Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Đặc điểm so sánh trong tùy bút Nguyễn Tuân

Đặc điểm cấu trúc so sánh trong tùy bút Nguyễn Tn
Trong văn học Việt Nam, tên tuổi Nguyễn Tn (1910-1987) được biết
đến như một nhà văn tài hoa, kiêu bạc, với quan điểm duy mĩ về nghệ thuật.
Trước cách mạng tháng Tám, ơng được đánh giá là hiện tượng phức tạp nhưng
những trong tuỳ bút, những truyện ngắn đậm chất lãng mạn của ơng vẫn được
độc giả u thích. Càng về sau Nguyễn Tn càng gắn bó và thành cơng với tuỳ
bút chúng ta biết đến ơng giai đoạn này qua tuỳ bút “kháng chiến và hồ bình”,
“Sơng Đà” và những bài in rải rác khác.
Tính chất tự do phóng túng của thể tài này đã thử thách rất nhiều cây bút,
song dường như chỉ đến Nguyễn Tn nó mới tìm được ra đúng dáng hình và
bản chất. Đòi hỏi của nghề văn trước hết là sự tự biết mình, một sự dũng cảm
dám làm mình, kèm với nó là một sự tự tin rằng mình có ích cho đời ngay ở sự
đơn nhất, độc đáo, khơng lập lại. Nguyễn Tn hiểu điều này và qua thể tuỳ bút
ơng thực sự tìm thấy lẽ sống, lẽ sáng tác, ở đó ơng khơng chỉ biết những điều
mình cảm nhận mà còn có đất phơ bày cái mảng tri thức cổ kim mà sự học mang
đến cho ơng.
Từ trước đến nay giới nghiên cứu và đơng đảo độc giả đều đánh giá cao
tài của Nguyễn Tn nhưng việc đi sâu vào lãnh địa tuỳ bút ủa ơng với tư ách là
văn bản nghệ thuật ngơn từ vẫn chưa được chú tâm . Một trong những điều làm
nên đặc sắc của văn Nguyễn Tn là cacyh diễn đạt .Việc tìm hiểu nghệ thuật
viết văn Nguyễn Tn, bắt đầu từ khảo sát cách đặt câu ,dùng từ quả thực cần
thiết.
Những năm gần đây, bên cạnh việ nghiên cứu văn học bằng con mắt của
chun mơn ngơn ngữ , tức là tiếp cận và lý giải trên cơ sở đặc diểm hình thức,
là xu hướng tích cực đang đem lị nhiều hiệu quả .Chúng tơi muốn nương theo
con dường này soi xét nghệ thuật tuỳ bút của Nguyễn Tn bát đầu từ đặc điểm
cấu trúc so sánh tu từ .
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
A. PHẦN MỞ ĐẦU

I. Vài nét về phép so sánh
1. Khái niệm
So sánh thói quen là thói quen ngơn ngữ trong cuộc sống của nhân dân lao
động nói chung và người Việt Nam nói riêng .Câu chuyện về Huệ Tử trong”cổ
học tinh hoa” _người khinói chuyện hay dẫn ví dụ _ cho thấy việc so sánh có giá
trị nhận thức vơ cùng quan trọng .Nó là ngun nhân đồng thời có tác dụng làm
phong phú thế giới tưởng tượng cuă con người trong q trình tiếp nhận và
khám phá cái đệp của thế giới xung quanh.
So sánh là một trong ba thể của ca dao. Ta rất hay gặp lối nói của tác giả
dân gian như:
Thân em như hạt mưa sa
Hạt rơi giếng nước, hạt ra ruộng cày
Chị em gái như trái cau non
Mà trong trong cả văn xi (sử thi của người dân tộc thiểu số): tả nàng
Hơbia “da trắng hơn hoa vơng, mắt sáng như mặt chim phí, ngực đỏ như ức
chim nhơng, ngón tay thon hình lá hành, tiếng nói tựa nước đùa trong ống”, tả
ngơi nhà rơng “dài như một tiếng chiêng ngân”.
Như thế so sánh là một lối tư duy phổ biến và có lịch sử rất lâu đời. Tuy
nhiên khơng vì thế mà so sánh dần dần bị lu mờ và xem nhẹ, nhất là trong nghệ
thuật ngơn từ. Cùng với sự phát triển và khơng ngừng đổi mới, tìm tòi phong
cách thể hiện, các nhà văn, nhà thơ cũng đang sáng tạo thêm nhiều dáng vẻ đặc
sắc cho lối so sánh.
Nơm na, so sánh là đưa một vật ra xem xét sự giống nhau hay khác nhau
về một phương diện với một vật khác được coi là chuẩn. Có thể so sánh ở nhiều
phương diện của sự vật hoặc có thể so sánh một sự vật với nhiều sự vật khác.
So sánh đòi hỏi chủ thể phát ngơn phải vận hành tư duy liên tưởng, để tìm
ra ở những sự vật khác nhau những điểm tương đồng hoặc “gợi nhớ” đến nhau.
Bản thân u cầu này nói lên đặc điểm của phép so sánh đó là vừa mang tính
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
chủ quan, vừa mang tính khách quan. Điều này ta sẽ bàn sau.
Như vậy có thể định nghĩa: so sánh là thao tác tư duy theo quan hệ liên
tưởng trong đó A đối chiếu với B qua đặc điểm (phương diện) chung là X từ đó
nổi bật lên đặc trưng của vật A. Theo Hữu Đạt trong cuốn “Phong cách học chức
năng”: “So sánh là đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ
nhất định hoặc tìm ra sự giống nhau và khác biệt giữa chúng”.
2. Cấu trúc phép so sánh
Hiện có nhiều quan niệm về số lượng thành phần trong cấu trúc so sánh.
Nhưng cơ bản vẫn là mơ hình bốn yếu tố:
- Yếu tố cần đưa ra so sánh, có thể là được hoặc bị xét về tương quan với
chuẩn: gọi là cái so sánh ký hiệu A.
- Yếu tố nêu rõ phương diện so sánh. Kí hiệu X
- Yếu tố thể hiện mối quan hệ trong so sánh (từ so sánh ví dụ; như, hơn,
kém, vv….)
- Yếu tố dùng để so sánh được coi là yếu tố chuẩn trong cấu trúc này, ký
hiệu là B.
A X như (giống, hơn, kém…) B
Trong sáng tác, các nhà văn có quyền vận dụng và biến thể để đạt hiệu
quả cao nhất theo ý muốn. Có thể khi đó dạng thức câu so sánh sẽ thêm hoặc bớt
một số yếu tố.
3. Thế nào là so sánh tu từ
Như đã nhắc đến ở phần trên, phép so sánh có đặc tính về khách quan vừa
chủ quan. Khách quan vì sự vật này sở dĩ liên tưởng được với sự vật khác về
một hoặc vài phương diện nào đó vì thuộc tính chung tồn tại khách quan của cả
hai sự vật trên phương diện được đưa ra so sánh. Điều này dẫn đến so sánh
mang giá trị nhận thức, còn so sánh mang tính chủ quan vì hoạt động liên tưởng,
“móc nối” các sự vật khác nhau là diễn ra độc lập trong từng cá nhân, phản ánh
năng lực nhận thức, đánh giá, cảm nhận về nhận thực cũng như thể hiện thái độ,
tình cảm và thói quen sử dụng ngơn ngữ của cá nhân đó. Do vậy trong cuộc
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
sống có hiện tượng, một đối tượng được so sánh với những đối tượng hồn tồn
khác nhau tuỳ thuộc vào chủ nhân của sự so sánh ấy là ai.
Thơng thường, so sánh mang tính khách quan cao và gần như tuyệt đối thì
chỉ có trong khoa học chính xác tự nhiên, ta vẫn gặp các cách diễn đạt A = B, A
là B trong tốn học hố học v.v… nó là một dạng của tư duy so sánh gọi là so
sánh lơgíc được xác lập trên cơ sở tư duy khoa học để biểu thị mối tương đồng
giữa hai đối tượng còn lại. Ở loại so sánh này, ít và hầu như khơng để lại dấu ấn
chủ quan của người tạo ra nó. Trái ngược với so sánh lơ gíc là so sánh tu từ.
Chính u cầu khác loại giữa A và B đã mở ra một khả năng vơ tận cho sự sáng
tạo những hình ảnh so sánh. Một nhà văn Pháp nói : “Có thể so sánh bất cứ cái
gì, mặt trăng với miếng pho mát, trái tim tan nát với chiếc lọ vỡ” (dẫn theo
Vinograda). Chỉ cần nhìn ra nét giống nhau hay mối liên hệ giữa các đối tượng
khác nhau về loại, điều mà người khác khơng nhận ra.
Sự lựa chọn cái được so sánh trong mối liên hệ với cái được so sánh ở cấu
trúc so sánh tu từ vì thế thường in dấu ấn cá nhân. Thậm chí xác lập phong cách
của một người trong hoạt động lời nói. Với đặc điểm đó, so sánh tu từ thực sự là
địa hạt tung hồnh của sáng tạo văn chương - một loại hình nghệ thuật với chất
liệu ngơn từ phản ánh cuộc sống bằng hình tượng.
Người Việt Nam vốn giản dị và u những gì gần gũi thực tế, đơn giản,
xinh xắn. Chính vì thế trong ca dao tục ngữ, thành ngữ thường nhắc đến những
sự vật hiện tượng có thực gần gũi trong cuộc sống sinh hoạt. Ít khi nói là những
liên tưởng kỳ vĩ tráng lệ mang màu sắc quy mơ của vũ trụ. So sánh thực đã nói
lên tính cách, đặc điểm tâm hồn con người. Các nhà văn Việt Nam vừa phát huy
những cách so sánh truyền thống, sản sinh những cách nói năng màu sắc cá nhân
ngày một rõ trên cái nền so sánh mang đậm màu sắc văn hố dân tộc. Nguyễn
Tn là một tác gia văn học hiện đại nước ta, một tài năng, một cá tính khơng
lặp lại đã cống hiến cho nền văn học những trang viết đẹp, nhất là những bài tuỳ
bút, trong đó sử dụng nhiều cấu trúc so sánh tu từ.
II. Phạm vi và ý nghĩa của việc nghiên cứu
1. Phạm vi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Chúng tơi chọn những sáng tác của Nguyễn Tn thuộc thể tuỳ bút trong
cả hai giai đoạn trước cách mạng và sau cách mạng để có một cái nhìn khái qt
về nghệ thuật xây dựng các cấu trúc so sánh tu từ của ơng.
- Trước cách mạng: Ba tập “tuỳ bút 1”, “tuỳ bút 2” và “Nguyễn”.
+ Tuỳ bút 1: 12 tác phẩn
Một lá thư khơng gửi
Những ngọn đèn xanh
Và những dịp còi
Gió đã lên
Lại đi nữa
Một buổi mai đã mất
Người lữ khách giữa thành phố chúng ta.
Được ốm
Những ngày Thanh Hố
Một giấc ngủ
Cửa Đại
Đẹp lòng
+ Tuỳ bút 2: hai tác phẩn
Phu nhân họ Bồ
Chiếc va ly mới
+ Nguyễn: 5 tác phẩn
Đơi tri kỷ gượng
Chuyến xe tình
Cái cà vát đen
Chiếc áo gấm mượn
Một người cha về ăn tết.
- Sau cách mạng: “Tuỳ bút kháng chiến và hồ bình” (trích) và tập tuỳ bút
“Sơng Đà”.
2. Ý nghĩa
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Từ việc khảo sát, thống kê và phân tích đặc điểm trong cách so sánh tu từ
chúng tơi mong muốn làm rõ một trong những nét đặc sắc của văn tuỳ bút
Nguyễn Tn ở việc lựa chọn cái so sánh và cái được so sánh. Từ đó liên hệ với
điểm nhìn nghệ thuật chi phối các lựa chọn trên.

B. PHẦN KHẢO SÁT PHÂN TÍCH
I. Đặc điểm về cái so sánh
Đây là đầu mối cho thấy thế giới sự vậ hiện tượng tác giả quan tâm và có
nhu cầu thể hiện
1. Trước cách mạng 2. Sau cách mạng
1.1. Con người và những trạng
thái hoạt động của con người
2.1 Con người và những trạng
thái, hoạt động của con người
-Hình ảnh con người cá nhân:
Một thằng phiêu đãng, mẹ tơi, người
thiếu phụ, người ẵm con, chàng trẻ
tuổi, Gi… (tên nhân vật) anh, hắn,
chị, nàng, ơng cụ, bồ phu nhân, bà
tài Vỗy, tơi nguyễn Đức Đỗ, Trương
(tên nhân vật), thằng nhỏ người hầu
v.v…
-Hình ảnh con người cá nhân:
tơi, cơ Chờ, Đèo Văn Long, Anh dẫn
đường, Người lái đò sơng Đà v.v.
-Con người số đơng buồn
chán nhàm tẻ: Những người đi câu,
các em tơi, phù dâu phù rể…
- Hình ảnh con người số đơng:
những người mẹ, chúng ta, cán bộ
Đảng, đồn người mở đường, đồn
khảo sát, các chiến sĩ biên phòng,
giặc…
- Tính cách cá nhân: Lăng
băng, lêu vêu, vất vơ vất vưởng, cầu
bơ cầu bất, lười, thẫn thờ, buồn
thảm…

1.2. Thế giới tự nhiên xã hội. 2.2. Thế giới tự nhiên, xã hội
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Tự nhiên thuần t: ngày
tháng, sao trời, hồ nước, hơi nước
mặt hồ, khơng khí, mùi hương hoa,
đêm ở Thanh Hố, gió chiều, buổi
sớm, bóng trăng, mặt đất, tiếng rơi
của giọt sương…
- Tự nhiên thuần t: cảnh
vật, cỏ, dốc đèo, gió Lào, cây cổ thụ,
các chóp núi, mây, lưng đèo, núi xa
núi bần, sơn hệ, sao trời, hoa dó,
hoa gạo, trăng, lá ban, hoa ban, đêm
xn, rêu mùa xn, nhựa rừng, tia
sáng, sớm trưa, chiều tối
- Sự vật, sự việc, hiện tượng
của đời sống sinh hoạt: tập giấy,
tiếng còi, tiếng kèn, ngọn đèn xanh,
phi cơ, chai cốc thuỷ tinh, xe tay, xe
ngựa, thuyền, chiếc tủ áo, những cối
pháo, đường nhựa, phố phường, câu
trả lời, ngơn…
- Sự vật hiện tượng của đời
sống sinh hoạt: Trái bom, cửa hầm,
lòng hào, thuốc súng, bánh sắt ơ tơ,
những con đường Tây bắc, nhà
người Mỡo, lá thu từ Điện Biên,
lãnh cung của Đèo Văn Long, ngói
gạch mới, cửa hàng mậu dịch, Tà
bú, cửa suối bến Tà Bú, cánh đồng
lúa, thóc gạo, các đơn vị bộ đội,
cơng trường 62, xe kút kít, hòn than,
cái chùa vắng, khơng khí sa bàn, khu
doanh trại, những tấm áo màu,
những cái làng ven đường mới, ngọn
quốc kỳ…

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3. Nhận xét
Trước cách mạng, trung tâm thế giới nghệ thuật tuỳ bút Nguyễn Tn là
những cái tơi với nhiều hồn cảnh trên từng chặng đường xê dịch, những con
người buồn chán sống vơ vị và vui thú những trò tầm thường, đều mang nhiều
tâm trạng dằn vặt, giằng xé giữa sở thích và nghĩa vụ của một cái tơ Nguyễn
Tn. Khơng gian thiên nhiên chỉ là những cái mơ hồ vụn vặt gắn với nỗi ám
ảnh thời gian và gợi sự bức bối, ngột ngạt.
Ngược lại sau cách mạng ta tìm thấy sự phong phú tươi rói, sống động
của nhiều vùng đất Tây bắc, cảnh vật mang tầm vóc lớn lao, kỳ vĩ và bè bạn với
con người, tham gia vào cơng cuộc cải tạo của con người. Ta khơng còn bắt gặp
những cái nhân ln đấu tranh nội tâm về lý tưởng, về bổn phận như trước.
Những cá nhân bây giờ rất ít, nếu có thì hoặc hiện lên với tư cách là đại biểu cho
những phẩm chất đẹp, tư thế khoẻ, tinh thần hứng khởi của người cơng dân một
nước độc lập. Ta bắt gặp rất nhiều “con người số đơng”, đó là cộng đồng, là sức
mạnh của người lao động, họ đang rất hăng hái dựng xây chiến đấu, nếu người
dân lao động được miêu tả như những người hùng thì bọn giặc hiện ra rất hèn hạ
yếu ớt và bé nhỏ.
II. Đặc điểm cái được so sánh (vế B)
Đây là mảnh đất nở hoa tài năng liên tưởng, sáng toạ của nhà văn gây nên
sức hấp dẫn trang viết và là điều khiến chúng ta thán phục. Nó phản ánh cái tài
hoa và thái độ, tình cảm của tác giả đối với thế giới, con người.

1. Trước cách mạng 2. Sau cách mạng
1.1. Con người và những tính
cách trạng thái, hoạt động của con
người:
2.1. Con người và những tính
cách trạng thái, hoạt động của con
người:
- Con người: gái mãi dâm bị
căn vặn về q trình truỵ lạc, đám
son phấn lầu hồng, người đàn bà
nhẫn nhục, các nhân vật trong tiểu
- Hình ảnh con người: Những
kẻ nắm chắc bí mật tạo tác vùng Đại
Bục, những người đi bể, những
người lái đò cạn , người thổi khèm,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
thuyết lịch sử (My phu nhân, Cam
phu nhân, Triệu Vân), kẻ có tính
đồng bóng, chàng Tân La, cơ gái
hố, một vài cái tài hoa thần đồng,
kẻ trốn chạy nhân tình cũ, tên chăn
cừu, viên thiếu kinh kỵ, thứ tội
nhân, đời mình, ơng tù trưởng xứ
Mường, người đi thi, người đi tù…
bộ đội ta, vẻ mặt hồn nhiên của anh
bộ đội…
- Trạng thái hoạt động: Nét
cười của một người cơng bình lúc tắt
nghỉ, đám chúng nhân đi xem hội
tây, cơ gái nhà lành say rượu, kẻ đi
biển tìm phương hướng, giai nhân
tài tử chơi xn, cơ thiếu nữ vu quy,
người đi chơi xa…

1.2. thế giới tự nhiên xã hội. 2.2. Thế giới tự nhiện và xã
hội:
- Tự nhiên thuần t: Sao
chổi, hơi lửa lò vơi, mưa ngày tháng
của tội nhân bị khổ sai có kỳ hạn,
nước lá dội qua cây gỗ rắn, dầu sơi
trong vạc, cái bóng, đêm ở phố phủ,
hoa sim rằng, thung lũng, rừng đào,
gió nồm, bơng hoa cúc…
- Tự nhiên thuần t: Giăng
xng, sao hơm, nắng l, cái vắng
vẻ của rừng, dòng nước, sóng bể,
cây núi Tây Bắc, lửa, sóng vấp bờ,
thuỷ triều dâng, cỏ bồng nước lũ,
mùa xn Tây Bắc, nếp sóng bạc
đầu, mùa hè, mùa xn, mùa thu,
mùa đơng, trùng dương thạch trận,
cánh đồng đá, trận bão tố, đất vỡ
hoang, con sóng đã khơ chắc lại,
giống hoa nhiều màu sắc, tổ phượng
hồng, rêu mùa xn, đài hoa thơm,
ngàn bọng ong, mặt giăng chiếu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
xuống vạc nương ruộng lúa, con hổ
giữ…
- Sự vật, sự việc hiện tượng
gắn với cuộc sinh hoạt: giấy hoa
tiên, tiếng nhạc ngựa, tiếng diều sáo,
ngọn lửa chài, chiếc thuyền rồng,
bãi chợ đầu làng, khăn tang và áo
vải đen, tượng đá tượng Chàm, ngọn
đèn rọi đường, xe thổ mộ ở Nam
kỳ…
- Sự vật, sự việc hiện tượng
gắn với cuộc sinh hoạt: tuyết thảm
nhung, trận sốt, vách thành, lỗ giếng
đào, cái hào cạn, hầm máy tàu bể,
truyện qi hiệp, đèn pha vị trí, tờ
giấy lệnh, cái bánh đa, lớp học, con
đường biển ra đảo Cơn Lơn, nồi cơm
vừa sơi, tường luỹ, gạch cũ của một
cái thành xưa, tóc mây, cái mộc nhĩ,
con ngựa điện biên, tấm áo người
nghèo, cái thân đê nhà Lý, một cơng
trình văn hố, cái nhà mồ, chợ chiều
họp vội trên mặt gềnh sơng Đà, cái
sân một nhà Mỡo, viên gạch mới, cái
nhẫn vàng, chng khánh…
3. Nhận xét
Nếu như thế giới tưởng tượng của nhà văn trước cách mạng chỉ gắn với
những sự vật cụ thể hoặc hiện tượng nhỏ lẻ của tự nhiên và xã hội thì sau cách
mạng ta thấy ngồn ngộn những cảnh, những người mới lạ phong phú rộn ràng và
hừng hực khí thế. Nếu như trước cách mạng, về B trong cấu trúc so sánh ở câu
văn Nguyễn Tn chưa thể nói hết tầm un bác trong trí tuệ của ơng thì sau
cách mạng, ta thấy một sự bùng lên, nở rộ của sự phơ bày trí tuệ, tài hoa dẫn
chúng ta đi từ sự vật sự việc cụ thể gần gũi tới những điều kỳ vĩ lạ lẫm của tự
nhiên, của lịch sử.
Sự khác biệt lớn lao của hai thế giới nghệ thuật trước và sau cách mạng
cho thấy sự lớn lên của tư tưởng, sự biến chuyển trong nhận thức của tác giả.
Nhất là qua những trang tuỳ bút sau cách mạng ta biết một cái tơi Nguyễn Tn
khơng chỉ cá tính tài hoa mê say nghệ thuật, ơng còn biết vận dụng nó để cải tạo
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
những thế giới thẩm mỹ tráng lệ trong văn chương. Giai đoạn này Nguyễn Tn
đã thực sự hồ nhập với nhân dân, sống trong khơng khí sục sơi của hiện thực
mang lối cái tơi đã hồ làm một với cái ta.
III. Cách biểu hiện quan hệ so sánh
- So sánh ngang bằng: Như, như kiểu, cũng như là, tựa, là, khơng khác gì,
sao lại khơng là, tợn như, chỉ là, sẽ là, bằng v.v…
- So sánh khơng ngang bằng: bằng mấy mươi lần, hơn, hơn cả, bỏ xa, đã
hơn gì, khơng bằng…
(Bên cạnh đó còn có những câu so sánh khơng dùng từ nối mà viết liền hai vế
A - B).
Một số dẫn chứng:
- Đát rơi huỳnh huỵch như giặc bổ nhào
- Tây Bắc cũng là một cái vườn hoa
- Cái buồn thảm trong lòng tơi đã bỏ xa cái buồn thảm của một cuốn
“Việt Nam vong quốc sử”.
- Thóc lúa của đồng ruộng khơng nhiều bằng cây lúa của những sơn hệ
mịt mù Tây Bắc.
Có thể thấy về cơ bản, Nguyễn Tn sử dụng những phương thức biểu thị
quan hệ so sánh theo lối truyền thống (dùng từ so sánh). Tuy nhiên nhờ sự đa sắc
điệu của vế A, vế B trong cấu trúc so sánh cùng với ngữ cảnh bài viết, ta nhận ra
sự mới lạ và nét đặc trung trong phong cách của Nguyễn Tn.
IV. Điểm nhìn nghệ thuật chi phối sự lựa chọn cái so sánh, cái được so sánh
Trước cách mạng có thể nói Nguyễn Tn là một cá tính phức tạp, ơng là
minh hoạ chuẩn cho ý kiến của Plekhanốp về quy luật phát sinh quan điểm nghệ
thuật vị nghệ thuật “khuynh hướng thừa nhận quan điểm nghệ thuật vị nghệ
thuật của những nhà nghệ sĩ và những người tha thiết quan tâm đến sáng tác
nghệ thuật, đã phát sinh và được củng cố trên cơ sở mối bất hồ tuyệt vọng giữa
họ với tồn cảnh xã hội xung quanh họ” (dẫn theo Nguyễn Đăng Mạnh). Giai
đoạn văn học 1930 - 1945 Nguyễn Tn thuộc lớp nhà văn nằm ở danh giới giữa
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
một bên là dòng văn học lãng mạn, bên kia là dòng hiện thực phê phán. Khơng
thể nói Nguyễn Tn “đóng cửa” với cuộc đời, xa rời hiện thực đất nước để đắm
chìm trong lạc thú xê dịch cá nhân. Bởi vì với chủ trương “đi để viết”, ơng còn
dựng lên được bức tranh nghèo khổ của người bình dân, còn phát hiện ra những
vẻ thơ mộng thiên nhiên đất nước. Điều này lần lượt hiện ra trong các trang tuỳ
bút. Lòng u nước của Nguyễn Tn là lòng u nước của trí thức tiểu tư sản,
khơng thể dung hồ và bất lực với hồn cảnh thuộc địa của thực dân nhưng chỉ
kín đáo phản đối và lên án trong tác phẩn của mình (ví dụ một số truyện trong
“Vang bóng một thời”). Dẫu vậy khơng ít tác phẩn đã cho thấy sự thu mình, sự
tách biệt của cái tơi Nguyễn Tn với xã hội, nhà văn chỉ đi sâu vào việc bộc lộ,
cái bản thể kiêu ngạo của mình. Có lúc cái tơi ấy đã tách rời hiện thực, rút sâu
vào nội tâm phức tạp để dẫn tới trạng thái chán chường và bi quan. Đấy là lý do
vì sao phần lớn những đối tượng trong cách so sánh ở những trang tuỳ bút trước
cách mạng là hắn, tơi, lòng ta… còn thiên nhiên thì chỉ là thời gian, ngày tháng,
đêm, trời,… tất cả nhằm giải toả một tâm trạng o ép, bất hợp tác với cuộc đời
trong một dân tộc nơ lệ. Đồng thời bày tỏ những khát khao xê dịch và những xúc
cảm thẩm mỹ tích cực.
Cách mạng tháng Tám thành cơng khơng chỉ có ý nghĩa với lịch sử dân
tộc mà còn làm biến đổi những nhà văn trong xã hội cũ. Nguyễn Tn được hồi
sinh từ biến cố trọng đái đó. Niềm vui lớn của đất nước làm tươi lại cái tài hồ,
làm mới niềm mê say của ơng đối với cuộc sống đang đổi thay xây dựng.
Nguyễn Tn đã làm một cuộc “lột xác” thơng qua “chùa Đàn” chúng ta thấy để
đạt được kết quả trên, ơng phải trải qua sự đấu tranh tư tưởng khơng dễ dàng.
Vẫn giữ thói quen, sở thích xê dịch, nhưng Nguyễn Tn đã có những chuyến đi
dài đem về những trang viết thơm mùi cuộc sống mới. Đó khơng phải là những
hành trình trên xe, trên tàu thui thủi mà là đi bộ với nhân dân, với bộ đội, khơng
phải là cuộc lơng bơng vơ định mà là đi thực tế để viết “tờ hoa”, là đi cùng đồn
cán bộ cứu quốc có khi đến rất gần mặt trận. Hoạt động của nhà văn bây giờ là
của một nghệ sĩ - chiến sĩ trên mặt trận văn hố văn nghệ. Những chuyến đi Tây
bắc, những cuộc hành trình những chiến khu Việt Bắc thật sự là đường về với
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
nhân dân với cách mạng. Đối tượng của tuỳ bút Nguyễn Tn là thiên nhiên
hung vĩ, khoẻ đẹp của đất nước, là nhân dân, là chiến sĩ, là những chiến dịch.
điều này phần nào phản ánh ở cách lựa chọn đối tượng so sánh trong cấu trúc so
sánh của Nguyễn Tn như đã phân tích ở phần trên. Tập tuỳ bút pha chất ký
“Sơng Đà” có thể nói là một mốc son đánh dấu sự thành cơng trong q trình
sáng tác của ơng sau cách mạng. Nhà văn đã hồn thành sứ mệnh khám phá và
lưu giữ lại vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc và chất vàng 10 của con người Tây
Bắc trong những trang văn. Mặc dù đó đây còn có chỗ hơi dễ dãi và tơ hồng khi
hướng về tương lai (có lần ơng tự nhận mình “sục sặc hấp tấp”). Nhưng đấy
cũng là nét đáng u của Nguyễn Tn. Sau “Sơng Đà”, ơng đi nhiều hơn, viết
nhiều hơn và “chín” hơn về cơng cuộc dựng xây và chiến đấu của dân tộc kế
tiếp chủ đề mà “Sơng Đà” đã mở ra.
Với bản tính ngơng vì tự nhận thức được chân giá trị của mình Nguyễn
Tn đến với văn chương để thoả cái ao ước được là chính mình. Bao trùm cuộc
đời và sự nghiệp ơng là chủ nghĩa độc đáo. Hình như mỗi khi cầm bút ơng tự đặt
u cầu: phải chứng tỏ được cái tài hoa, un bác hơn đời của mình. Những
trang tuỳ bút dù trước hoặc sau cách mạng đều tốt lên một trí tuệ un bắc, một
phong cách tài hoa, chứng tỏ sự lao động nghệ thuật nghiêm túc.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
C. KẾT LUẬN

Từ việc khảo cứu các hiện tượng so sánh tu từ trong tuỳ bút của Nguyễn
Tn, ta thấy sự kế thừa của nhà văn về một lối diễn đạt khơng còn mới mẻ
trong cảm thức ngơn ngữ truyền thống của dân tộc. Tuy vậy, bằng tài riêng và
con mắt nghệ thuật “khơng lặp lại”, Nguyễn Tn đã biết tạo cho mình nét độc
đáo ở từng câu so sánh. Ở vế chuẩn trong cấu trúc so sánh ta mới thực sự nhận
ra phong cách giọng văn Nguyễn Tn. Những điều đã q quen thuộc, qua so
sánh của nhà văn trở nên mới mẻ và đẹp theo một chiều kích khác. Phần lớn ở
về này nhà văn diễn đạt theo lối dàn trải, chi tiết hố và trừu tượng hố. Bằng sự
linh hoạt trong hành văn, tác giả lúc thì cụ thể hố cái trừu tượng có khi trừu
tượng hố cái cụ thể hoặc cũng có khi trừu tượng hố theo một cách khác những
cái trừu tượng. Nghĩa là phong phú và đa dạng. Nhưng tài năng của Nguyễn
Tn minh chứng cho sức tưởng tượng ghê gớm của ơng là bằng cách này hay
cách khác người tiếp nhận văn bản đều hiểu và thích thú với lối ví von giàu tính
biểu cảm, kích thích óc tư duy của mình.
Đặc điểm cấu trúc so sánh tu từ ở câu văn trong tuỳ bút Nguyễn Tn là
sự phản ánh phần nào cái linh động trong ngòi bút, sự độc đáo tài hoa ở con mắt
nghệ thuật nơi ơng. Qua đây ta cũng thấy sự biến đổi từ một Nguyễn Tn bất
mãn với cuộc đời trước cách mạng đến một Nguyễn Tn thật sự hồ mình vào
dòng chảy mạnh mẽ của lịch sử dân tộc. Trên tất cả đó là một tác gia Nguyễn
Tn “Sinh ra để mà thờ Nghệ Thuật với hai chữ viết hoa”./.








THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét