Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014
Tài liệu Phát triển bền vững ở Tây Nguyên pptx
5
Trong tác phẩm nghiên cứu rất công phu và đặc sắc “P’tao, một lý thuyết về quyền lực ở
người Gia Rai Đông Dương” (P’tao, une théorie du pouvoir chez les indochinois Jarai),
nhà Tây Nguyên học hàng đầu Jacques Dournes đã có sự phân tích và giải thích rất sâu
sắc về các nhân vật này và một kiểu quyền lực cũng hết sức độc đáo ở xã hội Gia Rai nói
riêng và xã hội Tây Nguyên nói chung, còn tồn tại cho đến rất gần đây, thậm chí còn ảnh
hưởng tiềm tàng đến tận ngày nay.
Các P’tao là người Gia Rai, sống ở vùng Gia Rai, nhưng tầm ảnh hưởng lan rất
rộng, sâu trên nhiều vùng dân tộc khác, thậm chí sang cả Cămpuchia. Trong nhiều thời
kỳ, triều đình Cămpuchia từng coi các P’tao ở Tây Nguyên như một kiểu “vua thần”,
định kỳ có dâng cống vật. Người Cămpuchia gọi các P’tao là Sadet (gần với từ Samdeth).
Về sau, các “Vua Nước” và “Vua Gió” giảm dần ảnh hưởng rồi mất hẳn, chỉ còn “Vua
Lửa”… Chúng tôi nghĩ việc nghiên cứu hình thái tổ chức xã hội với các P’tao của người
Gia Rai có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm hiểu sâu sắc Tây Nguyên, con người,
văn hóa, tổ chức xã hội cổ truyền… ở vùng đất đặc biệt này. Thậm chí cũng còn có thể
cho phép chúng ta hình dung chừng nào về các xã hội cổ từng tồn tại trên vùng đất nay là
bán đảo Đông Dương.
Tây Nguyên quan hệ với các “lân bang” chính là qua các P’tao. Quan hệ nhiều
nhất là với Cămpuchia. Trong nhiều thời kỳ dài đã thường xuyên có các đoàn “sứ giả” đi
lại hằng năm giữa các P’tao và triều đình Cămpuchia, trao đổi cống vật giữa hai bên.
Trong quan hệ này đáng chú ý là về phía Cămpuchia đối với các P’tao Tây Nguyên là có
tính chất “dâng lên”, còn từ phía các P’tao với các vua Cămpuchia là “ban xuống”. Do
địa hình và cả chủng tộc, người Lào đã có quan hệ lâu đời và sâu với các dân tộc ở Tây
Nguyên. Quan hệ của Tây Nguyên với Champa l
ại có những nét riêng khác: Trong thực
tế, triều đình Champa đối xử với Tây Nguyên như với một “lân bang” phía tây của mình,
cũng có quan hệ trao đổi cống vật định kỳ (với các P’tao) nhưng không chặt chẽ bằng
phía Cămpuchia. Mặt khác, người Gia Rai, dân tộc lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây
Nguyên với người Chàm đều cùng thuộc một ngữ hệ Malayo-Polynésien nên rất gần gũi
nhau, thậm chí có tác giả còn cho rằng người Gia Rai chính là ng
ười Chàm dạt lên Tây
Nguyên trong những điều kiện và những thời gian lịch sử nào đó. Hiện còn có một số dấu
vết các tháp Chàm ở vùng Gia Rai…
6
Trong quá trình Nam tiến, người Việt đã mất trên ba trăm năm mới giải quyết
xong vùng đồng bằng ven biển Champa, sau đó đi tiếp về nam, đứng chân được trên vùng
đất Thủy Chân Lạp vừa xong thì cũng là lúc người Pháp tràn vào. Do vậy triều đình Việt
chưa có thời gian quan tâm nhiều đến vùng đất cao phía tây và các bộ lạc sống trên đó.
Triều đình Huế cũng có phái một số quan chức lên tìm hiểu và bắt quan hệ với các bộ lạc
Tây Nguyên, tất nhiên với ý đồ chinh phục. Tuy nhiên công cuộc này cũng còn rất sơ sài,
các phái viên triều đình có gặp Vua Nước, Vua Lửa, mà họ gọi là Thủy Xá, Hỏa Xá, đặt
quan hệ “triều cống” định kỳ của các vị này với triều đình và “ban tước” của triều đình
cho các vị này, và vì hiểu rằng đây quả thực là các “Vua” nên họ yên trí như vậy là đã
nắm được toàn bộ Tây Nguyên. Có hiện tượng đáng chú ý: triều Nguyễn đã từng thiết lập
một hệ thống “đồn sơn phòng” suốt dọc các tỉnh trung Trung bộ trên ranh giới giữa vùng
người Việt và vùng sinh sống của các dân tộc thiểu số ở phía tây, riêng ở Quảng Ngãi còn
lập cả một bờ lũy dài hơn trăm km ngăn cách giữa hai vùng, chứng tỏ triều đình coi phía
bên kia là một “nước” khác, có thể là một thứ “man” chư hầu…
7
3 - Người Pháp với Tây Nguyên.
Quá trình xâm nhập của người Pháp vào Tây Nguyên khá lâu dài và sâu.
Đầu tiên là các nhà truyền giáo. Do chính sách “sát tả”, bài trừ Cơ đốc giáo của
các vua đầu triều Nguyễn, các nhà truyền giáo Cơ đốc đã tìm đường lánh lên vùng rừng
núi Tây Nguyên có thể an toàn hơn. Họ đã đi bằng nhiều đường khác nhau, sau nhiều lần
thất bại cuối cùng đã lên được đến vùng người Ba Na ở Kontum và thiết lập được xứ đạo
đầu tiên trên cao nguyên tại đây. Tại Đại chủng viện ở thị xã Komtum hiện nay có một
bảo tàng (được gọi là “Phòng truyền thống”) minh họa khá sinh động và chính xác con
đường truyền đạo Cơ-đốc lên Tây Nguyên. Nhiều nhà truyền giáo cũng là những nhà dân
tộc học tận tụy và uyên bác. Chính họ đã để lại những công trình nghiên cứu đa dạng và
sâu sắc về Tây Nguyên.
Đồng thời và tiếp sau các nhà truyền giáo là các “phái bộ” (mission) khảo sát, vừa
là những người tiên phong đi chuẩn bị và dọn đường cho việc chinh phục, đồng thời cũng
là những nhà khoa học được đào tạo rất cơ bản, ít nhất ở hai trường Dân tộc học và
Trường Pháp quốc hải ngoại (École française d’Outre-mer), một số người là sĩ quan quân
đội. Nhiều phái bộ như vậy đã đi hầu khắp Tây Nguyên, không bỏ sót một vùng nào,
nghiên cứu hoặc một cách tổng thể về vùng đất và người này, hoặc về từng phương diện,
từng tộc người, từng vùng riêng biệt. Một trong những phái bộ đó, do Henri Maitre dẫn
đầu, đã để lại một tác phẩm đồ sộ đến nay vẫn là công trình khảo sát cơ bản, toàn diện và
tỉ mỉ nhất về Tây Nguyên, chưa ai vượt qua được. Công trình này có tên là Les jungles
Mois (Rú Mọi), gồm hai phần, phần đầu là Nhật ký hành trình của phái bộ xuyên suốt
Tây Nguyên, phần hai trên cơ sở
tổng kết toàn bộ các khảo sát, dựng nên bức tranh toàn
diện về Tây Nguyên. Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội đã tổ chức dịch phần hai
công trình này, dưới cái tên Rừng người Thượng, đang được in ở nhà xuất bản Tri Thức.
Tiếp sau các phái bộ khảo sát là các nhà cai trị, cũng được đào tạo rất cơ bản về
nhân chủng học, dân tộc học trước khi sang Việt Nam. Rất nhiều người trong số này, như
Sabatier, công sứ Pháp đầu tiên ở Đắc Lắc, là nhà khoa học uyên bác. Ông là người đầu
tiên sưu tầm và dịch ra tiếng Pháp trường ca Đam San, cũng đã sưu tầm và hệ thống hóa
toàn bộ luật tục Ê Đê. Ông từng cai trị tỉnh Đắc Lắc bằng một kiểu “Tòa án Luật tục”, kết
hợp khôn khéo luật tục của người Ê Đê với luật chung cho toàn Đông Dương. Bên cạnh
những viên quan cai trị này, còn có những nhà chuyên môn giỏi và tâm huyết trong nhiều
8
lĩnh vực, như Antomarchi, một nhà ngôn ngữ học lão luyện, người đã đặt ra vần chữ cái
La tinh đầu tiên cho tiếng Ê Đê. Thậm chí còn có những bác sĩ như Jouin, vừa là một
thầy thuốc nổi tiếng, vừa là một nhà dân tộc học sâu sắc…
Sau cùng đến lượt các nhà khoa học chuyên nghiệp, như G. Condominas, A. de
Hautecloque-Howe, Boulbet, Maurice…, thường đi sâu và ở lại lâu dài trong các vùng
thực địa, để lại những công trình quan trọng hoặc về từng dân tộc hoặc về từng vấn đề
dân tộc học lớn ở Tây Nguyên. Có người như Jacques Dournes, là một linh mục đến Tây
Nguyên, ở lại suốt hai mươi lăm năm, cuối cùng bỏ đạo, sống theo phong tục Tây
Nguyên, là một nhà Tây Nguyên học lớn…
Công cuộc chinh phục Tây Nguyên của người Pháp diễn ra song song với cuộc
xâm chiếm Việt Nam và toàn Đông Dương. Ở Tây Nguyên họ cũng gặp phải sự kháng cự
của các bộ lạc bản địa. Trước đây, giữa các bộ lạc ở đây vẫn thường diễn ra chiến tranh,
chủ yếu để cướp tù binh bán sang các nước chung quanh làm nô lệ. Vốn là những dân tộc
quen sống tự do, phóng khoáng, có ý thức tự trọng và tinh thần thượng võ cao, không
chịu bất cứ sự áp bức, áp đặt nào, họ đã đứng lên chống lại những người mới đến mang
tới một ách thống trị xa lạ. Tuy nhiên những cuộc kháng cự thường rời rạc, một vài
phong trào liên kết được một số vùng tương đối rộng không tồn tại được lâu. Song cũng
có những vùng cuộc đấu tranh diễn ra khá dai dẳng, thậm chí có nơi suốt gần trăm năm
đô hộ người Pháp vẫn không hoàn toàn thiết lập được bộ máy cai trị.
Khi đã chiếm được toàn bộ Đông Dương, người Pháp đã chia bán đảo này ra
thành năm xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao miên. Vậy nên phân Tây
Nguyên về đâu? Họ có cái mà Jacques Dournes, trong tác phẩm P’tao… của ông, gọi là
“logique du découpage” (lô gích của sự phân cắt), tất nhiên là lô gích phân cắt sao cho
thuận tiện hơn cả đối với sự cai trị của chính quyền thực dân. Thấy trong các “lân bang”
trước nay, người Lào đã xâm nhập vào Tây Nguyên sâu hơn cả, về mặt chủng tộc cũng
tương đố
i gần gũi, nên họ cắt Tây Nguyên về Lào. Một thời gian sau, nhận thấy thủ đô
Lào đặt ở Viêng Chăn quá xa, khó với tới Tây Nguyên, đến năm 1904 Toàn quyền Đông
Dương đã ký nghị định giao Tây Nguyên về cho triều đình Huế. Như vậy về mặt pháp lý
(của chính quyền thực dân), từ năm 1904 Tây Nguyên mới chính thức thuộc về Trung
Kỳ, và từ đó thuộc về Việt Nam.
9
Chủ trương của người Pháp đối với Tây Nguyên trước sau không hoàn toàn thống
nhất. Viên công sứ Pháp đầu tiên cai trị Tây Nguyên là Sabatier (lúc bấy giờ toàn bộ Tây
Nguyên được coi là một tỉnh gọi là tỉnh Kontum, thủ phủ đặt ở Buôn Ma Thuột) chủ
trương “bảo tồn” nguyên vẹn Tây Nguyên, ngăn không cho người Việt, người Hoa, và cả
người Pháp lên sinh sống và khai thác Tây Nguyên. Ông muốn giữ không chỉ đất đai, mà
cả con người, văn hóa, xã hội Tây Nguyên mà ông khá am hiểu trong trạng thái đúng như
khi nó được “tìm thấy”, không để cho vùng đất, người, văn hóa và xã hội cổ truyền tốt
đẹp này bị tổn thương vì sự xâm nhập của các thế lực ngoại lai. Ông kiên trì thu phục
được các tù trưởng bản địa (Ama Thuột chính là một tù trưởng có ảnh hưởng lớn trong
vùng Ê Đê, đã quy thuận, hợp tác với Sabatier, và làng của ông, Buôn Ma Thuột [có thể
dịch sát nghĩa: Làng của Cha thằng Thuột], trở thành thủ phủ của toàn vùng. Sabatier tự
biến mình thành một tù trưởng đứng đầu toàn xứ, tổ chức nhiều cuộc ăn thề kết nghĩa
trung thành với các tù trưởng lớn trong vùng, thiết lập một bộ máy và một phương thức
cai trị dựa trên luật tục của các dân tộc bản địa…
Chính sách “đóng cửa Tây Nguyên” của Sabatier vấp phải sự chống đối của các
thế lực thực dân muốn đổ xô vào khai thác vùng đất màu mở này. Cuối cùng, do áp lực
gay gắt của họ, Sabatier bị lật đổ, ông đã thất bại trong ý đồ có thể tốt đẹp nhưng ảo
tưởng của ông… Từ đó các nhà thực dân Pháp mới bắt đầu khai thác Tây Nguyên, chủ
yếu là lập các đồn điền cà phê, cao su, chè do người Pháp làm chủ, sử dụng một số công
nhân người Việt được đưa lên đây, và dần dần có thêm ít nhiều công nhân người Tây
Nguyên…
Chính trong thời gian cai trị của người Pháp, đã đào tạo được một số trí thức trong
các dân tộc bản địa Tây Nguyên, chủ yếu trong hai ngành y tế và giáo dục. Hầu như tất cả
các trí thức này về sau đều trở thành cán bộ nòng cốt của cách mạng ở Tây Nguyên…
Chỉ hơn một tháng sau Cách mạng Tháng Tám, quân Pháp đã trở lại đánh chiếm
Nam Bộ, tiếp liền sau đó là Tây Nguyên. Đáng chú ý là suốt 9 nă
m chiến tranh Pháp
không chiếm được vùng duyên hải Nam Trung Bộ từ nửa tỉnh Quảng Nam vào đến Phú
Yên, nhưng họ lại tập trung sức quyết chiếm Tây Nguyên. Ấy là vì vị trí chiến lược hết
sức quan trọng của Tây Nguyên, về mặt quân sự “ai làm chủ được Tây Nguyên thì sẽ làm
chủ cả miền nam Đông Dương”. Cuộc kháng chiến 9 năm ở vùng Nam Trung Bộ (lúc
10
bấy giờ gọi là Liên khu 5) chính là cuộc giành giật quyết liệt giữa ta và địch vùng cao
nguyên chiến lược này. Chính qua cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung này mà các dân
tộc Tây Nguyên đã trở nên gần gũi và gắn bó ngày càng sâu sắc với cách mạng, với cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, trở thành một bộ phận khắng khít không thể tách rời của
cộng đồng rộng lớn đó. Từ những cơ sở chính trị đầu tiên được kiên trì xây dựng, tiến lên
thành những cơ sở du kích vũ trang, các làng chiến đấu kiên cường, đến cuối những năm
kháng chiến chống Pháp Tây Nguyên đã có thể trở thành địa bàn thuận lợi cho các đơn vị
chủ lực mở những chiến dịch ngày càng lớn, cho đến chiến dịch Đông- Xuân 1953-54,
phối hợp với Điện Biên Phủ, giải phóng hoàn toàn tỉnh Kontum và toàn bộ vùng Bắc Tây
Nguyên…
Từ sau năm 1954 đến năm 1959-60, Tây Nguyên đã trải qua một giai đoạn rất đặc
biệt. Đây là thời kỳ phong trào cách mạng ở miền Nam bị đánh phá hết sức ác liệt, tổn
thất nặng nề trong các chiến dịch “chống cọng, tố cọng” của chính quyền Sài Gòn.
Những cán bộ cọng sản không còn trụ lại được ở đồng bằng phải lánh lên miền núi để
bảo tồn lực lượng. Họ phải lặn mình trong đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, dựa vào
dân, được dân bảo vệ, nuôi dưỡng mà tồn tại. Chính trong hoàn cảnh này công tác vận
động quần chúng đã được thực hiện tốt hơn cả. Để tồn tại, và là tồn tại để rồi sẽ đến lúc
bùng dậy giành lại thế tấn công, những người cọng sản không chỉ dựa vào dân để được
che chở mà còn phải ra sức gây dựng và phát triển tốt nhất, sâu nhất mọi mặt đời sống xã
hội ở vùng dân tộc, và để làm được điều đó lại phải hiểu biết sâu sắc hơn bao giờ hết
những đặc điểm quan trọng nhất của xã hội này, tôn trọng và vận dụng những đặc điểm
đó trong công tác vận động quần chúng. Kết quả là trong khi phong trào cách mạng ở
đồng b
ằng phải trải qua một giai đoạn thoái trào nghiêm trọng, thì ở miền núi và vùng
đồng bào các dân tộc Tây Nguyên ngược lại không hề có thoái trào, mà là phát triển
mạnh mẽ và sâu sắc. Thậm chí ở một số vùng đã thực hiện được những điều kỳ lạ: như ở
vùng người Cơ Tu và người Cà Dong thuộc miền núi Quảng Nam, một số cán bộ trụ bám
ở lại tại đây đã tự mình mày mò sáng tạo ra chữ viết cho hai dân tộc này và từ năm 1954
đến năm 1959 đã thanh toán xong nạn mù chữ trong đồng bào dân tộc ở đây… Chính trên
cơ sở đó mà khi bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ Tây Nguyên đã đạt đến một thời
kỳ có thể gọi là cao trào, sự đóng góp của Tây Nguyên vào công cuộc chống Mỹ cứu
11
nước là vô cùng to lớn. Không thể hình dung cuộc chiến đấu vĩ đại này và chiến công giải
phóng Sài Gòn nếu không có Tây Nguyên…
Tóm lại, do những điều kiện lịch sử đặc trưng, các dân tộc Tây Nguyên đến với
cộng đồng các dân tộc Việt Nam khá muộn, nhưng quá trình gia nhập và gắn bó với cộng
đồng này lại rất nhanh và sâu sắc. Cho đến năm 1975, tình hình Tây Nguyên là rất tốt về
mọi mặt.
4 - Về các dân tộc Tây Nguyên.
Tây Nguyên có khoảng 20 dân tộc khác nhau. Nói là “khoảng” vì có dân tộc theo
bảng phân định dân tộc chính thức của nhà nước hiện nay được coi là một nhánh của một
dân tộc chung lớn hơn, nhưng cho đến nay lại không chịu chấp nhận cách phân loại đó
mà tự coi mình là một dân tộc riêng. Như người Cà Dong ở miền núi tây Quảng Nam,
theo bảng phân loại dân tộc học của nhà nước là một nhánh của dân tộc Xơ Đăng, nhưng
hầu hết người Cà Dong nhất định tự coi mình là một dân tộc riêng với tất cả các đặc điểm
riêng của một dân tộc độc lập…
Các dân tộc ở Tây Nguyên thuộc hai ngữ hệ khác nhau: Môn-Khơme (hay Nam
Á) và Malayo-Polynésien (hay Nam Đảo). Quan sát sự phân bố các dân tộc ở Tây
Nguyên theo ngữ hệ có thể thấy một điều đáng chú ý: thuộc ngữ hệ Môn-Khơme có các
dân tộc ở Bắc Tây Nguyên từ khoảng giữa tỉnh Gia Lai hiện nay trở ra, như các dân tộc
Xơ Đăng, Cơ Tu, Dẻ Triêng, Rơ Mâm, Ba Na, Brâu…, và các dân tộc ở miền Nam Tây
Nguyên từ nửa tỉnh Đắc Lắc trở vào như các dân tộc Mơ Nông, Kơ Ho, Mạ, Sre,
Stiêng… Chen vào giữa, trên vùng đất từ giữa tỉnh Gia Lai hiện nay cho đến nửa tỉnh
Đắc Lắc, là các dân tộc thuộc ngữ hệ Malayo-Polynésien gồm người Gia Rai, người Ê
Đê, người Chu Rú, người Rakglei. Người Chàm sống ở vùng duyên hải nam Trung Bộ
c
ũng thuộc ngữ hệ này. Có tác giả đã giải thích hiện tượng này như sau: Từ xa xưa Tây
Nguyên vốn là vùng đất của các dân tộc Môn-Khơme. Các dân tộc Malayo-Polynésien đã
từ các đảo phía nam đến, trước tiên đổ vào dải đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ hiện
nay. Các dân tộc này đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, trong số đó riêng người
Chàm đã phát triển thành một vương quốc hùng mạnh, và ép các dân tộc ở cạnh mình ra,
buộc họ phải tìm cách tràn lên vùng đất cao phía tây. Do địa hình dốc đứng trên sườn
12
phía đông của cao nguyên này, họ chỉ có thể tràn lên theo một số đường độc đạo nhất
định: người Gia Rai đã lên theo đường đèo An Khê (tức đường 19 hiện nay) và đường Bà
Lá, Cà Lúi, lên Cheo Reo, Ayun Par (tức đường số 25), chiếm cao nguyên Gia Lai;
Người Ê Đê lên theo đường đèo Phượng Hoàng (tức đường 26 hiện nay) chiếm cao
nguyên Đắc Lắc; Người Rakglei thì tạt lên mạn tây Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh
Thuận, ở đây địa hình dốc đứng cản trở họ có thể lên xa hơn. Như vậy các dân tộc
Malayo-Polynésien đã từ đồng bằng nam Trung Bộ tiến về phía tây, chen vào giữa như
một chiếc nêm, ép các dân tộc Môn-Khơme ra hai đầu. Đương nhiên điều này diễn ra
trong những thời kỳ lịch sử rất xa xưa, có thể khi Biển Đông còn cạn, miền nam bán đảo
Đông Dương có thể còn gắn liền với các đảo Nam Á.
Đông, mạnh nhất ở Tây Nguyên là dân tộc Gia Rai, rồi đến người Ê Đê, người Ba
Na, người Xơ Đăng… Cũng có những dân tộc rất nhỏ như người Châu ở trong thung
lũng Mường Hon của núi Ngok Linh, chỉ có khoảng 80 người…
13
II- Hai vấn đề lớn
trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền.
A - Làng.
Trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền, vẫn còn rất đậm nét cho đến tận ngày nay,
làng là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất. Không có đơn vị xã hội cao hơn làng. Trong
nhiều ngôn ngữ các dân tộc Tây Nguyên không có từ để chỉ đơn vị cao hơn làng. Boon
trong tiếng Mơ Nông, Buôn trong tiếng Ê Đê, Plei trong tiếng Gia Rai, Ba Na, Veil trong
tiếng Cơ Tu… đều có nghĩa là làng. Ngày trước trong một số dân tộc có từ T’ring dùng
để chỉ liên minh giữa một số làng, nhưng đấy chỉ là những liên minh tạm thời để cùng
nhau đối phó với một số trở lực nào đó, khi trở lực ấy đã được giải quyết thì những liên
minh đó cũng tan rã, không hề có lãnh thổ và tổ chức hành chính tương đương.
Trong xã hội cổ truyền Tây Nguyên cũng không có đơn vị nhỏ hơn làng. Ở đây ý
thức về cá nhân chưa phát triển, không có cá nhân độc lập đối với làng. Khi gặp một
người Tây Nguyên, hỏi anh ta tên gì, thì phản xạ tự nhiên đầu tiên của anh ta là trả lời:
Tôi là người của làng X hay Y nào đấy. Gạn hỏi kỹ hơn nữa: Nhưng anh tên là gì?, lúc đó
anh ta mới trả lời rõ hơn: Tôi là A hay B ở làng X hay Y. Vẫn không thể quên làng. Con
người là một bộ phận nhỏ chìm trong cộng đồng làng, hòa tan trong làng, không thể tách
rời khỏi làng. Ở Tây Nguyên, hình phạt nặng nề nhất, nổi đau đớn lớn nhất, điều nhục
nhã nhất đối với một người là bị đuổi khỏi làng. Thậm chí trong trường hợp đó con người
mất luôn cả tính người, không làng nào khác chấp nhận anh ta nữa, anh ta sẽ trở thành
như một con thú, lang thang và chết vùi trong rừng. Nếu ta thường nói người Tây Nguyên
có tính cộng đồng rất cao, thì tính cộng đồng đ
ó là tính cộng đồng làng, thậm chí còn sâu
đậm và cụ thể hơn cả ý thức về tộc người. Một người Ba Na biết mình là người Ba Na,
nhưng ý thức về tộc người Ba Na không sâu đậm bằng ý thức về làng của mình. Ngày
trước, trong chiến tranh bộ lạc, không phải chẳng hạn mấy làng Ba Na này liên minh lại
đi đánh nhau với mấy làng Gia Rai kia, mà là hai ba làng Ba Na này liên minh với vài ba
làng Gia Rai kia đi đánh hai ba làng Gia Rai khác liên minh với vài ba làng Ba Na khác.
Làng được điều hành bằng một t
ổ chức đặc biệt là Hội đồng già làng, gồm đại
diện của các hộ trong làng. Đứng đầu Hội đồng già làng là chủ làng. Già làng là những
người hiền minh nhất của làng, những người am hiểu rừng núi, đất đai, phong tục tập
14
quán, giàu kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm sống, giỏi giang trong đối ngoại, và là
người có đức độ cao, được dân làng bầu lên, có thể bị truất phế khi có những vi phạm đối
với các quy định truyền thống của làng… Những người như vậy thường là những người
đã cao tuổi, nhưng cũng có những người còn khá trẻ vẫn được bầu làm già làng nếu được
sự tin cậy và kính trọng của toàn làng.
Hội đồng già làng quản lý làng theo một hệ thống luật pháp đặc biệt: luật tục
(droit coutumier) của làng, tức những điều được cả cộng đồng công nhận và tuân theo
như là luật, song lại tồn tại dưới hình thức là những phong tục. Cũng có người dịch là tập
quán pháp, tức những tập quán được cả cộng đồng tuân thủ như luật. Già làng chính là
những người am hiểu tường tận luật tục. Trong Hội đồng già làng thường có một người
có chức năng phân xử mọi bất đồng hay vi phạm bằng hình thức tòa án luật tục của làng.
Sức sống bền vững của làng ở Tây Nguyên quả thật rất kỳ lạ, trải qua tất cả các
biến động của lịch sử. Trong các cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ vừa qua,
nhiều lúc làng bị đánh dữ dội, bị xé nát, bị di chuyển đi xa, nhưng rồi cộng đồng làng lại
được khôi phục, hồi sinh. Cho đến nay, mặc dầu bị xáo trộn rất dữ trong những chuyển
động xã hội suốt mấy mươi năm qua, về cơ bản cộng đồng làng vẫn còn. Một bằng chứng
đáng chú ý là trong mấy cuộc bạo động vừa rồi ở Tây Nguyên, làng nào đã đi biểu tình
thì bao giờ cũng đi nguyên cả một làng, không bao giờ có hiện tượng đi lẻ tẻ, và đã đi cả
làng thì bao giờ cũng là do già làng dẫn đầu.
Trong công tác vận động quần chúng ở Tây Nguyên thời chiến tranh chống Pháp,
chống Mỹ, kinh nghiệm thành công quan trọng nhất là phải hiểu biết sâu xa và dựa chắc
vào đặc điểm xã hội này, phát huy được vai trò của làng, của già làng trong mọi việc, ở
mọi tình huống. Không hiểu và nắm
được làng và già làng, thì sẽ không hiểu và nắm
được gì cả ở Tây Nguyên, mọi công việc ắt thất bại. Và nếu làng ở đây tan rã thì nguy cơ
rối loạn xã hội sẽ rất lớn.
B - Sở hữu Đất và Rừng.
Ở Tây Nguyên, rừng núi mênh mông vậy nhưng đều có chủ rành mạch, cụ thể.
Không có đất và rừng vô chủ. Người chủ của đất và rừng chính là các làng, từng làng.
Rừng núi, tất cả đã được “chia” cho từng làng từ xa xưa, “đã là như vậy từ tổ tiên muôn
đời truyền lại”, đã được “Yang (tức Thần linh) giao cho từng làng”, có ranh giới rất rõ
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét