5
Chuyên đề tốt nghiệp
cũng như góp phần điều tiết nền tài chính trong nước ổn định và phù hợp với
nền tài chính quốc tế.
1.1.2. Chức năng cơ bản của Ngân hàng.
1.1.2.1 Trung gian tài chính.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế: nhóm thứ nhất các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi
tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt qua thu nhập và vì thế họ là
những người cần bổ sung vốn; và nhóm thứ hai các cá nhân và tổ chức thặng dư
trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho
hàng hoá, dịch vụ và do vậy họ có một khoản tiền dư thừa tạm thời để tiết kiệm.
Trên thực tế hai loại cá nhân và tổ chức này hoàn toàn độc lập với Ngân hàng.
Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất nếu cả hai
cùng có lợi. Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính
giữa hai nhóm. Nhưng để hai nhóm này gặp nhau con đường ngắn nhất là có
một trung gian đứng giữa để đảm bảo điều kiện của các bên đặt ra. Và Ngân
hàng đã đứng ra làm trung gian đó và tất nhiên Ngân hàng sẽ được hưởng một
khoản lợi nhuận. Ngân hàng nhận tiền gửi từ nhóm thứ nhất với một khoản phí
nhất định và cho nhóm thứ hai vay với một khoản lãi lớn hơn để đảm bảo Ngân
hàng có lãi.
1.1.2.2. Tạo phương tiện thanh toán.
Trong nền kinh tế, tiền vàng là phương tiện thanh toán cơ bản được chấp
nhận rộng rãi nhất. Và các Ngân hàng đã không tạo được tiền vàng mà tạo các
phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng dựa vào số
tiền kim loại mà Ngân hàng hiện nắm giữ. Giấy nhận nợ do Ngân hàng phát
hành với ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được
nhiều người chấp nhận. Như vậy, ban đầu các Ngân hàng đã tạo ra phương tiện
thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm giữ.
5
5
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của Ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm
phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ; nó trở thành tiền giấy.
Ngày nay việc in tiền đã không còn được tự do như trước. Nhà nước đã tập
trung quyền lực phát hành tiền giấy vào một tổ chức: hoặc là Bộ Tài chính hoặc
là Ngân hàng Trung ương. Và trong điều kiện phát triển thanh toán qua Ngân
hàng, các khách hàng nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi
thanh toán, họ có thể chi trả để có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu.
Khi Ngân hàng cho vay, số dư triên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách
hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ. Do đó, bằng
việc cho vay các Ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán. Toàn bộ hệ thống
Ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản triền gửi được mở
rộng từ Ngân hàng này đến Ngân hàng khác trên cơ sở cho vay. Khi khách hàng
tại một Ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu của
một khách hàng khác tại một Ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay
mới. Trong khi không một Ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ
dư thừa, toàn bộ hệ thống Ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi gấp bội
thông qua hoạt động cho vay.
1.1.2.3. Trung gian thanh toán.
Ngân hàng là trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia.
Thay mặt khách hàng, Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch
vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, Ngân hàng
đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ
nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạmg lưới thanh toán điện tử, kết
nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các Ngân hàng còn thực
hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng Trung ương hoặc thông
qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua Ngân hàng càng đạt
hiệu quả cao khi qui mô sử dụng công nghhệ đó càng được mở rộng. Vì vậy,
công nghệ thanh toán hiện đại qua Ngân hàng thường được các nhà quản lí tìm
cách áp dụng rộng rãi. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo
6
6
7
Chuyên đề tốt nghiệp
tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các Ngân hàng trong một quốc
gia mà còn giữa các Ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán
quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua Ngân hàng, biến
Ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ
đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.3. Các dịch vụ Ngân hàng.
1.1.3.1 Nhận tiền gửi.
Để có tiền để cho vay, ngoài vốn tự có Ngân hàng thương mại phải huy động
vốn từ các nguồn khác nhau như là tiền nhàn rỗi của dân cư, tiền chưa sử dụng
của các doanh nghiệp và của Nhà nước dưới dạng tiền gửi thanh toán, tiền gửi
tiết kiệm. Trong quá trình nhân tiền gửi, các Ngân hàng thương mại phải trả cho
khác hàng mọi khoản lãi, đây được coi là phần thưởng cho khách hàng khi đã hi
sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép Ngân hàng sử dụng tạm thời để
kinh doanh và khoản tiền đó được gọi là lãi tiền gửi và đây cũng chính là một
trong những công cụ để các Ngân hàng cạnh tranh trong quá trình huy động tiền
gửi.
1.1.3.2. Mua bán ngoại tệ.
Mua bán ngoại tệ là một trong những dịch vụ quan trọng của các Ngân hàng
do tính chất không khép kính của nền kinh tế một quốc gia. Mua bán ngoại tệ
nghĩa là mua bán loại tiền này lấy một loại tiền khác để hưởng phí dịch vụ. Đây
là dịch vụ rất quan trọng giúp các doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động
buôn bán của mình với nước ngoài cũng như đáp ứng nhu cầu dùng ngoại tệ của
người dân. Ngày nay hoạt động này đã mở rộng ra với rất nhiều các hình thức
dịch vụ phong phú: mua bán, trao đổi, gửi vay các loại ngoại tệ với các nghiệp
vụ như giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn và tương lai. Các Ngân hàng
thương mại tham gia giao dịch ngoại hối với hai mục đích. Thứ nhất, Ngân hàng
cung cấp dịch vụ cho khách hàng, chủ yếu là mua hộ và bán hộ cho nhóm khách
hàng riêng lẻ, và Ngân hàng thu một khoản phí. Mục đích thứ hai là Ngân hàng
kinh doanh ngoại hối nhằm kiếm lời khi tỷ giá thay đổi.
7
7
8
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.3.3 Cho vay.
Đây là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận chủ yếu nhất cho các Ngân
hàng thương mại cũng như chứa đựng nhiều rủi ro nhất đối với các Ngân hàng
thương mại. Có thể phân chia cho vay thành các loại chính sau.
Cho vay thương mại: Đây là các khoản tín dụng phục vụ cho hoạt động mua
bán trao đổi hàng hoá của các doanh nghiệp thông qua các nghiệp vụ như cho
vay trực tiếp ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu dự trữ hàng hoá, trợ vốn lưu động và
cho vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu.
Cho vay tiêu dùng: Đây là loại hình cho vay dành cho người tiêu dùng là cá
nhân, hộ gia đình có nhu cầu vay để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho đời sống hàng
ngày. Ban đầu loại hình này không được các Ngân hàng thương mại ưa chuộng
vì họ cho rằng loại hình này rủi ro cao, nhưng sau đó, do có sư gia tăng thu nhập
của người dân cũng như sự cạnh tranh gay gắt, loại hình này đã phát triển một
cách mạnh mẽ.
Tài trợ cho dự án: Do nhu cầu mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp, các
Ngân hàng đã phát triển cho vay trung và dài hạn để các doanh nghiệp có thể
xây dựng nhà máy, mua sắm thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất, tăng cường
khoa học công nghệ.
1.1.3.4 Bảo lãnh.
Do nhu cầu phát triển nhanh chóng và đa dạng của thương mại hàng hoá đã
hình thành nên loại hình dịch vụ bảo lãnh, đây là việc Ngân hàng dùng uy tín
của mình để bảo lãnh cho khách hàng của mình mua hàng hoá chịu, tham gia
đấu thầu, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh hồi thanh toán, bảo lãnh tài chính.
1.1.3.5 Bảo quản tài sản hộ.
Ngân hàng cho khách hàng “thuê két” để bảo quản hộ khách hàng những
giấy tờ có giá, vàng, giấy tờ cầm cố hoặc giấy tờ quan trọng với nguyên tắc an
toàn, bảo mật và thuận tiện.
1.1.3.6. Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
8
8
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Khi khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng, Ngân hàng sẽ mở một tài khoản cho
khách hàng và không chỉ thực hiện việc bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi
trả khi có giấy thanh toán từ khách hàng gửi đến Ngân hàng, mở ra một phương
thức thanh toán không dùng tiền mặt. Đem lại tiện ích nhanh chóng đảm bảo và
tiết kiệm chi phí cho khách hàng. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông
tin, bên cạnh các phương thức thanh toán như séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, luân
chuyển đã phát triển các hình thức thanh mới bằng điện tử…
1.1.3.7.Quản lý ngân quỹ.
Các NHTM được biết đến là những nhà thủ quỹ và quản lý ngân quỹ chuyên
nghiệp, với kinh nghiệm quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu và chi tài
chính, nhiều Ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ
trong đó Ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một Công ty kinh doanh
và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh
lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
1.1.3.8. Tài trợ các hoạt động của chính phủ.
Ở hầu hết các quốc gia, các Chính phủ thường ở tình trạng thu không đủ chi,
vì vậy, Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của Ngân
hàng. Ngày nay, chính phủ giành quyền cấp giấy phép hoạt động và kiểm soát
các Ngân hàng. Các Ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ
phải cam kiết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài
trợ cho Chính phủ. Các Ngân hàng thương mại thường mua trái phiếu Chính phủ
theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà Ngân hàng huy động được.
1.1.3.9. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (leasing).
Các NHTM cho khách hàng thuê các tài sản, thiết bị, máy móc đắt tiền,
khách hàng không có nhu cầu dùng lâu dài hoặc không đủ tài chính để mua. Rất
nhiều Ngân hàng tích cực cho khách hàng quyền lựa chọn thuê các thiết bị máy
móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó Ngân hàng mua thiết bị và
cho khách hàng thuê với một số điều kiện nhất định. Dịch vụ này của Ngân hàng
9
9
10
Chuyên đề tốt nghiệp
cũng có nhiều điểm giống với cho vay và được xếp vào tín dụng trung và dài
hạn.
1.1.3.10. Các dịch vụ Ngân hàng khác
Ngoài các loại hình dịch vụ trên, Ngân hàng còn có các loại hình dịch vụ
khác như cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp các dịch vụ môi giới
đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý…
Cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn tức các Ngân hàng sẽ quản lý hộ tài
sản và quản lý hoạt động tài chính cho các cá nhân và doanh nghiệp có nhu cầu.
Dịch vụ uỷ thách này phát triển sang cả người vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ
thác phát hành, uỷ thác đầu tư… Thậm chí các Ngân hàng đóng vai trò là người
uỷ thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng qua đời bằng cách công bố
tài sản, bảo quản tài sản có giá. Nhiều khách hàng coi Ngân hàng như một
chuyên gia tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn đầu tư, về quản lý tài
sản, về thành lập mua bán, sát nhập doanh nghiệp…
Cung cấp các dịch vụ môi giói đầu tư chứng khoán tức là các Ngân hàng bán
các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ
phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác. Trong một vài trường hợp, các Ngân
hàng tổ chức ra Công ty chứng khoán hoặc các Công ty môi giới chứng khoán
để cung cấp dịch vụ môi giới. Các Ngân hàng còn tư vấn phát hành chứng khoán
cho các công ty khi các công ty có nhu cầu phát hành hoặc phát hành thêm các
loại chứng khoán để huy động vốn.
Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm tức Ngân hàng liên doanh với các Công ty
bảo hiểm hoặc tổ chức ra Công ty con để thực hiện việc bán bảo hiểm cho khách
hàng, điều đó đảm bảo cho việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị
tàn phế hoặc gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán. Ngân hàng
cung cấp các dịch vụ bảo hiểm như Tiết kiệm an sinh, Tiết kiệm hưu trí, Tiết
kiệm khuyến học…
10
10
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Cung cấp các dịch vụ đại lý tức Ngân hàng nhận làm Ngân hàng đại lý cho
các Ngân hàng khác và thực hiện các nghiệp vụ như thanh toán hộ, phát hành hộ
các chứng chỉ tiền gửi, làm Ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.
1.2 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.2.1. Khái niệm về tín dụng.
Tín dụng là là hoạt động kinh doanh cơ bản đầu tiên của các NHTM. Đây là
hoạt động sinh lời lớn nhất trong các hoạt động kinh doanh của các NHTM. Và
cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất đối với các NHTM. Có nhiều quan
điểm về tín dụng như: Tín dụng là hoạt động tài trợ của Ngân hàng đối với
khách hàng của mình. Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay.
Tín dụng là hoạt động kinh doanh của Ngân hàng dựa trên nguyên tắc bảo toàn
và sinh lời…
Tóm lại, Tín dụng là hoạt động tài trợ của Ngân hàng cho khách hàng nhằm
thoã mãn nhu cầu về vốn của khách hàng dựa trên nguyên tắc khách hàng phải
trả cả gốc và lãi đúng như thời hạn cam kết Trong quan hệ tín dụng, khách
hàng phải đảm bảo thanh toán cho Ngân hàng cả gốc và lãi đúng thời hạn cam
kết. Ngân hàng phải hoạt động trên nguyên tắc bảo toàn vốn và sinh lời.
1.2.2. Các hình thức của tín dụng
1.2.2.1 Chiết khấu thương phiếu.
Thương phiếu được hình thành chủ yếu từ quá trình mua bán chịu hàng hoá
và dịch vụ giữa khách hàng với nhau. Người bán (hoặc người hưởng thụ) có thể
giữ thương phiếu đến hạn để đòi tiền người mua (hoặc người phải trả) hoặc
mang đến Ngân hàng để xin chiết khấu trước hạn.
Sơ đồ 1.1. Chiết khấu thương phiếu:
Người bán
Người mua
Ngân hàng
(2)
(4)
11
(1)
11
12
Chuyên đề tốt nghiệp
(3)
(5)
(1) Người bán chuyển hàng hoá hoặc dịch vụ cho người mua;
(2) Thương phiếu được lập, người mua ký, cam kết trả tiền cho người bán
(người thụ hưởng) khi thương phiếu đến hạn và giao thương phiếu cho người
bán hoặc người hưởng thụ;
(3)Trong thời hạn có hiệu lực của thương phiếu, người bán có thể mang
thương phiếu đến Ngân hàng để xin chiết khấu;
(4) Sau khi kiểm tra độ an toàn của thương phiếu, Ngân hàng có thể phát tiền
cho người bán và nắm giữ thương phiếu (Ngân hàng có thể yêu cầu người bán
ký hậu vào thương phiếu, cam kết trả tiền cho Ngân hàng nếu người mua không
trả - quyền truy đòi đối với thương phiếu);
(5) Đến hạn, Ngân hàng chuyển thương phiếu đến người mua đòi tiền (nếu
người mua không trả, Ngân hàng có quyền đòi tiền của các bên ký tên trên
thương phiếu).
Số tiền Ngân hàng ứng trước phụ thuộc vào lãi suất chiết khấu, thời hạn chiết
khấu và lệ phí chiết khấu.
1.2.2.2. Cho vay.
Đây là hình thức tín dụng cơ bản của tất cả các NHTM. Và cũng là nghiệp vụ
mang lại thu nhập chính cho các NHTM. Cho vay được áp dụng với nhiều sản
phẩm đa dạng tuỳ vào năng lực mỗi Ngân hàng. Cho vay thường được áp dụng
với các hình thức sau:
Thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay qua đó Ngân hàng cho phép người vay được
chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất
định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi.
Để được thấu chi, khách hàng làm đơn xin Ngân hàng hạn mức thấu chi và
thời gian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho Ngân hàng). Trong quá trình
hoạt động, khách hàng có thể ký séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ… vượt quá số
dư tiền gửi để chi trả (song trong hạn mức thấu chi). Khi khách hàng có tiền
12
12
13
Chuyên đề tốt nghiệp
nhập về tài khoản tiền gửi, Ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi thấu chi. Các khoản
chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử dụng hình thức
này.
Cho vay trực tiếp từng lần: Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay
tương đối phổ biến của Ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay
thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Một số khách
hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu
cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay Ngân hàng, tức là vốn từ
Ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh
doanh.
Cho vay theo hạn mức: Là nghiệp vụ tín dụngtheo đó Ngân hàng thoả thuận
cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ
hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Hạn mức tín dụng được cấp
trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của
khách hàng.
Trong kỳ khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không
được quá hạn mức tín dụng. Một số trường hợp Ngân hàng quy định hạn mức
cuối kỳ. Dư nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức. Mỗi lần vay khách hàng chỉ
cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua
hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và
hợp lệ của chứng từ, Ngân hàng sẽ phát tiền cho khách hàng.
Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng
hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để
mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc quý, người
vay phải làm đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và khách hàng thoả thuận với
nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và
khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có thể được thoả thuận trong 1 năm hoặc
vài năm. Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn để Ngân hàng xem
13
13
14
Chuyên đề tốt nghiệp
xét lại mối quan hệ giữa Ngân hàng và khách hàng cũng như tình hình tài chính
của khách hàng.
Cho vay trả góp: Là hình thức tín dụng theo đó Ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả
góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợi cho tài
sản cố định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả nợ mỗi lần được tính toán sao cho phù
hợp với khả năng trả nợ.
Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn
mức nhất định. Ngân hàng sẽ thanh toán cho người bán lẻ về số hàng hoá mà
khách hàng đã mua trả góp. Các cửa hàng bán lẻ nhận ngay tiền sau khi bán
hàng từ phía Ngân hàng và làm đại lí thu tiền cho Ngân hàng, hoặc khách hàng
trả trực tiếp cho Ngân hàng. Đây là hình thức tín dụng tài trợ cho người mua
nhằm khuyến khích tiêu thụ hàng hoá.
Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung
gian. Ngân hàng cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội
Nông dân, Hội cựu chiến binh… Các tổ chức này thường liên kết các thành viên
theo một mục đích riêng, song chủ yếu đề hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyền lợi cho
mỗi thành viên. Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xoá đói giảm nghèo
luôn được các tổ chức này rất quan tâm.
Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ
chức trung gian như thu nợ, phát tiền vay… Ngân hàng cũng có thể cho vay
thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất. Việc cho
vay này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền vay sai mục đích.
Mục đích cho vay qua trung gian nhằm tiết kiệm chi phí cho vay, giảm bớt
rủi ro. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi dụng
vị thế của mình để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành
viên khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất
lượng hoặc với giá đắt cho người vay vốn.
1.2.2.3. Cho thuê tài chính.
14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét