Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Lý luận của Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng lý luận đó ở Việt Nam hiện nay

kết cấu nền kinh tế quá độ mà còn là sách lợc của Nhà nớc Vô sản, là con đ-
ờng để thực hiện sự quá độ lên CNXH trong một nớc tiểu sản xuất chiếm u
thế.
3. Các hình thức của Chủ nghĩa T bản Nhà nớc.
Lênin đã nêu ra những hình thức cụ thể của Chủ nghĩa t bản Nhà nớc.
3.1. Tô Nhợng :
Trong cuốn Bàn về Thuế lơng thực Lênin quan niệm : Tô nhợng là
một giao kèo, một sự liên kết, liên minh giữa chính quyền Nhà nớc Xô Viết,
nghĩa là Nhà nớc Vô sản với Chủ nghĩa t bản Nhà nớc chống lại thế lực tự
phát tiểu t sản. Ngời nhận tô nhợng là nhà t bản Tô nhợng là chính quyền Xô
Viết ký Hợp đồng với nhà t bản. Nhà t bản tiến hành kinh doanh với t cách là
một bên ký kết, là ngời thuê t liệu sản xuất XHCN, và thu đợc lợi nhuận của
t bản mà mình bỏ ta, rồi nộp cho Nhà nớc CHCN một phần sản phẩm. Tô ng-
ợng là hình thức kinh tyế mà hai bên cùng có lợi. Nhà t bản kinh doanh theo
phơng thức t bản cốt để thu đợc lợi nhuận bất thờng, siêu ngạch hoặc để có đ-
ợc loại nguyên liệu mà họ không tìm đợc hoặc khó tìm đợc bằng cách khác.
Chính quyền Xô Viết cũng có lợi : Lực lợng sản xuất phát triển, số lợng sản
phẩm tăng lên.
Hình thức Tô nhợng là sự du nhập chủ nghĩa t bản từ bên ngoài vào.
Tất cả khó khăn trong nhiệm vụ này là phải cân nhắc, phải suy nghĩ hết mọi
điều khi ký hợp đồng tô nhợng và sau đó phải biết theo dõi việc chấp hành
nó.
Trong Báo cáo về Tô nhợng, Lênin đã nêu ra những điều cần phải cần
phải chú ý nh sau:
- Để thực hành Chủ nghĩa t bản Nhà nớc (Tô nhợng) cần phải từ bỏ
Chủ nghĩa ái quốc địa phơng của một số ngời cho rằng tự mình có thể làm
lấy, không chấp nhận trở lại ách nô dịch của t bản. Lênin nêu rõ càn phải sẵn
sàng chịu đựng cả một loạt hy sinh thiếu thốn và bất lợi miễn sao có đợc sự
5
chuyển biến quan trọng và cải thiện tình trạng kinh tế trong các ngành công
nghiệp chủ yếu.
- Ngời tô nhợng có trách nhiệm cải thiện đời sống công nhân trong xí
nghiệp tô nhợng sao cho đạt tới mức sống trung bình của ngời nớc ngoài. Cải
thiện đời sống cảu công nhân các xí nghiệp tô nhợng và ngoài tô nhợng đợc
xem là cơ sở của chính sách tô nhợng.
- Ngoài ra ngời nhận tô nhợng phải bán thêm cho Chính quyền Xô
Viết (nếu có yêu cầu) từ 50 đến 100% số lợng sản phẩm tiêu dùng cho các
công nhân ở Xí nghiệp Tô nhợng cũng với giá bán nh trên, làm nh vậy để cải
thiện đời sống công nhân khác.
- Vấn đề trả lơng cho công nhân ở các xí nghiệp tô nhợng sẽ đợc quy
định theo sự thoả thuận riêng của từng hợp đồng.
- Điều kiện về thuê mớn, về sinh hoạt vật chất, về trả lơng cho công
nhân lành nghề và nhân viên ngời nớc ngoài đợc quy định theo sự thoả thuận
tự do giữa hai bên, Công đoàn không có quyền trong việc này.
- Đối với công nhân Nga có trình độ cao, nếu các xí nghiệp tô nhợng
muốn mời phải có sự đồng ý của các cơ quan chính quyền Trung Ương.
- Phải tôn trọng pháp luật của Nga.
- Phải nghiêm chỉnh tuân theo những quy tắc Khoa học và kỹ thuật
phù hợp với pháp luật của nớc Nga và của nớc ngoài.
3.2. Các Hợp tác xã (HTX) cũng là một hình thức của CNTB Nhà nớc.
Căn cứ vào những thời điểm lịch sử trớc và sau, có thể nhận thấy rằng,
thoạt đầu Lênin quan niệm : HTX là hình thức của CNTB Nhà nớc. Về sau từ
thực tiễn nớc Nga, Lênin đã phân biệt tổ chức kinh tế này trong những chế độ
khác nhau. Nghĩa là trong thực tế tồn tại hai chế độ HTX : TBCN và XHCN.
Chế độ Hợp tác xã TBCN trong lòng chế độ Xô Viết đợc coi là một hình thức
CNTB Nhà nớc.
6
ýnghĩa của chế độ hợp tác xã là ở chỗ không phải xoá bỏ ngời sản xuất
nhỏ với lợi ích t nhân của họ mà là đặt lợi ích đó dới sự điều tiết của Nhà nớc
và phục vụ từng lợi ích chung.
3.3. Hình thức đại lý uỷ thác.
Lênin coi hình thức này là hình thức thứ ba. Theo hình thức này Nhà
nớc lôi cuốn nhà t bản với t cách là một nhà buôn, trả cho họ một số tièn hoa
hồng để họ bán sản phẩm của Nhà nớc và mua sản phẩm của ngời sản xuất
nhỏ.
3.4. Cho t bản trong nớc thuê xí nghiệp, vùng mỏ, rừng, đất.
Hình thức này giống hình thức tô nhợng, nhng đối tợng tô nhợng
không phải là t bản nớc ngoài mà là t bnả trong nớc. Hình thức này đợc coi là
hình thức riêng để phân biệt nó với hình thức tơng tự nhng đối tợng thuê chỉ
là t bản trong nớc.
3.5. Cho nông dân thuê những hầm mỏ nhỏ.
Đây cũng là kiểu cho thuê, nhng đối tợng thuê theo cách nói của Lênin
là những tiểu t sản. Và chính ở những hầm mỏ nhỏ cho nông dân thuê sản
xuất lại đặc biệt phát triển hơn là những xí nghiệp lớn nhất trớc kia là của t
bản, ngang hàng với các xí nghiệp t bản ở Tây Âu.
3.6. Công ty Hợp doanh.
Trong báo cáo tại Đại hội IV quốc tế Cộng sản, Lênin đã nói về những
thành tựu đạt đợc do thực hành chế độ chủ nghĩa t bản Nhà nớc. Khi nói về
lĩnh vực thơng nghiệp, chính quyền Xô Viết đã cố gắng lập ra những Xông ty
Hợp doanh, thành lập theo thể thức tiền vốn một phầm là của t bản t nhân,
ngoài ra của t bản nớc ngoài và một phần là của chính quyền Xô Viết.
Đó là một số hình thức của CNTBNN có thể rút ra từ thực tiễn thực
hành chế độ này và đợc Lênỉntình bày khi thì tập trung, khi thì rải rác ở một
số tác phẩm.
4. Kết quả thực hiện CNTB Nhà nớc.
7
Sự thực hành CNTBNN đã mang lại những kết quả lớn. Đến tháng 11
năm 1922 Lênin đã trình bày khái quát những thành tựu của chính sách kinh
tế mở nói chung, CNTBNN nói riêng nh sau:
Trớc hết và chủ yếu là tình hình giai cấp nông dân. Từ chỗ đói kém,
bất bình đến chỗ nông dân chẳng những đã thoát khỏi nạn đói mà còn nộp đ-
ợc thuế lơng thực hàng trăm triệu pút. Từ những cuộc bạo động mang tính
chất phổ biến năm 1921, nông dân đã hài lòng với tình hình của họ.
Công nghiệp nhẹ đang có đà phát triển đời sống của công nhân đợc cải
thiện, tình hình bất mãn của công nhân không còn nữa.
Công nghiệp nặng tuy vẫn còn khó khăc nhng đã có sự thay đổi nhất
định. Lý do là không có những khoản cho vay lớn hàng mấy trăm triệu đôla.
Chính sách tô nhợng thì hay thật nhng cho đến lúc ấy (1922) vẫn cha có một
tô nhợng sinh lợi nào trong công nghiệp nặng. Không hy vọng vay đợc ở các
nớc giàu có, các nớc đế quốc vẫn đang muốn bóp chết Nhà nớc XHCN non
trẻ. Tuy nhiên, nhờ chính sách kinh tế mới mà thu đợc một số vốn lớn hơn 20
triệu rúp vàng (nhờ thơng nghiệp mà có vốn ấy). Điều quan trọng nữa là tiết
kiệm về mọi mặt, kể cả những chi phí về trờng học đã cứu vãn công nghiệp.
Riêng về chính sách Chủ nghĩa t bản Nhà nớc đã có những tác dụng
tích cực nhất định góp phần làm sống động nền kinh tế nớc Nga đã bị suy sụp
sau chiến tranh. Nhờ tô nhợng với nớc ngoài nhiều nhành công nghiệp quan
trọng (đặc biệt là nhành khai thác dầu) đã phát triển, nhiều kinh nghiệm tiên
tiến với trang thiết bị kỹ thuật hiện đại của nền sản xuất lớn đã đợc đa vào
sản xuất mang lại hiệu quả cao. Thông qua hoạt động của các xí nghiệp cho
thuê, các xí nghiệp hõn hợp đã góp phần giúp Nhà nớc Xô Viết duy trì sự
hoạt động sản xuất bình thờng ở các cơ sở kinh tế tăng thêm sản phẩm cho xã
hội, việc làm cho ngời lao động. Hình thức đại lý thơng nghiệp và các hợp tác
xã t bản chủ nghĩa trong các lĩnh vực sản xuất, tín dụng và tiêu thụ đã góp
phần quan trọng trong việc hỗ trợ thơng nghiệp XHCN, đẩy nhanh quá trình
trao đổi và lu thông hàng hoá, tiền tệ, làm sống động nền sản xuất hàng hoá
8
nhỏ, qua đó cải biến những ngời tiểu nông, nối liền quan hệ trao đổi Công -
Nông nghiệp, Thành thị - Nông thôn.
Những kết quả ấy có ý nghĩa tích cực đối với nớc Nga Xô Viết. Nó
góp phần không nhỏ vào công cuộc phát triển kinh tế nớc Nga sau chiến
tranh. Tuy nhiên so với sự mong muốn và mục tiêu ban đầu đặt ra của Lênin
thì kết quả thực hành chế độ này vẫn còn rất thấp.
Song kết quả lớn nhất là bắt đầu hình thành một khái niệm mới, và
CNTBNN đã thực sự là một phần đặc trng của chính sách kinh tế mới. Và
chính nhờ chính sách kinh tế mới mà chính quyền Xô Viết đã giữ đợc vị trí
vững chắc trong Nông nghiệp và công nghiệp và có khả năng tiến lên đợc.
Nông dân vừa lòng Công nghiệp cũng nh Thơng nghiệp đang hồi sinh và phát
triển. Đó là một thắng lợi của chính quyền Xô Viết.
9
Ch ơng II
Sự vận dụng lý luận của lênin về chủ nghĩa t bản nhà nớc ở việt nam
1. Sự cần thiết và khả năng sử dụng kinh tế TBNN ở nớc ta.
Xét về phơng diện vật chất, kinh tế, nớc ta hiện nay ở mức độ nhất
định, cha có đủ điều kiện để trực tiếp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy
chúng ta cần suy nghĩ thấu đáo quá trình đi lên chủ nghiẽa xã hội thông qua
chủ nghĩa t bản Nhà nớc nh Lênin từng vạch ra. Chúng ta cần sử dụng chủ
nghĩa t bản Nhà nớc nh một phơng tiện để thực hiện sự điịnh hớng xã hội chủ
nghĩa. Với đờng lối đổi mới và chủ trơng chiến lợc phát triển kinh tế nhiều
thành phần của Đại hội VI và VII của Đảng, kinh tế t nhân, cá thể ở nớc ta đã
đợc mở rộng, hiện cung cấp khoảng 2/3 tổng sản phẩm trong nớc. Cần hớng
kinh tế này vào con đờng chủ nghĩa t bản Nhà nớc.
Sự phát triển kinh tế nói chung và việc thực hành đờng lối chủ nghĩa t
bản Nhà nớc nói riêng ở nớc ta đặt trong cục diện chung của thế giới có
nhiều thuận lợi.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ ở cuối thể kỷ XX đến nay đã
mang đến những đảo lộn lớn lao trong cơ sở vật chất, kỹ thuật và kiến trúc th-
ợng tầng, trong thế chế chính trị kinh tế, xã hội, trong quan hệ quốc tế, trong
kết cấu giai cấp và xã hội Đó là sức mạnh thời đại. Sức mạnh này có thể đa
một nền kinh tế kém phát triển cất cánh lên một cách nhẹ nhàng nếu nớc đó
biết nắm bắt thời cơ và biết đi đúng hớng.
Đất nớc ta có hoàn cảnh quốc tế thuận lợi cho việc bình thờng hoá
quan hệ kinh tế quốc tế trong đó có sự du nhập CNTB từ bên ngoài, từ các
nớc t bản phát triển.
Nớc ta nằm ngay giữa khu vực phát triển năng động nhất của thế giới
ngày nay, là vùng vành đai Thái Bình Dơng thuộc khu vực Châu á. Về khách
quan, các nớc phát triển không thể không mở rộng ảnh hởng và tìm những
nguồn đầu t mới ở vùng này. Chỉ cần có một chính sách hợp tác khu vực
đúng đắn với chính sách kinh tế mềm dẻo chúng ta có thể thu hút đợc vốn
10
đầu t của nớc ngoài dới những hình thức khác nhau của chủ nghĩa t bản Nhà
nớc.
Sự phát triển mạnh mẽ của lợng sản xuất trong một nền sản xuất toàn
cầu hoá, trong một nền kinh tế thế giới đang chuyển hoá thành một thể thống
nhất, tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng
lên. Phụ thuộc lẫn nhau là ta cần ngời và ngời cũng cần ta. Các nớc công
nghiệp phàt triển đang chuyển sang một cơ sở vật chất kỹ thuật mới về cho
nên về khách quan họ có nhu cầu chuyển nhợng những kỹ thuật đợc gọi là
truyền thống cho những nớc kém phát triển. Điều này cũng tạo ra một só
thuận lợi cho chúng ta trong việc thu hút những kỹ thuật đó và các nguồn vốn
gắn với kỹ thuật ấy từ các nớc phát triển về công nghiệp.
Cũng phải nói đến mặt mạnh của đất nớc ta có thu hút đối với t bản n-
ớc ngoài. Cái mà chủ nghĩa t bản thế giới cần là sự chuyển hớng sang nền
kinh tế thị trờng (dĩ nhiên là theo quan điểm của họ), thì chúng ta đã bắt đầu
(dĩ nhiên là theo mục đích của ta). Về khách quan, việc chuyển sang nền kinh
tế thị trờng là cái quan trọng nhất quyết định xu hớng hoà nhập vào nền kinh
tế thế giới, quyết định triển vọng phát triển của nền kinh tế nớc ta. Công cuộc
đổi mới của đất nớc ta đã thu đợc những thành tựu bớc đầu rất quan trọng.
Nhà nớc ta đã thiết lập đợc nhiều mối quan hệ kinh tế với bên ngoài và đã có
những chính sách kinh tế đối ngoại đợc nớc ngoài đánh giá là rộng mở và
thức thời. Nớc ta cũng có một số tài nguyên quý giá, là một thị trờng không
phải nhỏ. Đặc biệt sự ổn định chính trị là cái mà ngời nớc ngoài có thể tin
cậy trong việc đầu t lâu dài.
2. Những hình thức cụ thể của chủ nghĩa t bản Nhà nớc đang đợc vận
dụng ở nớc ta.
2.1. Hình thức liên doanh, liên kết giữa Nhà nớc với các chủ sở hữu
ngoài quốc doanh ở trong nớc hoặc với các chủ sở hữu ử các nớc t bản chủ
nghĩa.
11
Sự liện doanh, liên kết đợc các nhà kinh tế kể cả t bản chủ nghĩa hiện
đại coi là Một ý tởng tuyểt vời. Sự khai thác triệ để t tởng về chủ nghĩa t
bản Nhà nớc đòi hỏi phải mở rộng khái niệm liên doanh liên kết. Không chỉ
liên doanh, liên kết với chủ nghĩa t bản từ bên ngoài mà cả chủ nghĩa t bản
nội địa với các cơ sở thuộc thành phần kinh tế t nhân dể cả hợp tác t nhân.
Liên doanh, liên kết giữa các nớc với nhau đang là xu hớng phát triển
kinh tế chung của thế giới.
Thực tiễn trong nớc và trên thế giới cho thấy để liên doanh đạt hiệu
quả cần phải giải đáp một loạt các vấn đề liên quan. Chẳng hạn, liên doanh
để sản xuất cái gì ? Ta muốn có mặt hàng xuất khẩu nhng phải tính đến khả
năng cạnh tranh bởi nếu không có mặt hàng xuất khẩu của ta thì các nhà t
bản cũng đã gặp không ít đối thủ cạnh tranh. Không thể không trả lời cho
các câu hỏi về thị trờng nói chung, thị trờng đợc hởng và không đợc hởng chế
độ tối huệ quốc trong thơng mại. Địa điểm xây dựng xí nghiệp liên doanh
cũng không thể bỏ qua vì có quan hệ đến hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh.
Một số vấn đề cần xác định rõ là việc lựa chọn bạn cùng chơi ở bên
ngoài và cơ sở trong nớc ở bên ngoài và cơ sở trong nớc liên doanh với nớc
ngoài. Nên tích cực, chủ độngtìm bạn hàng, đặt quan hệ nhiều hãng, trớc hết
là các tập đoàn xuyên quốc gia, kinh doanh nhiều ngành. Bởi vì những tập
đoàn này có đặc trng là rất linh hoạt, có những quan hệ bền vững với nhiều n-
ớc, có bộ máy tiêu thụ đã đợc xếp đặt hoàn hảo. Nhng còn mặt trái của tấm
huy chơng cần phải lu ý. Chẳng hạn nh trong phân công lao động thì các nớc
kém phát triển thờng đợc phân công làm những quy trình công nghệ cần
nhiều lao động giản đơn, luồng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến không có là bao.
Các Công ty liên doanh thờng đầu t lớn vào các nớc phát triển để sử dụng
tiềm lực khoa học lớn ở nơi đây nhằm đón trớc các thành tựu khoa học - kỹ
thuật. Nh vậy, trong buổi đầu liên doanh cũng khó mà hy vọng vào những
nguồn đầu t lớn từ bên ngoài.
12
Việc lựa chọn cơ sở trong nớc để liên doanh với nớc ngoài cũng cần
phải xem xét cẩn thận nếu không muốn đánh mất mình. Ngoài yếu tố
phẩm chất chính trị của những nhà quản lý, còn phải tính đến phẩm chất kinh
doanh đạt chất lợng cao, nhờ đó mà giành đợc sự tín nhiệm.
2.2. Công ty cổ phần với tính cách là hình thức kinh tế t bản Nhà nớc
và cổ phần hoá xí nghiệp để thành lập xí nghiệp t bản Nhà nớc.
Công ty cổ phần xuất hiẹn là một tất yếu khách quan, cho yêu cầu tập
trung t bản và có vai trò rất lớn trong việc phát triển lực lợng sản xuất. Khi
xuất hiện Công ty cổ phần có nhiều dạng. Xét theo khả năng chuyển nhợng
cổ phiếu mức quy định vốn pháp định tối thiểu, chia Công ty cổ phần làm hai
loại: Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty vô danh.
Trong điều kiện hiện nay, trong nền kinh tế nhiều thành phần Công ty
cổ phần đợc xem là một tất yếu kinh tế, sự tồn tại của nó không những chỉ là
kết quả của quá trình tích tụ vốn mà còn là nhu cầu khách quan của việc củng
cố tính hiệu quả nền kinh tế nhiều thành phần nói chung, của quốc doanh nói
riêng.
Cùng với việc xây dựng các Công ty cổ phần bắt đầu từ việc bán cổ
phần và thu hút, Công ty cổ phần còn đợc thành lập trên cơ sở các xí nghiệp
quốc doanh bằng biện pháp cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc.
Thực chất cổ phần hoá xí nghiệp quốc doanh hiện nay là chuyển từ sở
hữu Nhà nớc thành sở hữu tập thể, hỗn hợp là làm gọn nhẹ, tối u thành phần
kinh tế quốc doanh tăng thành phần kinh tế tập thể, cá thể, t nhân. Nó là giải
pháp nhằm thoát khỏi tình trạng làm ăn thua lỗ của các xí nghịp quốc doanh.
Nó còn là giải pháp để góp phần khắc phục tình trạng phổ biến và
nghiêm trọng hiện nay là sự thất thoát tài sản, lãng phí dới nhiều hình thức.
Cho nên, cùng với việc sắp xếp lại kinh tế quốc doanh theo hớng củng
cố những cơ sở kinh tế cần thiết và có khả năng củng cố, càn thực hiện biện
pháp cổ phần hoá xí nghiệp quốc doanh.
13
Song, cần và chỉ nên củng cố số ít cơ sở quốc doanh có vị trí then chốt
trong nền kinh tế, có nguồn thu lớn cho ngân sách, hoặc ở những ngành lĩnh
vực mà t nhân không muốn hoặc không đủ vốn, đủ sức đầu t.
2.3. Đặc khu kinh tế.
Qua thực tiễn nhiều nớc đặc khu kinh tế là một vùng lãnh thổ quốc gia
mà trên đó ngời ta áp dụng chế độ đặc biệt đối với các hoạt động kinh tế đối
ngoại. Mục tiêu của nó là : tăng cờng khả năng cạnh tranh của nền sản xuất,
tăng cờng khả năng xuất khẩu, thu hút đầu t trực tiếp của nớc ngoài, đẩy
nhanh các quá trình khai thác công nghệ kỹ thuật mới và học tập kinh
nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới.
Đặc khu kinh tế là một nội dung quan trọng trong chính sách kinh tế
đối ngoại, mang tính chất mới của nền kinh tế thế giới. Với vai trò là cầu
nối nền kinh tế trong nớc với nền kinh tế thế giới, các đặc khu kinh tế có ý
nghĩa rất quan trọng để biến các đờng lối, chủ trơng chính sách kinh tế đối
ngoại của các nớc này thành hiện thực.
2.4 Khu công nghệ chế biến xuất khẩu (khu chế xuất)
Khu công nghiệp chế biến xuất khẩu là khu công nghiệp đợc quy
định chuyên môn xuất chủ yếu cho xuất khẩu trong đó ngời ta áp dụng quy
chế tự do thuế quan, tự do mậu dịch.
Đặc khu kinh tế cũng nh khu chế xuất, về thực chất đợc coi là các hình
thức của chủ nghĩa t bản Nhà nớc, nơi đây không phải chỉ có một loại hình
kinh tế t bản Nhà nớc đơn độc, thuần tuý, mà có nhiều hình thức cụ thể, nh
gồm cả hình thức tô nhợng, liên doanh, cho t bản nớc ngoài thuê.v.v
Hiện nay ở nớc ta đang chủ trơng thí điểm thành lập khu chế xuất ở
Tân thuận, vì vấn đề còn hết sức mới mẻ nên cần tham khảo kinh nghiệm các
khu chế xuất trên thế giới.
2.5. Cho t bản trong và ngoài nớc, cho nông dân thuê các cơ sở sản
xuất Kinh doanh và các t liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét