Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

146 Vấn đề về đào tạo nguồn nhân lực con người trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

Hai là, tỷ trọng và số tuyệt đối lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm u
thế so với lao động giản đơn trong tổng lao động xã hội.
Ba là, tốc độ tăng lao động trong các ngành phi sản xuất vật chất (dịch
vụ) tăng nhanh hơn tốc độ lao động trong các ngành sản xuất vật chất.
Song song với phân phối lại thu nhập là vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh
tế bao gồm:
Cơ cấu ngành kinh tế: Trong những năm trớc mắt cơ cấu ngành ở nớc ta
sẽ đợc xác định là cơ cấu công - nông nghiệp -dịch vụ.
Cơ cấu vùng kinh tế: phải tạo điều kiện cho tất cả các vùng đều phát triển
trên cơ sở khai thác thế mạnh và tiềm năng của mỗi vùng, liên kết giữa các
vùng, làm cho mỗi vùng đều có cơ cấu kinh tế hợp lý và đều có chuyển biến
tiến bộ góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nớc.
Cơ cấu giữa thị tứ, thị xã, thị trấn, thành phố và đô thị tùy điều kiện từng
nơi, tất cả các thị xã, thị trấn đều đợc phát triển trên cơ sở đẩy mạnh công
nghiệp, dịch vụ mang ý nghĩa tiểu vùng. Hình thành các thị tứ làm trung tâm
kinh tế, văn hóa cho mỗi xã hoặc cụm xã.
Cơ cấu thành phần kinh tế lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên
tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hớng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
b. Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đi đôi
với tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới từ nớc ngoài. Đó là:
Cách mạng về phơng pháp sản xuất đó là tự động hóa.
Cách mạng về năng lợng
Cách mạng về vật liệu mới.
Cách mạng về công nghệ sinh học
Cách mạng về điện tử và tin học
2. Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực con ngời trong sự nghiệp công
nghiệp hóa - hiện đại hóa.
a. Vai trò thực trạng nguồn nhân lực ở nớc ta
5
Thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa là một quy luật khách hang,
một đòi hỏi tất yếu của nớc ta. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, chúng ta đang
thực cơ chế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết quản lý
của Nhà nớc thì công nghiệp hóa - hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm xuyên
suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong những chính sách, đờng lối về công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nớc, Đảng ta luôn chủ trơng lấy việc phát huy nguồn lực con ngời làm yếu tố cơ
bản cho sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế đất nớc. Để đẩy mạnh,
nhanh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, chúng ta phải có một nguồn lực
có đầy đủ sức mạnh cả về thể lực lẫn trí lực. Nguồn nhân lực là yếu tố, điều
kiện đầu vào quyết định nhất vì nguồn nhân lực quyết định phơng hớng, đầu t,
nội dung, bớc đi và biện pháp thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại
hóa. Do đó cần phải chú trọng tới việc phát triển nguồn nhân lực - con ngời cả
về số lợng và chất lợng, năng lực và trình độ. Đây chính là vấn đề cấp bách, lâu
đài và cơ bản trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nớc.
Nghị quyết IV Ban chấp hành Trung ơng Đảng khóa VII nêu rõ: Cùng
với khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực
thúc đẩy. Nh vậy, giáo dục là một dạng đầu t cho sự phát triển vì nó là động lực
thúc đẩy kinh tế phát triển. Sự nghiệp giáo dục đao tạo có tính xã hội hóa cao.
Nền giáo dục và đào tạo tốt sẽ cho chúng ta nguồn nhân lực với đủ sức mạnh,
đáp ứng yêu cầu trớc mắt và lâu dài. Do vậy sự nghiệp giáo dục phải là sự
nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, đồng thời phải tranh thủ sự hợp tác, ủng hộ của
các nớc trên thế giới thông qua việc hợp tác giáo dục.
Mặc dù nền giáo dục của nớc ta đợc sự quan tâm sâu sắc của Đảng và
Nhà nớc, nhng nó vẫn cha phát triển tơng xứng với tiềm năng và vẫn cha hoàn
thành nhiệm vụ đợc giao.
* Số lợng
Theo điều tra lao động và việc làm tháng 7 năm 2000, dân số trong độ
tuổi lao động (nam từ 15 - 60, nữ 15 - 55 tuổi) ở Việt Nam là 46,2 triệu ngời,
chiếm 59% tổng số dân (1989 chỉ là 55%). Trong thập kỷ qua, Việt Nam đang
6
chuyển dần từ giai đoạn cấu trúc dân số trẻ sang "cơ cấu dân số vàng" - d lợi
dân số", đó là thời kỳ tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động ở mức cao trong khi tỷ
lệ dân số phụ thuộc giảm (số trẻ em giảm dần và tỷ lệ ngời già cha tăng cao).
Dự báo dân số Việt Nam hai thập kỷ đầu thế kỷ 21 sẽ duy trì "cơ cấu dân số
vàng" với tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tiếp tục tăng cao và đạt đỉnh cao
nhất là gần 70% vào năm 2009 (56 triệu ngời). Trong 10 năm (1999 - 2009),
mỗi năm có thêm 1,8 triệu ngời bớc vào độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên),
trong khi đó số ngời ra khỏi độ tuổi lao động (60 tuổi trở lên), chỉ có 0,35 triệu
ngời. Dự tính trong 10 năm tới, mức tăng dân số trong độ tuổi lao động bình
quân là 2,5% gấp hơn hai lần tăng nguồn nhân lực cao nhất từ trớc đến nay
trong lịch sử dân số Việt Nam. Đó vừa là tiềm năng, cơ hội lớn về nguồn nhân
lực và là thách thức rất lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm.
Với số lợng ngời bớc vào độ tuổi lao động đạt mức kỷ lục nh hiện nay,
cùng với hàng chục vạn lao động dôi d từ các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nớc, 2
thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 sẽ tạo ra áp lực rất lớn về việc làm và nguồn vốn
đang căng thẳng với tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao (một số lao động thất nghiệp
rơi vào nhóm lao động trẻ đợc đào tạo, gây ra nhiều hậu quả cả về kinh tế xã
hội. Bên cạnh đó còn có hàng triệu ngời già tuy tuổi cao nhng vẫn còn khả năng
và mong muốn đợc làm việc.
Trên phạm vi cả nớc, cấu trúc dân số biến đổi tạo cơ hội thuận lợi cho sự
phát triển kinh tế, tuy nhiên do hoàn cảnh địa lý và tình hình kinh tế - xã hội
khác nhau giữa các vùng miền, nên ở các tỉnh đồng bằng do mức sinh sống thấp
trong nhiều năm qua và "cơ cấu dân số vàng" đã bắt đầu phát huy tác dụng, tạo
ra nhiều thách thức lớn về việc làm cho địa phơng vốn đất chật ngời đông. Tại
các tỉnh vùng Tây Nguyên, miền núi Tây Bắc, do mức sinh ở những vùng này
vẫn còn cao nên cấu trúc dân số còn trẻ. Luồng di c tự phát rất lớn đổ từ các
vùng nông thôn, miền núi đến các thành phố, Tây Nguyên và vùng Đông Nam
Bộ. Trong một số doanh nghiệp ở các vùng này, số lao động ngoại tỉnh chiếm
đến 80%.
* Chất lợng
7
Mặc dù là quốc gia đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo, trên 90%
dân số biết chữ, song hiện tại ở nớc ta, cứ 3 trẻ em (dới 5 tuổi) thì có một cháu
bị suy dinh dỡng, cứ 3 bà mẹ mang thai thì 1 ngời bị thiếu máu, thậm chí ở
những vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn, cứ 2 trẻ em thì có 1 chú bị suy dinh
dỡng. Tuy cha có số liệu chung về cả nớc song các nghiên cứu cho thấy thể lực
của thanh niên Việt Nam tiến bộ rất chậm trong nhiều năm qua. Chiều cao
trung bình của thanh niên Việt Nam cuối thập kỷ 80 chỉ là 161 - 162 cm (so với
160 cm và 1930. Nh vậy sau 50 năm, chiều cao của thanh niên Việt Nam hầu
nh không thay đổi). Trong khi đó xu hớng chung ở các nớc phát triển là chiều
cao trung bình của nam thanh niên cứ sau 10 năm sẽ tăng 1 cm và nặng thêm 1
kg.Tại khu vực thành thị nh Hà Nội, dù tỷ lệ trẻ em suy dinh dỡng đã hạ thấp,
song lại xuất hiện hiện tợng thừa dinh dỡng (béo phì) đang có xu hớng tăng.
Nghiên cứu chọn mẫu ở một số trờng Đại học ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh cho thấy tỷ lệ học sinh béo phì 2-4%.
Tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS tiếp tục có xu hớng gia tăng và lây lan
trong cộng đồng. Trong số hơn 26.000 ngời bị nhiễm HIV/AIDS có khoảng
50% ở độ tuổi thanh niên (dới 30 tuổi), đặc biệt 1,2/1000 phụ nữ mang thai bị
nhiễm HIV. Đối với tệ nạn ma túy, gần 70% trong số 100.000 ngời nghiện ma
túy ở nhóm tuổi dới 30.
Số lợng ngời lao động tuy tăng và d thừa, nhng lại yếu về sức khỏe, trình
độ tay nghề hạn chế lao động khu vực thành thị ở Hà Nội thừa khoảng 7,5% và
ở thành phố Hồ Chí Minh là 6,5% (đó là cha kể hàng chục van lao động dôi d
do sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nớc). Tại khu vực nông thôn còn d thừa 26%
quỹ thời gian lao động, tơng đơng khoảng 9 triệu ngời, nhng 95,5% lao động
không có tay nghề. Theo tổng điều tra dân số (4/1999) trong số những ngời từ
13 tuổi trở lên 92,4% là không có trình độ chuyên môn. Mặc dù thời điểm hiện
tại, mỗi năm có thêm khoảng 1,6 triệu ngời bớc vào độ tuổi lao động, nhng theo
dự báo trong 10 năm tới, số lợng này sẽ tăng lên mức cao nhất là 1,8 triệu ngời,
do đó việc đào tạo, nâng cao tay nghề và tạo việc làm cho số lao động hiện tại
8
cũng nh cho số thanh niên mới bớc vào độ tuổi lao động sẽ thách thức vô cùng
lớn.
Cơ cấu nguồn lao động đợc đào tạo trong những năm qua còn rất bất hợp
lý. Nếu năm 1979 cứ 1 cán bộ Đại học , cao đẳng có 2,2 cán bộ trung học
chuyên nghiệp và 7,1 công nhân kỹ thuật thì đến năm 1997, cơ cấu này là 1-
1,5-1,7 và 1999 là hợp lý, cứ 4 cán bộ đại học mới có 1 công nhân kỹ thuật cao.
Đây chính là tình trạng "thầy nhiều hơn thợ". Tại các nớc phát triển thì cứ 1
thầy có 10 thợ, nhng ở nớc ta, bình quân một thầy chỉ có 0,95 thợ. Trong khi số
sinh viên đại học tăng nhanh thì số công nhân kỹ thuật giảm dần (1979 chiếm
70% , đến năm 1999 giảm xuống còn 30,3% trong tổng số lực lợng lao động kỹ
thuật). Trong các năm 1996 - 1998, bình quân công nhân kỹ thuật tăng
6,3%/năm nhng số sinh viên đại học, cao đẳng tăng 27,5%. Một thực tế đáng lo
ngại nh tại các khu công nghiệp ở Đồng Nai, từ nay đến 2010, mỗi năm cần
khoảng 20 ngàn lao động kỹ thuật, nhng khả năng đào tạo nghề cũng cung ứng
12.000 ngời/năm. Năm 1997 khu chế xuất Tân Thuận cần tuyển 15.000 lao
động kỹ thuật nhng chỉ tuyển đợc 3000 ngời đủ tiêu chuẩn.
Hiện nay nhu cầu tuyển lao động kỹ thuật hầu nh không đợc đáp ứng
đầy đủ, trong khi lao động phổ thông lại d thừa quá nhiều.
Tỷ lệ lao động kỹ thuật đã thấp lại phân bổ không đồng đều giữa các
ngành và các thành phần kinh tế. Rất nhiều lao động kỹ thuật tập trung ở các cơ
quan trung ơng. Các ngành nông - lâm - ng nghiệp, các thành phần kinh tế tập
thể , t nhân, cá thể còn thiếu nhiều lao động kỹ thuật. ở khu vực nông thôn, số
lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ càng thấp (chỉ khoảng 4%). Đặc biệt vùng
miền núi, hải đảo, đang thiếu lao động kỹ thuật và trí thức trầm trọng, trong khi
số tri thức d thừa giả tạo ở thành phố ngày càng nhiều. Không những vậy, có
những lao động sau khi đợc đào tạo đã không làm đúng ngành nghề, thậm chí
còn làm công việc của lao động giản đơn.
b. Những nguyên nhân dẫn đến chất lợng nguồn nhân lực Việt Nam
còn yếu kèm.
9
Một là lực lợng và cơ sở trang thiết bị quá thiếu thốn, y tế cơ sở không
đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đặc biệt là miền núi, vùng sâu, vùng
xa. Tình trạng bệnh tật vẫn còn nặng nền. Hơn nữa những kiến thức cơ bản về
chăm sóc sức khỏe cho nhân dân còn thấp, vệ sinh môi trờng còn rất kém, ô
nhiễm, môi trờng ngày càng nghiêm trọng. Đặc biệt là cung cấp nớc sạch và xử
lý chất thải các loại có tác động bất lực đến sức khỏe nhân dân.
Hai là, cơ cấu giáo dục đào tạo giữa các bậc học, các ngành học, khối
ngành học trong cả nớc nói chung và ở từng khu vực nói riêng còn bất hợp lý.
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do sự điều tiết của Nhà nớc về giáo
dục đào tạo cha hiệu quả thể hiện:
Việc điều tiết, quản lý, giám sát thực hiện các chỉ tiêu tuyển sinh ở các
bậc học, ngành học, khối học còn nhiều bất hợp lý. Các trờng, các ngành học,
mở rộng hoặc thu hút chỉ tiêu tuyển sinh tùy ý, dẫn tới tình trạng có những
ngành đã thừa lại càng thừa trong khi các chuyên ngành đã thiếu lại càng thiếu.
Các chính sách, biện pháp khuyến khích theo học những ngành học, khối
ngành học mà xã hội cần nhng bản thân đối tợng không muốn học là cha hiệu
quả.
Việc mở rộng tràn lan các loại hình đào tạo là một nguyên nhân gây ra
tình trạng này.
Một số chế độ, chính sách đã ban hành đến nay có những điểm không
còn phù hợp hoặc thiếu những văn bản cụ thể nên cha khuyến khích cán bộ,
công nhân viên trong các cơ sở sản xuất cũng nh các cơ quan Nhà nớc, trong
các tầng lớp xã hội bồi d ỡng nâng cao trình độ văn hóa.
Ba là, kinh phí giáo dục đào tạo. Do khu vực t nhân ở Việt Nam cha phát
triển và Nhà nớc cũng cha có chính sách chia sẻ gánh nặng này cho khu vực t
nhân nên phần chủ yếu là từ ngân sách Nhà nớc nh vậy mức chi ngân sách Nhà
nớc nh vậy mức chi ngân sách cho giáo dục đào tạo đã có sự gia tăng chút ít nh-
ng cha đáp ứng đợc yêu cầu cũng nh cha phản ánh sự u tiên và cha tơng xứng
với khả năng, còn vào loại rất thấp so với nhiều nớc trong khu vực và thế giới.
10
Bốn là, mục tiêu, nội dung, chơng trình hình thức, phơng thức và phơng
pháp đào tạo chậm đổi mới. Trong những năm gần đây, ngành giáo dục và đào
tạo đã có những nỗ lực lớn nhằm đổi mới các nội dung đó. Bớc đầu đã thu đợc
những kết quả nhất định song còn cha tơng xứng với tiềm năng và yêu cầu đặt
ra.
Năm là, đội ngũ giáo viên ở các trờng còn yếu, thiếu về số lợng năng lực
giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Ngoài ra chính sách đãi ngộ cha thỏa đáng nên
không phát huy đợc tiềm năng và nhiệt huyết của họ.
Sáu là, mạng lới trờng và trung tâm đào tạo bố trí còn phân tán, hiệu quả
đầu t sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật kém, lãng phí, chồng chéo.
Bảy là, một bộ phận nhỏ công nhân cha nhận thức đầy đủ về sự cần thiết
phải nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề nên còn thờ ơ, cha thực sự cố gắng
hoặc tận dụng những điều kiện đã có để tự học tập, bồi dỡng nâng cao trình độ
của bản thân.
II. Một số giải pháp nhằm giải quyết hợp lý vấn đề về nguồn
nhân lực
Nhìn rõ đợc thực trạng về nguồn nhân lực của nớc ta để chúng ta phát
huy những điểm mạnh, khắc phục và hạn chế những điểm yếu đồng thời đa ra
những yêu cầu đối với giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực.
Để đảm bảo chất lợng về mặt thể lực cho nguồn nhân lực trong tơng lai,
các chơng trình bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em, đặc biệt chơng trình bảo vệ
sức khỏe phụ nữ, phòng chống suy dinh dỡng theo hớng ngăn ngừa cần đợc tiếp
tục đầu t từ quan tâm và sẽ phải đặc biệt chú ý đến các vùng miền núi, vùng sâu,
vùng xa để giảm dần sự cách biệt giữa các vùng.
Các chơng trình tuyên truyền giáo dục càn đợc tăng cờng để ngăn ngừa
từ xa các tệ nạn lạm dụng ma túy, đặc biệt trong thanh thiếu niên.
Trong trình tự giải quyết phải đi tuần tự từ tiếp tục xóa mù chữ, phổ cập
tiểu học, đang bị những kiến thức cơ bản, đào tạo nghề từ sơ cấp đến các bậc
cao hơn những phải tạo ra một bộ phận ngời lao động có chất lợng cao, đặc biệt
11
phải chú trọng đào tạo lao động kỹ thuật, nhằm đáp ứng nhu cầu của những
ngành công nghệ mới, các khu công nghiệp và các khu kinh tế mở.
Việc mở rộng quy mô giáo dục đào tạo là rất cần thiết. Nhng cố gắng mở
rộng quy mô giáo dục đào tạo của nớc ta vẫn không theo kịp tốc độ gia tăng dân
số. Quy mô mọi ngành, bậc học hiện nay đều cha đáp ứng đợc yêu cầu theo học
của mọi lứa tuổi. Nhìn chung số học sinh và số trờng lớp ở mọi ngành học từ
mẫu giáo, các cấp phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, đều
tăng các hệ thống trung tâm xúc tiến việc làm, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp,
hớng nghiệp và nhiều cơ sở dạy nghề bán công, dân lập, t thục đợc thành lập.
Quy mô đào tạo có chuyển biến là nhờ tăng cờng hình thức đào tạo ngắn hạn.
Riêng đối với quy mô của hệ thống đào tạo nghề ngày càng bị thu hẹp. Đảng và
Nhà nớc cần có chính sách khuyến khích mở rộng và hỗ trợ cho các trờng dạy
nghề nhằm thu hút học sinh, sinh viên, khắc phục sự mất cân đối trong cơ cấu
ngành học, bậc học của giáo dục và đào tạo. Giáo dục mầm non có tầm quan
trọng đặc biệt đứng từ góc độ chuẩn bị nền tảng về thể thực và trí lực cho nguồn
nhân lực. Giáo dục đào tạo chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật, ngoài ý nghĩa với
tăng trởng kinh tế còn đặc biệt quan trọng trong việc phát triển giảm nguy cơ tụt
hậu. Tuy nhiên, những bất hợp cập giữa các ngành đào tạo, giữa các bậc học đã
gây khó khăn không ít cho sự phát triển của nền kinh tế. Một số ngành đợc học
sinh, sinh viên theo học nh một phong trào, một số ngành thì rất ít ngời theo
học. Nếu không có sự điều chỉnh kịp thời, Việt Nam sẽ nhanh chóng gặp khó
khăn về đội ngũ kỹ s, công nhân kỹ thuật nh ở nhiều nớc Asea, nhất là Thái
Lan.
Giáo dục đào tạo ở thành phố, đồng bằng có điều kiện phát triển hơn ở
nông thôn,vùng núi, vùng sâu, vùng xa rất khó khăn. Để nâng cao chất lợng
nguồn nhân lực ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa miền núi, Nhà nớc đã chó
chính sách cấp học bổng, giảm học phí, u tiên các học sinh nghèo vợt khó.Từ đó
giúp họ có điều kiện học tập tìm kiếm việc làm, nâng cao mức sống. Chính nhờ
những chủ trơng đúng đắn này mà những bất hợp lý trong cơ cấu vùng, miền
của giáo dục đào tạo nguồn nhân lực đợc điều chỉnh phần nào.
12
Yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lợng nguồn nhân lực là việc đổi
mới mục tiêu, nội dung, chơng trình và phơng pháp giáo dục đào tạo. Việc hội
nhập và cạnh tranh kinh tế đòi hỏi hàng hóa phải đạt tiêu chuẩn quốc tế để tăng
khả năng cạnh tranh trên thị trờng thế giới, từ đó phải đòi hỏi có trình độ công
nghệ cao và khả năng sử dụng tơng ứng các công nghệ đó. Ngoài giáo dục đào
tạo chuyên môn, nghiệp vụ về mặt lý thuyết cần chú ý điều kiện thực hành, ứng
dụng, giáo dục kỹ thuật, tác phong lao động công nghiệp, rèn luyện kỹ năng và
những khả năng thích ứng của ngời lao động với những đặc điểm của nền kinh
tế thị trờng. Song song với vấn đề giáo dục đào tạo con ngời, chúng ta phải quan
tâm đến vấn đề dân số, sức khỏe, để nâng cao chất lợng nguồn nhân lực, giảm
sức ép đối với quy mô và chất lợng giáo dục.
Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, yêu cầu đa dạng hóa các loại
hình giáo dục đào tạo rất cần thiết để bổ sung cải thiện hiện trạng nguồn nhân
lực nhằm khắc phục những bất hợp lý về việc phân bổ nguồn nhân lực, đồng
thời nâng cao hiệu quả của đầu t cho giáo dục và đào tạo để phục vụ cho nhu
cầu phát triển. Trong lĩnh vực giáo dục hớng nghiệp chúng ta cần phải kết hợp
một cách khoa học với kế hoạch phát triển toàn diện với chính sách sử dụng sau
đào tạo hợp lý để giảm lãng phí về chi phí về giáo dục đào tạo của xã hội và của
gia đình. Ngời lao động đào tạo ra đợc làm việc đúng ngành, đúng nghề, đúng
khả năng và sở trờng của mình. Ngoài ra, giáo dục hớng nghiệp cũng đòi hỏi
phải công tác dự báo nghề để xác định đợc xu hớng phát triển và nhu cầu về lao
động trong từng giai đoạn. Giáo dục đào tạo chính quy, dài hạn là cơ sở để hình
thành nên bộ phận ngời lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, có kỹ
năng tiếp cận với khoa học, công nghệ mới hiện đại. Ngoài ra, cần mở rộng các
loại hình đào tạo ngắn hạn để cải thiện hiện trạng nguồn nhân lực hiện nay và
nhanh chóng nâng cao số lao động đã qua đào tạo của ta lên. Hình thức giáo
dục tại chức và từ xa cần chú ý hơn đến chất lợng và hiệu quả giáo dục.
Chính sách xã hội hóa giải quyết việc làm cần đợc tiếp tục phát huy, khôi
phục các làng nghề, phố nghề để huy động tổng hợp các nguồn lực và sự tham
gia rộng rãi của các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội mọi ngời dân. Kinh
13
tế hộ gia đình, cơ sở doanh nghiệp ngành nghề ở nông thôn, doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở thành phố là những cơ sở có thể thu hút nhiều lao động, cần đợc tạo
điều kiện phát triển chất lợng.
Các chính sách phụ cấp, tiền lơng cũng nên đợc điều chỉnh lại để thu hút
ngời lao động về công tác tại cơ sở, các vùng khó khăn, tham gia xây dựng các
công trình trọng điểm nhằm động viên thanh niên vào học các trờng dạy nghề
và làm đúng nghề đã đào tạo, đóng góp sức mình vào sự nghiệp công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nớc.
Tóm lại, giáo dục đào tạo nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nớc là một tất yếu khách quan, một nhiệm vụ trọng tâm
trong quá trình đổi mới, xây dựng đất nớc. Mặc dù nền giáo dục đào tạo đã đạt
đợc nhiều hành tựu to lớn (Việt Nam có chỉ số HDI tơng đối cao, đợc xếp vào
các nớc có trình độ phát triển trung bình) nhng so với yêu cầu phát triển kinh tế
xã hội, nền giáo dục đào tạo của ta vẫn cha đáp ứng đợc. Do đó càn có những
chính sách hỗ trợ, khuyến khích và những đờng lối đúng đắn của Đảng và Nhà
nớc đối với sự nghiệp giáo dục
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét