Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động giao nhận hàng hoá quốc tế của công ty Vinafco Logistics

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
điều kiện thuận lợi để thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hoá, dịch vụ và thu
được lợi nhuận cao, đồng thời thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển”.
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.
1.1.2.1 Đối với doanh nghiệp.
Cạnh tranh là động lực cho doanh nghiệp, thúc đẩy các doanh nghiệp tự tìm cho
mình những biện pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trong quá trình
cạnh tranh, những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, chi phí sản xuất cao sẽ bị
đào thải, còn những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, chi phí thấp sẽ được tạo
môi trường tốt để phát triển. Điều này đã buộc các doanh nghiệp phải tối ưu hoá các
yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh, phải triệt để không ngừng sáng tạo, tìm tòi.
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
nắm bắt thông tin kịp thời, chớp thời cơ. Cạnh tranh quyết định vị thế của doanh
nghiệp trên thường trường thông qua những lợi thế mà doanh nghiệp đạt được nhiều
hơn đối thủ cạnh tranh. Đồng thời cạnh tranh cũng là yếu tố làm tăng hay giảm uy tín
của doanh nghiệp trên thương trường.
Để tham gia vào thị trường, doanh nghiệp phải tuân theo quy luật đào thải chọn
lọc. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tự nâng cao chất lượng của mình, nâng
cao trình độ kiến thức về kinh doanh.
1.1.2.2 Đối với người tiêu dùng.
Cạnh tranh mang lại cho người tiêu dùng những hàng hoá dịch vụ tốt hơn, tính
năng ưu việt hơn. Cạnh tranh đem đến cho người tiêu dùng ngày càng nhiều chủng
loại hàng hoá, đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của khách hàng. Không những thế
cạnh tranh đem lại cho người tiêu dùng sự thoả mãn hơn nữa về nhu cầu tiêu dùng.
1.1.2.3 Đối với nền kinh tế quốc dân.
- Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển bình đẳng mọi
thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
- Cạnh tranh là điều kiện quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, dựa trên tiến
bộ khoa học công nghệ ngày càng cao vào trong sản xuất, hiện đại hoá nền kinh tế.
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
- Cạnh tranh làm xoá bỏ những độc quyền bất hợp lý, xoá bỏ những bất bình đẳng
trong kinh doanh.
- Cạnh tranh ngày càng nâng cao đời sống xã hội, góp phần gợi mở nhu cầu kích
thích, nhu cầu phát triển.
- Cạnh tranh góp phần làm cho doanh nghiệp sử dụng tối ưu các nguồn lực khan
hiếm của xã hội.
Tuy nhiên không phải tất cả các mặt cạnh tranh đều mang tính tích cực mà bản
thân nó cũng phải thừa nhận là có những mặt tiêu cực của nó như:
+ Bị cuốn hút vào các mục tiêu kinh doanh, mà các doanh nghiệp đã không chú ý
đến các vấn đề xung quanh như: xử lý nước thải, ô nhiễm môi trường và các vấn đề
khác.
+ Cạnh tranh có thể có xu hướng dẫn tới độc quyền.
+ Cường độ cạnh tranh mạnh sẽ làm ngành yếu đi.
1.1.3 Các công cụ sử dụng để cạnh tranh.
1.1.3.1 Công cụ cạnh tranh bằng giá.
* Cạnh tranh bằng chính sách định giá:
- Chính sách định giá cao: Thực chất của chính sách này là đưa giá bán sản phẩm
cao hơn trên thị trường và cao hơn giá trị.
- Chính sách định giá ngang với giá thị trường: Là định mức giá bán sản phẩm
xoay xung quanh mức giá trên thị trường.
- Chính sách định giá thấp: Là chính sách định giá bán sản phẩm thấp hơn giá thị
trường để thu hút khách hàng về phía mình nhằm tăng khối lượng hàng hoá tiêu thụ.
* Cạnh tranh bằng hạ giá thành:
- Giảm chi phí cố định: Chi phí cố định bao gồm các khoản như: Khấu hao tài sản
cố định, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí trả lãi Để giảm chi
phí cố định trong giá thành đơn vị sản phẩm còn phải tận dụng thời gian hoạt động
của máy móc thiết bị, áp dụng khấu hao nhanh để giám bớt hao mòn vô hình bên
cạnh đó sắp tổ chức đội ngũ cán bộ quản trị hợp lý để giảm chi phí quản lý.
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
- Giảm chi phí thương mại: Chi phí thương mại liên quan đến các hoạt động tiêu
thụ sản phẩm trực tiếp có liên quan tới các động marketing đến các chi phí khác như
các chi phí quản lý khách hàng, chi phí lưu thông
- Giảm chi phí nhân công: Thông thường chi phí nhân công trong giá thành sản
phẩm được giảm bằng cách tăng năng suất lao động sử dụng yếu tố kỹ thuật thay thế
cho yếu tố lao động thông qua đầu tư đổi mới kỹ thuật công nghệ.
Mỗi chủ thể khi tham gia vào hoạt động kinh doanh đều phải biết đến phân tích
những đặc điểm, điểm mạnh, điểm yếu của mình, hạnh chế giảm bớt những điểm
yếu. Nếu những mặt mạnh của doanh nghiệp chính là lợi thế cho cạnh tranh thì cần
chú ý phát triển các lợi thế đó. Tuy nhiên các mặt khác mà doanh nghiệp không có lợi
thế bằng thì cũng không được bỏ qua. Sau đây là một số công cụ cạnh tranh chủ yếu
mà các doanh nghiệp thường sử dụng .
1.1.3.2 Công cụ cạnh tranh là sản phẩm và chất lượng sản phẩm.
* Công cụ cạnh tranh là sản phẩm.
- Đa dạng hoá sản phẩm:
+ Đa dạng hoá đồng tâm: Là hướng phát triển đa dạng hoá trên nền của sản phẩm
chuyên môn hoá dựa trên cơ sở khai thác mối quan hệ về công nghệ nguồn vật tư và
thế mạnh về cơ sở vật chất kỹ thuật.
+ Đa dạng hoá theo chiều ngang: Là hình thức tăng trưởng bằng cách mở rộng các
doanh mục sản phẩm và dịch cung cấp cho khách hàng hiện có của doanh nghiệp.
Thông thường những sản phẩm này không có mối liên hệ với nhau nhưng chúng có
những khách hàng hiện có nằm rất chắc.
+ Đa dạng hóa hỗn hợp: Là sự kết hợp của hai hình thức trên. Sử dụng chiến lược
này thường là những tập đoàn kinh doanh lớn hay những công ty đa quốc gia. Đa
dạng hóa hỗn hợp là xu thế của các doanh nghiệp hiện nay.
- Khác biệt hóa sản phẩm:
Khác biệt hoá sản phẩm là tạo ra những đặc điểm riêng độc đáo được thừa nhận
trong toàn nghành, có thể là nhờ vào lợi thế của sản phẩm. Khác biệt hoá sản phẩm
nếu đạt được sẽ là chiến lược tạo khả năng cho công ty thu được tỷ lệ lợi nhuận cao
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
hơn vởi vì nó tạo nên một vị trí vững chắc cho công ty trong việc đối phó với những
thế lực cạnh tranh. Khác biệt hóa sản phẩm tạo ra sự trung thành của khách hàng vào
nhãn hiệu sản phẩm, điều này sẽ dẫn đến khả năng ít biến động hơn về giá cả.
* Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm:
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng, thị trường ngày
càng đòi hỏi phải có những loại sản phẩm có chất lượng cao, thoả mãn nhu cầu người
tiêu dùng. Doanh nghiệp thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm để
nâng cao khả năng cạnh tranh, và chất lượng vượt trội hơn chất lượng sản phẩm của
các đối thủ cạnh tranh thì lúc đó sản phẩm của doanh nghiệp là khác biệt hoá. Còn ở
đây nhấn mạnh nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng cường sức cạnh tranh.
Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, đặc trưng kinh tế, kỹ thuật được thể
hiện qua sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu chuẩn xác định, phù hợp
với công dụng sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn. Chất lượng sản phẩm được
hình thành từ khi thiết kế sản phẩm cho đến khi sản xuất xong tác động đến chất
lượng sản phẩm: Khâu thiết bị sản phẩm, chất lượng nguyên vật liệu, chất lượng máy
móc thiết bị và để nâng cao chất lượng sản phẩm, trong quá trình sản xuất kinh doanh
cán bộ quản lý chất lượng phải chú ý ở tất cả các khâu trên, đồng thời phải có chế độ
kiểm tra chất lượng sản phẩm ở tất cả các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh
cho các nhân viên kiểm tra chất lượng thực hiện.
1.1.3.3 Chất lượng dịch vụ.
Một trong những chiến lược cạnh tranh quan trọng trong lĩnh vực dịch vụ là đảm
bảo một chất lượng dịch vụ của mình cao hơn so với chất lượng dịch vụ của các đối
thủ cạnh tranh. Chất lượng của dịch vụ được thể hiện qua nhiều yếu tố, nếu doanh
nghiệp không đủ điều kiện để phát triển mọi yếu tố chất lượng thì vẫn có thể đi sâu
vào khai thác thế mạnh một hoặc một vài yếu tố nào đó.
Để có thể cạnh tranh về mặt chất lượng, các doanh nghiệp cần phải hiểu biết
những mong đợi của khách hàng về mặt chất lượng như họ muốn cái gì?, khi nào?, ở
đâu?, và dưới hình thức nào?. Bên cạnh đó, để tạo sự khác biệt về chất lượng với các
đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp bắt buộc phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ các bộ công nhân viên và nâng
cao mức độ hiện đại hoá công nghệ. Đảm bảo chất lượng luôn là phương chân kinh
doanh và vũ khí cạnh tranh rất hiệu quả của nhiều doanh nghiệp trên thế giới.
Trong điều kiện cạnh tranh mãnh mẽ hiện nay, các doanh nghiệp dịch vụ còn sử
dụng công cụ chất lượng ở khía cạnh tạo ra sự khác biệt hoá, thậm chí còn độc đáo và
duy nhất trên thị trường. Đây là một vấn đề cần thiết. quan trọng nhưng cũng rất khó
do quy trình sản xuất dịch vụ không đựơc bảo hộ bởi các bằng sáng chế. Vì vậy, các
doanh nghiệp dịch vụ bên cạnh việc đưa ra nhiều dịch vụ mới đã cố gắng đa dạng hoá
các dịch vụ cung ứng trên cơ sở đảm bảo chất lượng phân biệt để thu hút khách hàng.
Cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ là một trong những công cụ cơ bản nhất mà
các các doanh nghiệp thường áp dụng để nâng cao sức cạnh tranh dịch vụ của mình.
Xã hội ngày càng phát triển thì đòi hỏi càng cao về chất lượng thì vấn đề cạnh tranh
bằng chất lượng dịch vụ càng trở nên gay gắt. Chính vì vậy đối với những quốc gia
mà trình độ phát triển còn hạn chế sẽ rất khó có khả năng cạnh tranh trên thị trường
quốc tế.
1.2 Lý luận chung về dịch vụ giao nhận hàng hoá quốc tế.
1.2.1 Khái niệm hoạt động giao nhận hàng hoá quốc tế.
Đặc điểm của buôn bán quốc tế là người mua và người bán ở những nước khác
nhau. Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, người bán thực hiện việc giao hàng,
tức là hàng hóa được vận chuyển từ người bán sang người mua. Để cho quá trình vận
chuyển đó được bắt đầu - tiếp tục - kết thúc, tức là hàng hóa đến tay người mua, cần
phải thực hiện hàng loạt các công việc khác liên quan đến quá trình chuyên chở như
bao bì, đóng gói, lưu kho, đưa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu,
vận tải hàng hóa đến cảng đích, dỡ hàng ra khỏi tàu và giao cho người nhận hàng…
Những công việc đó được gọi là giao nhận vận tải hàng hóa.
Theo quy tắc mẫu của Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận (FIATA) thì dịch
vụ giao nhận hàng hoá quốc tế (International Freight Forwarding) được định nghĩa
như là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp,
đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
các dịch vụ trên, kể cả vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập
chứng từ liên quan đến hàng hóa giữa 2 quốc gia khác nhau.
Theo Luật Thương mại Việt Nam "Dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương
mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức
vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan
để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc
của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là các khách hàng)".
Như vậy, giao nhận hàng hóa quốc tế là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có liên
quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng
đến nơi nhận hàng (giữa hai quốc gia khác nhau).
1.2.2 Nội dung của hoạt động giao nhận hàng hoá quốc tế.
Trừ phi chính người gửi hàng hoặc người nhận hàng muốn trực tiếp tham gia vào
bất cứ khâu thủ tục hoặc chứng từ nào, còn thông thường người giao nhận thay mặt
chủ hàng lo liệu quá trình vận chuyển qua các giai đoạn khác nhau. Người giao nhận
có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý hoặc thuê dịch vụ của
người thứ ba khác. Dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế bao gồm bốn loại thông dụng
trên thế giới hiện nay là:
1.2.2.1 Loại dịch vụ thay mặt người gửi hàng (người xuất khẩu).
Theo những chỉ dẫn của người gửi hàng, người giao nhận sẽ thực hiện các nhiệm
vụ sau đây:
- Chọn tuyến đường, phương thức vận tải và người chuyên chở thích hợp.
- Lưu cước với người chuyên chở đã chọn.
- Nhận hàng và cung cấp những chứng từ thích hợp như: giấy chứng nhận hàng
của người giao nhận, giấy chứng nhận chuyên chở của người giao nhận…
- Nghiên cứu những điều khoản trong tín dụng thư và tất cả những luật lệ của
Chính phủ áp dụng vào việc giao hàng ở nước xuất khẩu, nước nhập khẩu cũng
như ở bất kỳ nước quá cảnh nào, và chuẩn bị tất cả những chứng từ cần thiết.
- Đóng gói hàng hóa (trừ phi việc này do người gửi hàng làm trước khi giao hàng
cho người giao nhận) có tính đến tuyến đường, phương thức vận tải, bản chất của
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
hàng hóa và những luật lệ áp dụng nếu có ở nước xuất khẩu, nước quá cảnh và nước
gửi hàng đến.
- Lo liệu việc lưu kho hàng hóa nếu cần.
- Cân, đo hàng hóa.
- Mua bảo hiểm cho hàng hóa nếu người gửi hàng yêu cầu.
- Vận tải hàng hóa đến cảng, thực hiện việc khai báo hải quan, các thủ tục chứng
từ liên quan và giao hàng cho người chuyên chở.
- Thực hiện việc giao dịch ngoại hối, nếu có.
- Thanh toán phí và những chi phí khác bao gồm cả tiền cước.
- Nhận vận đơn đã ký của người chuyên chở giao cho người gửi hàng.
- Thu xếp việc chuyển tải trên đường nếu cần thiết.
- Giám sát việc vận tải hàng hóa trên đường gửi tới người nhận hàng thông qua
những mối liên hệ với người chuyên chở và đại lý của người giao nhận ở nước ngoài.
- Ghi nhận những tổn thất của hàng hóa, nếu có.
- Giúp đỡ người gửi hàng tiến hành khiếu nại với người chuyên chở về tổn thất
hàng hóa, nếu có.
1.2.2.2 Loại dịch vụ thay mặt người nhận hàng (người nhập khẩu).
Theo những chỉ dẫn giao hàng của khách hàng, người giao nhận sẽ:
- Thay mặt người nhận hàng giám sát việc vận tải hàng hóa khi người nhận hàng
lo liệu vận tải hàng hóa.
- Nhận và kiểm tra tất cả những chứng từ liên quan đến việc vận chuyển hàng
hóa…
- Nhận hàng của người chuyên chở và nếu cần thì thanh toán cước.
- Thu xếp việc khai báo hải quan và trả lệ phí, thuế và những phí khác cho Hải
quan và những cơ quan khác.
- Thu xếp việc lưu kho quá cảnh nếu cần.
- Giao hàng đã làm thủ tục hải quan cho người nhận hàng.
- Giúp đỡ người nhận hàng tiến hành khiếu nại đối với người chuyên chở về tổn
thất hàng hóa nếu cần.
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
- Giúp người nhận hàng trong việc lưu kho và phân phối nếu cần.
1.2.2.3 Dịch vụ giao nhận hàng hóa đặc biệt.
Người giao nhận thường thực hiện việc giao nhận hàng bách hóa bao gồm nhiều
loại thành phẩm, bán thành phẩm, hay hàng sơ chế và những hàng hóa khác giao lưu
trong buôn bán quốc tế. Ngoài ra tùy theo yêu cầu của khách hàng, người giao nhận
cũng có thể làm những dịch vụ khác có liên quan đến các loại dịch vụ hàng hóa đặc
biệt như:
- Vận chuyển hàng công trình.
Việc này chủ yếu là vận chuyển máy móc nặng, thiết bị để xây dựng những
công trình lớn như sân bay, nhà máy hóa chất, nhà máy thủy điện, cơ sở lọc dầu từ
nơi sản xuất đến công trường xây dựng. Việc di chuyển những hàng hóa này cần phải
có kế hoạch cẩn thận để đảm bảo giao hàng đúng thời hạn và có thể cần phải sử dụng
cần cẩu loại nặng, xe vận tải ngoại cỡ, tàu chở hàng loại đặc biệt Đây là một lĩnh
vực chuyên môn hóa của người giao nhận.
- Dịch vụ về vận chuyển quần áo treo trên mắc.
Những quần áo may mặc được chuyên chở bằng những chiếc mắc áo treo trên
giá trong những container đặc biệt, và ở nơi đến được chuyển trực tiếp từ
container vào cửa hàng để bày bán. Cách này loại bỏ được việc phải chế biến lại
quần áo nếu đóng nhồi trong container và đồng thời tránh được ẩm ướt, bụi bẩn…
- Triển lãm ở nước ngoài.
Người giao nhận thường được người tổ chức triển lãm giao cho việc chuyên chở
hàng đến nơi triển lãm ở nước ngoài. Người giao nhận phải tuân thủ những chỉ dẫn
đặc biệt của người tổ chức triển lãm về phương thức chuyên chở được sử dụng, về
nơi cụ thể làm thủ tục hải quan ở nước đến khi giao hàng triển lãm, về những chứng
từ cần lập…
1.2.2.4 Dịch vụ khác.
Ngoài những dịch vụ nêu trên, tùy thuộc vào yêu cầu của khách hàng, người giao
nhận cũng có thể làm những dịch vụ khác phát sinh trong quá trình chuyên chở và cả
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
những dịch vụ đặc biệt như gom hàng, có liên quan đến hàng công trình, các dự án
chìa khóa trao tay…
Người giao nhận cũng có thể thông báo cho khách hàng của mình về nhu cầu tiêu
dùng, những thị trường mới, tình hình cạnh tranh, chiến lược xuất khẩu, những điều
khoản thích hợp cần đưa vào hợp đồng mua bán ngoại thương và nói chung là tất cả
những vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh của khách hàng.
1.2.3 Trình tự nghiệp vụ giao nhận hàng hoá quốc tế.
Đối với mỗi phương thức vận tải, đối với mỗi loại hàng hóa khác nhau thì trình tự
nghiệp vụ giao nhận hàng hóa cũng khác nhau. Ở đây chỉ đề cập tới trình tự giao
nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại cảng biển để hiểu hơn về hoạt động giao nhận hàng
hoá quốc tế.
1.2.3.1 Trình tự nghiệp vụ giao nhận hàng xuất khẩu.
Bước1: Chuẩn bị hàng để giao cho người vận tải.
• Chuẩn bị hàng hoá, nắm tình hình tàu:
Nghiên cứu hợp đồng mua bán và L/C để chuẩn bị hàng hoá. Chuẩn bị các chứng
từ cần thiết để làm thủ tục hải quan. Tiến hàng lưu cước. Lập Bảng danh mục hàng
xuất khẩu gửi hãng tàu.
• Kiểm tra hàng hoá
Về số lượng, trọng lượng, phẩm chất có phù hợp với hợp đồng mua bán hay
không. Xin kiểm nghiệm, giám định, kiểm dịch (nếu cần) và lấy giấy chứng nhận hay
biên bản thích hợp.
Bước2. Giao hàng cho người vận tải.
• Làm thủ tục hải quan.
Đăng ký tờ khai hải quan. Tính thuế sơ bộ và ra thông báo thuế. Kiểm hoá. Tính
lại thuế và nộp thuế.
• Giao hàng hoá xuất khẩu cho tàu.
- Đối với hàng đóng trong container.
+ Nếu gửi hàng nguyên container (FCL):
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
TS. Bùi Huy Nhượng Chuyên đề tốt nghiệp
_________________________________________________________________________
. Người gửi hàng điền và ký Booking note rồi giao lại cho đại diện hãng tàu để
xin ký cùng Bản danh mục hàng xuất khẩu.
. Hãng tàu ký Booking note, cấp lệnh giao vỏ cotainer để chủ hàng mượn.
. Người gửi hàng đưa container rỗng về kho của mình để đóng hàng vào, lập Bản
chi tiết đóng gói, mang hàng ra cảng để làm thủ tục hải quan.
. Giao hàng cho tàu tại CY quy định, lấy Biên lai thuyền phó để lập B/L.
. Cảng bốc container lên tàu, người gửi hàng mang Biên lai thuyền phó đến hãng
tàu hoặc đại lý để lấy B/L.
+ Nếu giao hàng lẻ (LCL):
. Người gửi hàng mang hàng đến giao cho người vận tải tại CFS quy định và lấy
HB/L.
. Người chuyên chở hoặc người gom hàng đóng các lô hàng lẻ đó vào container,
xếp container lên tàu và vận chuyển đến nơi đến.
. Thanh lý, thanh khoản tờ khai hải quan.
- Đối với hàng hoá thông thường.
Người gửi hàng trực tiếp giao hàng cho tàu hay uỷ thác cho cảng để cảng giao
hàng cho tàu, cũng có thể giao nhận tay ba (người gửi, cảng, tàu) theo các bước:
. Trước khi xếp phải vận chuyển hàng từ kho cảng, lấy lệnh xếp hàng.
. Tiến hành bốc và giao hàng cho tàu.
. Sau khi xếp hàng lên tàu, cảng sẽ lập Bản tổng kết xếp hàng lên tàu.
. Lấy Biên lai thuyền phó để trên cơ sở đó lập B/L.
. Thông báo cho người mua về việc giao hàng và mua bảo hiểm cho hàng hoá
(nếu cần).
Bước3. Lập bộ chứng từ thanh toán.
Căn cứ vào hợp đồng mua bán và L/C, cán bộ giao nhận phải lập hay lấy các
chứng từ cần thiết để tập hợp thành bộ chứng từ thanh toán và xuất trình cho ngân
hàng để thanh toán tiền hàng.
Bước4. Quyết toán.
_________________________________________________________________________
Nguyễn Đăng Dương Lớp KDQT 46A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét