiến.
Theo xu hướng này có các tác giả: Lê Biên, Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức,
Hoàng Văn Thung – Lê A, Lê Cận – Phan Thiều, Nguyễn Thị Quy.
Các tác giả thuộc Tủ sách Đại học Sư phạm với “Giáo trình tiếng Việt” (197
6)
cho rằng: Những động từ gây khiến ( ĐTGK ) biểu thị ý thúc đẩy đối tượng hoàn
thành hay tiếp tục một hoạt động khác như: khiến cho, làm cho, bắt, buộc…
Về ngữ pháp, nhóm động từ này bị chi phối bởi hai bổ ngữ, một bổ ngữ chỉ đối
tượng ( BNĐT ) và một bổ ngữ phụ tiếp ( BNPT ), bổ ngữ đối tượng biểu thị yêu cầu
hoặc nội dung, mục đích của động từ chính.
Ví dụ:
Bộ đội tấn công vào đồn buộc địch
đầu hàng.
ĐTGK BNĐT BNPT
Nguyễn Kim Thản, tác giả của chuyên luận “Động từ trong tiếng Việt”, (1977)
đã có được một sự nghiên cứu khá công phu dành cho vị từ gây khiến.
Ong viết: “ Động từ gây khiến biểu thị những hoạt động thúc đẩy, cho phép,
giúp đỡ hay cản trở sự thực hiện của những hành động khác”. Chúng gồm: bảo, bắt,
buộc, bắt buộc, cản trở, cho phép, cổ vũ, cưỡng bức, cưỡng ép, dạy, dẫn, dắt, dìu, dìu
dắt, đề nghị, đòi hỏi, cần, giục, gọi, giúp đỡ, khuyên nhủ, khuyên răn, khuyên bảo,
khuyến khích, lãnh đạo, mời, n
ài nỉ, nài ép, thuyết phục, yêu cầu, ra lệnh…
Tuy nhiên, cuối cùng thì tác giả này cũng coi vị từ gây khiến và vị từ cầu khiến
là một.
Nằm trong xu hướng trên nhưng hai tác giả Lê Cận, Phan Thiều ơ “Giáo trình
ngữ pháp t
iếng Việt” (tập 1), (1983), trình bày cụ thể hơn. Hai ông cho rằng: động từ
gây khiến là lớp nhỏ của động từ, biểu thị những hoạt động cho phép, thúc đẩy, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện những hoạt động khác nhau.
Ví dụ:
Nhà trường cho phép
học sinh nghỉ học.
VTGK
Cũng theo hai ông thì lớp động từ gây khiến thường chịu sự chi phối của hai bổ
tố: một bổ tố chỉ đối tượng nhận sự chi phối của hoạt động gây khiến tức là nhận sự
ngăn cản, cho phép hay giúp đỡ của chủ thể, do danh từ (DT) đảm nhiệm; một bổ tố
do động từ (ĐT) đảm nhiệm,
chỉ kết quả của hoạt động gây khiến tức là kết quả của
sự giúp đỡ, cho phép hay cản trở. Khi đó, chúng ta có một trật tự cố định như sau:
Ví dụ:
Cha khuyên
con đọc sách.
ĐTGK DT chỉ đối tượng ĐT làm bổ tố
Và họ đưa ra các đơn vị của động từ gây khiến là: cấm, cho phép, ép, mời,
khuyên, bảo…
Như vậy, có lẽ vì kế thừa những nghiên cứu những công trình đi trước nên ở
công trình này, tác giả đã và có những trình bày sâu sắc hơn về vị từ gây khiến.
Song chung quy lại, thì giáo trình của Lê Cận, Phan Thiều vẫn giữ quan điểm
của những tác giả đi trước, nghĩa là nhâp hai tiểu loại vị từ gây khiến và cầu khiến
thành động từ gây khiến dù giữa chúng có nhiều điểm rất khác biệt
Một tác giả tương khác đồng quan điểm với Nguyễn Kim Thản là Đinh Văn
Đức. Trong công trình nghiên cứu “Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại”, (1986) đã bày tỏ
quan điểm tương tự như Nguyễn Kim
Thản. Ong cũng cho rằng vị từ gây khiến và vị
từ cầu khiến là một.
Đến“Ngữ pháp tiếng Việt” (1995) của hai tác giả Hoàng Văn Thung và Lê A thì
vị từ gây khiến đã được quan tâm nhưng chúng chưa được tách thành một tiểu loại
riêng. Trong quá trình phan loại động từ tiếng Việt, hai ông nêu ra danh sách động từ
với các cách phân loại khác nh
au:
- Động từ độc lập và động từ không độc lập.
- Động từ chỉ hành động và trạng thái
Tư thế, động tác cơ thể: đứng, nằm, ngồi, co, duỗi…
Trạng thái tâm lý: nghỉ ngơi, hồi hộp…
Hành động: ăn, đánh, xây dựng…
Chuyển động có hướng: ra, vào, lên, xuống…
Hoạt động cho nhận: cho, tặng, lấy…
Cấu khiến: mời
, sai, khuyên, bảo…
Hoạt động kết nối: buộc, pha, trộn…
Đánh giá, xem xét: bầu, gọi ,xem, coi…
Cảm nghĩ: biết, thấy, nói, nghĩ…
Còn tác giả Lê Biên trong “Từ loại tiếng Việt hiện đại”, (1999) đã trình bày xác
định khái niệm “động từ gây khiến” (ĐTGK) như sau: “ Động từ gây khiến là những
động từ vận động có tác động gây khiến, chi phối hoạt động của đối tượng”.
Ví dụ:
(1) Con học giỏi khiến
ba mẹ vui lòng.
ĐTGK
(2) Sản xuất lúa gạo tăng làm cho
mọi người phấn khởi.
ĐTGK
(3) Mọi người đề nghị chị Lan hát.
ĐTGK
Trong khi liệt kê các động từ gây khiến, tác giả Lê Biên đã đề cập đến hai
loại vị từ: làm cho, khiến cho, khiến… và bắt, buộc, đề nghị…Thực tế thì ở đây có
đến hai nhóm vị từ khác nhau vị từ gây khiến và vị từ cầu khiến. Ong đã không nêu
lên một nhận thức nào về sự đối lập giữa vị tư gây khiến với vị tư cầu khiến nên đã
xảy ra trường hợp nhập các vị tư cầu khiến vào vị từ gây khiến.
Rõ ràng các t
ác giả của công trình trên trong khi nêu quan điểm về vị từ gây
khiến đã không phân định được sự khác biệt giữa vị từ gây khiến và vị từ cầu khiến
trong khi hai loại vị từ này có nhiều điểm rất khác nhau cả về hình t
hức lẫn nội dung
như chúng tôi sẽ trình bày ở những chương sau.
Do đó, mặc dù đã đưa ra một danh sách khá dài các vị từ, nhưng trong danh sách
đó, cũng như các tác giả của các chuyên luận đi trước, họ không xác định vị từ gây
khiến với tư cách là một tiểu loại của vị từ hành động.
Tác giả cuối cùng m
à chúng tôi muốn nhắc đến là Nguyễn Thị Quy. Có thể nói
cho đến thời điểm hiện nay, thì bà là người trình bày chi tiết hơn cả về vị từ hành
động. Trong khi thực hiện chuyên luận “ Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố
của nó”, tác giả này đã vận dụng những thành tựu của Ngữ pháp chức năng vào
nghiên cứu vị từ tiếng Việt và phân loại chúng như sau:
Tiêu chí phân loại [±TÁC
ĐỘNG]
Vị từ Tiêu chí phân loại: DIỄN TRỊ
Chuyển động
Chạy, bay, bước,
bò…
Hành thể
[-Mục tiêu]
Ứng xử Cười, khóc… Đương thể
1 diễn tố
Vô tác (=bất
cập vật)
+ Di chuyển
Đến, vào, rời,
qua…
TÁC ĐỘNG]
[+Mục tiêu]
- Di chuyển
Nhìn, quan sát,
đọc…
Hành thể, mục
tiêu
Vật chất: sản phẩm
Làm, xây, đóng,
vẽ
Tác thể, sản phẩm
Tác tạo
đối tượng
Tinh thần: nhận thức – phát ngôn
Nghĩ, khẳng định,
nói…
Tác thể, điều ý/
lời
Hủy diệt
Huỷ, phá, bỏ,
giết…
Vật chất Bẻ, nấu, đánh… Chuyển trạng
thái
Tinh thần Dọa, trêu, mắng
Tác thể, bị thể/
đương thể
[+ TÁC ĐỘNG]
Làm cho
đối tượng
biến
chuyển
n
v
[-Mục
Đv. Chủ thể Cầm, mang, lấy,
Tác thể, đương thể
2 diễn tố
Chuyển tác (= cập vật/ ngoại động)
buông…
tiêu]
Đv. Vị trí
(chuyển
động)
Đẩy, dắt, chăn,
thả…
Đv. Chủ thể
và nhận thể
Gửi, cho,
chuyển…
Tác thể, đương
thể, nhận thể
[+Mục
tiêu]
Đv. Vị trí cũ
và đích
Đút, đặt, lắp… Tác thể, đương
thể, đích
Cầu khiến
Sai, ra lệnh, yêu
cầu
Tác thể, đương
thể, hành động
3 diễn tố
[ 34, trang 148 ]
Như vậy, theo tác giả Nguyễn Thị Quy, vị từ gây khiến là một tiểu loại của vị từ
hành động. Nó được xếp vào nhóm các vị từ biểu thị những hành động làm cho đối
tượng biến đổi trạng thái vật chất. Quan điểm của chúng tôi khi xác định vị từ gây
khiến cũng đi theo hướng này.
0.3 Phạm vi nghiên cứu:
Chúng ta đều biết rằng, ngữ vị từ là loại ngữ đoạn chuyên thể hiện nội dung sự
kiện và có ưu thế cú pháp nhất để giữ vai trò của phấn thuyết t
rong câu. Chúng có thể
được xem là những phần thuyết điển hình thế nhưng việc miêu tả cấu trúc vị ngữ cho
đến nay vẫn chưa hoàn thiện. Vị từ là một thành tố quan trọng trong cấu trúc vị ngư,
nếu chúng ta khảo sát cụ thể và kĩ lưỡng c
húng sẽ phát hiện những tiền đề quan trọng
cho việc nghiên cứu và miêu tả cấu trúc vị ngữ tiếng Việt. Tuy nhiên, vì những lý do
chủ quan và khách quan, trong công trình này, chúng tôi chỉ xin được giới hạn việc
tìm hiểu ở vị từ gây khiến tiếng Việt, một tiểu loại rất quan trọng trong ngữ vị từ hành
động tiếng Việt. Cụ thể là chúng tôi tập trung khảo sát các vị từ gây khiến trên hai
phương diện ngữ nghĩa và ngữ pháp, đi vào phân l
oại, lập danh sách, mô tả các qui
tắc kết hợp của các vị từ gây khiến dựa trên ngôn liệu trong tiếng Việt, nhằm giúp
người sử dụng tiếng Việt khi giao tiếp tránh được những sai sót không đáng có.
Chúng tôi cũng xin được phép hạn định phạm vi nghiên cứu ở các ngữ vị từ gây
khiến mà chỉ gồm một vị từ (vị từ đơn), các vị từ ít dùng hoặc chỉ được t
ìm thấy trong
những văn bản cổ, chúng tôi tạm thời chưa xem xét.
Cũng trong luận văn này, chúng tôi cũng tiến hành nghiên cứu sự hoạt động của
các vị từ gây khiến ở một số tác phẩm văn học đang được giảng dạy trong nhà trường
phổ thông hiện nay.
0.4 Phương pháp nghiên cứu:
Khi thực hiện nội dung nghiên cứu này, chúng tôi đã xác định cho mình phương
hướng nghiên cứu là đi từ nội dung đến hình thức nói cách khác là đi từ ý nghĩa đến
cấu trúc của các kết cấu gây khiến. Vì vị từ gây khiến là một vấn đề thiên về nghĩa
học và mục tiêu chính của luận văn là tìm ra những đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ pháp
của chúng nên chúng tôi chọn cách tiếp cận đối tượng dưới quan điểm của Ngữ phá
p
chức năng, trong đó ngôn ngữ được nghiên cứu như một hệ thống ý nghĩa được nhận
thức bằng các hình thức mà qua đó các ý nghĩa được hiện thực hóa.
Cụ thể là luôn có sự phân biệt một cách rạch ròi ba bình diện: Cú pháp – Nghĩa
học – Dụng pháp. Cách làm đó không ngoài mục đích là tránh việc xem các dấu hiệu
hình thức của đối tượng là mục tiêu nghiên cứu mà chỉ xem các dấu hiệu hì
nh thức đó
là một mắc xích trung gian để phát hiện và xác định các đặc trưng của vị từ gây khiến.
Và chúng tôi sẽ sử dụng đặc trưng của bình diện này để lý giải nguyên do tồn tại của
các đặc trưng ở các bình diện còn lại.
Về mặt phương pháp, luận văn đã sử dụng những phương pháp cụ thể sau:
1. Phương pháp phân bố: Vì tiếng Việt là một trong những ngôn ngữ đơn lập nên
đặc điểm n
gữ pháp của từ sẽ bộc lộ rõ trong cách phân bố. Chính qua việc quan sát
cách phân bố của từ trên trục kết hợp, chúng ta có thể rút ra những quy tắc ngữ pháp
đúng với thực tế sử dụng của tiếng Việt.
2. Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để tìm ra sự khác biệt
cũng như tương đồng trong đặc điểm n
gữ nghĩa và ngữ pháp giữa vị từ gây khiến với
các vị từ hành động khác.
3. Phương pháp thống kê: Trong khi làm việc với các nguồn ngữ liệu cụ thể ( các
tác phẩm văn học được trích dẫn trong sách giáo khoa lớp 10, 11, 12 hiện hành), luận
văn đã dùng phương pháp này với mục đích tìm hiểu mức độ nhận thức của người
Việt trong việc sử dụng các vị từ gây khiến.
4. Phương pháp m
iêu tả: Dụng ý của chúng tôi khi sử dụng phương pháp này là
làm rõ những đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của vị từ gây khiến thông qua việc
phân tích các ngữ liệu.
5. Phương pháp cải biến, tỉnh lược, chêm xen: Thông qua những phương pháp
này, chúng ta sẽ xác định được các thành phần trong cấu trúc cú pháp cũng như xác
định vai trò của các tham tố trong cấu trúc nghĩa của vị từ đang xét.
Về mặt tài liệu, chúng tôi chủ yếu tham khảo các công trình nghiên cứu của các
tác giả trong nước như: “ Động từ trong tiếng Việt” (Nguyễn Kim Thản), “Tiếng Việt
– Sơ thảo Ngữ pháp chức năng – Q1” (Cao Xuân Hạo), “ Vị từ hành động tiếng V
iệt
và các tham tố của nó” (Nguyễn Thị Quy), “Lý thuyết trật tự từ trong cú pháp” (Lý
Toàn Thắng) và một số giáo trình của các tác giả nước ngoài như: “Studies in
Vietnamese (Annamese) Grammar”( Emeneau), “An introduction to Functional
Grammar” (Halliday), “Semantics”( Lyons), “A Vietnamese Grammar”(Thompson),
“Semantics Primes and Universals” ( Wierzbicka, Anna) …liên quan đến đề tài mà
chung tôi sưu tầm được.
Về ngữ liệu, chúng tôi thu thập chủ yếu từ việc quan sát cách sử dụng ngôn ngữ
tự nhiên của người Việt, hoặc trích dẫn từ các tác phẩm văn học, báo chí và các tư
liệu từ các Từ điển tiếng Việt.
0.5 Ý nghĩa k
hoa học và thực tiễn của đề tài:
Trước hết, về mặt lý luận, chúng tôi nghĩ rằng việc làm của mình là cần thiết.
Bởi các sách giáo khoa Ngữ văn ở các trường phổ thông hiện nay chỉ mới có những
miêu tả cụ thể về cấu trúc cú pháp cơ bản của câu và m
iêu tả cấu trúc danh ngữ còn
việc mô tả cấu trúc ngữ vị từ thì hầu như vẫn còn bỏ ngõ. Những quy tắc ngữ pháp cụ
thể để miêu tả những cách kết cấu khác nhau của các ngữ đoạn vị từ, đặc biệt là
những ngữ đoạn phức hợp có những chuỗi vị từ xen với các loại bổ ngữ khác nhau
đang rất cần được x
em xét.
Vì vậy, đề tài này của chúng tôi sẽ làm rõ được một số vấn đề lí thuyết liên quan
đến viêc miêu tả cấu trúc vị ngữ của câu tiếng Việt, mà trong đó các vị từ gây khiến
giữ vai trò quan trọng. Công việc tiếp theo của chúng tôi là lần lượt khảo sát các vị từ
gây khiến cụ thể để phát hiện các đặc điểm ngữ nghĩa, chỉ ra tầm
quan yếu của chúng
trong cấu trúc ngữ nghĩa của câu tiếng Việt, xác định cương vị cú pháp của chúng
trong cấu trúc câu. Chúng tôi cũng tìm cách phân định ranh giới giữa các vị từ gây
khiến với các vị từ hành động khác. Sau đó, chúng tôi cố gắng đề ra một số quy tắc có
thể giúp người học tiếng Việt nắm được cách dùng vị từ gây khiến khi đặt câu, viết
văn.
Cuối cùng chúng tôi đưa ra danh sách các vị từ gây khiến ( ở mức độ tương đối
đầy đủ và chính xác ) với mong muốn dựa vào đó các em học sinh ( đặc biệt là học
sinh trung học cơ sở ) có một cái nhìn vừa bao quát vừa cụ thể về vị từ gây khiến.
Về mặt thực tiễn, chúng tôi hi vọng rằng những kết quả nghiê
n cứu của mình có
thể là một đóng góp hữu ích cho những người biên soạn sách giáo khoa, cũng như
cho những người dạy tiếng Việt cho người Việt hay cho người nước ngoài.
0.6 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần Dẫn nhập và phần Kết luận, nội dung chính của luận văn được trình
bày trong hai chương:
Chương I: Những vấn đề hữu quan. Trong chương này, c
húng tôi trình bày
tương đối chi tiết những khái niệm cơ bản liên quan đến vị từ hành động. Những tri
thức này chính là nền tảng để chúng tôi đi vào nghiên cứu những vấn đề cụ thể liên
quan đến vị từ gây khiến.
Chương II: Đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ pháp của vị từ gây khiến tiếng Việt.
Đây là phần mang nội dung nghiên cứu chính của luận văn. Trong chương này, chúng
tôi tiến hành đối chiếu những sự khác biệt về mặt ngữ nghĩa giữa vị từ gây khiến với
các vị từ hành động khác để từ đó có thể tìm
ra những đặc trưng ngữ nghĩa riêng của
vị từ gây khiến. Đồng thời, luận văn cũng đi vào tìm hiểu những đặc điểm về mặt ngữ
pháp của vị từ gây khiến ( chủ yếu là ở khả năng kết hợp và khả năng tham
gia làm
thành phần câu ). Tóm lại, ở chương hai này, chúng tôi cố gắng phát thảo một bức
tranh toàn cảnh về đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ pháp của vị từ gây khiến.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét