Trang 5
độ và tay nghề. Ngoài ra, FDI còn giúp đẩy nhanh tiến trình hội nhập của
quốc gia với nền kinh tế thế giới vì đầu tư trực tiếp là nhân tố tác động mạnh
tới tiến trình hoàn thiện thể chế, chính sách đến môi trường đầu tư.
1.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam.
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời đến nay đã hơn 15 năm
(từ 12/1987), kể từ đó tới nay đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung và hiện nay
luật thừa nhận có 4 hình thức FDI cơ bản và một số hình thức đầu tư đặc biệt
khác:
1.1.2.1 Hợp đồng hợp tác kinh doanh (A business co-operation
contract).
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc
nhiều bên (gọi tắt là các bên hợp doanh) quy đònh trách nhiệm và phân chia
kết quả kinh doanh cho mỗi bên (nước ngoài và sở tại) để tiến hành đầu tư
kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân. Đặc điểm của hình
thức này là:
− Các bên Việt Nam và nước ngoài hợp tác với nhau để tiến hành
kinh doanh tại Việt nam trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký giữa hai hoặc
nhiều bên, trong hợp đồng quy đònh rõ nghóa vụ, quyền lợi và trách nhiệm
của mỗi bên tham gia.
− Các bên tiến hành hoạt động kinh doanh mà không cần lập ra
một pháp nhân mới, tức không cho ra đời công ty, xí nghiệp mới.
− Thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do các bên tự thỏa
thuận, phù hợp với tính chất hoạt động kinh doanh và sự cần thiết để hoàn
thành mục tiêu của hợp đồng.
− Mỗi bên làm nghóa vụ tài chính đối với nước chủ nhà theo những
quy đònh riêng.
1.1.2.2 Doanh nghiệp liên doanh (A Joint Venture Enterprise).
Là doanh nghiệp mới được thành lập trên cơ sở góp vốn hai bên hoặc
nhiều bên Việt Nam và nước ngoài. Đặc điểm của hình thức này là:
− Doanh nghiệp được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm
hữu hạn, mang tư cách pháp nhân Việt Nam.
− Vốn pháp đònh của liên doanh ít nhất bằng 30% vốn đầu tư, đối
với những dự án đầu tư vào hạ tầng cơ sở, trồng rừng, đầu tư vào các vùng
kinh tế khó khăn có thể chấp nhận vốn pháp đònh thấp đến 20% nhưng phải
được cơ quan cấp giấy phép chấp thuận.
− Phần vốn đóng góp của bên phía nước ngoài không thấp hơn
30% vốn pháp đònh trừ trường hợp đặc biệt có thể cho phép thấp đến 20%.
− Thời gian đầu tư cho phép không quá 50 năm, trong trường hợp
đặc biệt có thể kéo dài đến 70 năm.
Trang 6
Tùy vào quy mô của vốn đầu tư và lónh vực đầu tư mà nhà nước quy
đònh thời hạn đầu tư khác nhau.
− Tổng giám đốc điều hành liên doanh có thể là người nước ngoài,
trong trường hợp đó phó tổng giám đốc thứ nhất là người Việt Nam, thường
trú tại Việt Nam.
− Hội đồng quản trò là cơ quan lãnh đạo của doanh nghiệp liên
doanh. Số thành viên của hội đồng quản trò do các bên quyết đònh, mỗi bên
cử người của mình tham gia hội đồng quản trò ứng với phần vốn đóng góp
trong vốn pháp đònh. Bên ít nhất là hai người.
− Lời, lỗ được chia cho mỗi bên căn cứ vào tỷ lệ góp vốn trong vốn
pháp đònh (trừ trường hợp các bên thỏa thuận khác đi).
1.1.2.3 Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (Enterprise with
one hundred (100) percent Foreign owned capital).
Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
lập tại Việt Nam, tự tổ chức quản lý và chòu trách nhiệm về kết quả hoạt
động kinh doanh của mình. Đặc điểm của hình thức này là:
− Doanh nghiệp được lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu
hạn, mang tư cách pháp nhân Việt Nam.
− Vốn pháp đònh của doanh nghiệp ít nhất phải bằng 30% vốn đầu
tư, trừ trường hợp đầu tư vào những vùng kinh tế khó khăn thì tỷ lệ này có
thể thấp đến 20% vốn pháp đònh.
− Trong quá trình hoạt động không được giảm vốn pháp đònh, tăng
vốn pháp đònh phải xin phép.
1.1.2.4 Doanh nghiệp cổ phần
Căn cứ Nghò đònh số 38/2003 của Thủ tướng chính phủ ban hành ngày
15/04/2003 về việc chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài sang hoạt động công ty cổ phần thì hình thức này được hiểu là "Doanh
nghiệp cổ phần là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia làm nhiều phần
bằng nhau gọi là cổ phần, trong đó các cổ đông sáng lập nước ngoài nắm giử
ít nhất 30% vốn điều lệ; được tổ chức hoạt động theo hình thức công ty cổ
phần được hưởng các đảm bảo của nhà nước Việt Nam và ưu đãi theo Luật
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam".
Có ba điều kiện để một doanh nghiệp nước ngoài từ hình thức công ty
trách nhiệm hữu hạn chuyển sang công ty cổ phần:
− Doanh nghiệp đã góp đủ vốn pháp đònh theo quy đònh tại giấy
phép đầu tư.
− Đã chính thức hoạt động ít nhất ba năm trong đó năm cuối trước
khi chuyển đổi phải có lãi.
− Có hồ sơ đề nghò chuyển đổi.
Trang 7
Ngoài ra tại Việt Nam, còn có các hình thức đầu tư đặc thù khác là:
Hình thức xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT - Build-
Operate-Transfer): là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền
của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình
kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất đònh; hết thời hạn, nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam.
Cần phân biệt với hình thức BTO và BT:
Hình thức xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO): là văn bản ký
kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước
ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong nhà
đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam, chính
phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một
thời hạn nhất đònh để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
Hình thức xây dựng - chuyển giao (BT): là văn bản ký kết giữa cơ
quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để
xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam.
Hình thức khu chế xuất (Export Processing Zone): đây là một khu
vực lãnh thổ được nhà nước quy hoạch riêng nhằm thu hút các nhà đầu tư
trong nước và nước ngoài vào hoạt động để chế biến ra hàng công nghiệp
phục vụ xuất khẩu.
Hình thức phát triển KCN (Industrial Zone, Industrial Park): ngày
24/4/1997, chính phủ đã ban hành quy chế khu chế xuất, khu công nghiệp,
khu công nghệ cao gọi chung là khu công nghiệp thay thế cho hai Nghò đònh
là Nghò đònh sốâ 322-NĐ/HĐBT ngày 18/10/1991 và Nghò đònh sốâ 192-NĐ/CP
ngày 28/12/1994. Như vậy, KCN tại Việt Nam được hiểu là: "KCN là khu tập
trung các doanh nghiệp KCN, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các
dòch vụ hổ trợ sản xuất công nghiệp, có ranh giới đòa lý xác đònh, không có
dân cư sinh sống và do Chính phủ quyết đònh thành lập".
1.2 Vò trí, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với
tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước.
1.2.1 Vò trí:
Đầu tư nước ngoài chiếm vò trí khá quan trọng trong nền kinh tế Việt
Nam. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một trong những nguồn vốn
quan trọng cho đầu tư phát triển, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dòch cơ cấu
theo hướng CNH-HĐH; mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới; nâng cao
năng lực quản lý và trình độ công nghệ, mở rộng thò trường xuất khẩu; tạo
thêm nhiều việc làm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động
hội nhập kinh tế thế giới.
Trang 8
Như Nghò quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã
khẳng đònh kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thò trường đònh hướng xã hội chủ nghóa ở nước ta, được
khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.
Thu hút vốn FDI là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực
trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục
vụ sự nghiệp CNH-HĐH, phát triển đất nước.
1.2.2 Vai trò của đầu tư quốc tế:
Có thể nói, hoạt động đầu tư quốc tế ngày càng thể hiện rõ vai trò to
lớn trong việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế và thương mại ở các nước
(nùc đầu tư lẫn nước tiếp nhận đầu tư).
1.2.2.1 Đối với nước đầu tư:
Giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thông qua việc tận dụng
những lợi thế sản xuất của nơi tiếp nhận đầu tư như nguồn tài nguyên, vật
liệu rẻ tiền, giúp hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của
vốn đầu tư. Đồng thời có thể tạo ra nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu vào
ổn đònh với giá phải chăng cho nước đầu tư.
Bên cạnh đó, đầu tư quốc tế còn là phương tiện để các nhà đầu tư có
thể tiếp cận và mở rộng thò trường tiêu thụ ra bên ngoài, tạo lập được mối
quan hệ với khách hàng và các kênh phân phối hàng hóa tại đòa phương,
tránh được hàng rào bảo hộ mậu dòch của các nước thông qua việc xây dựng
các nhà máy sản xuất và thò trường ở bên ngoài. Ngoài ra, đầu tư vốn ra nước
ngoài giúp các chủ đầu tư phân tán bớt rủi ro khi tình hình trong nước bất ổn
hay khi thò trường trong nước có dấu hiệu suy thoái, bão hòa
1.2.2.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
Có thể khái quát luồng vốn đầu tư quốc tế hiện nay chảy vào hai khu
vực: các nước tư bản phát triển và các nước chậm và đang phát triển. Nhìn
chung, đầu tư quốc tế đều có vai trò quan trọng đặc biệt, nhưng vai trò này
được thể hiện khác nhau giữa hai khu vực này:
a/ Đối với các nước tư bản phát triển (như Mỹ, EU, Nhật bản ) đầu
tư của nước ngoài có ý nghóa quan trọng, nó giúp giải quyết khó khăn về các
vấn đề kinh tế xã hội trong nước như: thất nghiệp, lạm phát Và cũng qua
đó, các nhà đầu tư nước ngoài có thể mua lại những công ty, xí nghiệp làm
ăn thua lỗ có nguy cơ bò phá sản, giúp cải thiện tình hình thanh toán, tạo công
ăn việc làm mới cho người lao động.
Mặt khác đầu tư nước ngoài còn góp phần tăng thu ngân sách quốc
gia, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và
thương mại trong nước. Ngoài ra, nó còn giúp các nhà quản lý trong nước có
thể học hỏi được kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ các nước khác.
Trang 9
b/ Đối với các nước chậm và đang phát triển
Đầu tư quốc tế giúp các nước này đẩy mạnh tốc độ phát triển nên
kinh tế thông qua việc tạo ra các xí nghiệp, các nhà máy mới hoặc tăng quy
mô của các đơn vò kinh tế. Qua đó góp phần phát triển những ngành nghề
mới, phát triển nguồn nhân lực và tạo công ăn việc làm mới, thu hút thêm
nhiều lao động, từ đó tăng thu nhập cho người lao động, tạo điều kiện tăng
tích lũy trong nước.
Thông qua tiếp nhận đầu tư quốc tế các nước chậm và đang phát triển
có điều kiện tiếp nhận được kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên
tiến của nước ngoài. Từ đó, tạo động lực thúc đẩy sự đổi mới công nghệ của
các nước, góp phần tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm.
Đầu tư nước ngoài là một trong những nguồn vốn quan trọng bù đắp
cho sự thiếu hụt về vốn của các nước. Đặc biệt đối với các nước chậm và
đang phát triển thì đầu tư nước ngoài đã góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư
trong nước và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Đầu tư trực tiếp nước
ngoài được đánh giá là có ưu thế nổi bật hơn so với các nguồn vốn đầu tư
nước ngoài khác như vay nợ, viện trợ do không gây nợ cho nước nhận đầu
tư.
Đầu tư nước ngoài tác động mạnh đến cạnh tranh và độc quyền trong
nước, từ đó thúc đẩy cạnh tranh, làm cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả
hơn, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Ngoài ra, nhờ có đầu tư
nước ngoài cơ cấu nền kinh tế của các nước này chuyển dòch nhanh chóng
theo chiều hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và dòch vụ,
giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp, khai thác trong GDP, đẩy mạnh sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Vai trò của các MNC đối với dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài: Ngày
nay, các MNC đã trở thành lực lượng chủ yếu, nòng cốt thúc đẩy quá trình
toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế thế giới, thông qua tác động to lớn của
các MNC trong việc phân bố nguồn lực của nền kinh tế thế giới, thúc đẩy
quá trình chuyển biến cơ cấu kinh tế ở các quốc gia. Phần lớn các hoạt động
FDI được thực hiện bởi các MNC, nên việc tăng trưởng nhanh của các công
ty này đã thúc đẩy mạnh dòng lưu chuyển vốn đầu tư giữa các nước.
Các MNC cũng đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tải kỹ
thuật, công nghệ, thúc đẩy quá trình CNH-HĐH ở các nước đang phát triển.
các nước đang phát triển, hầu hết các công nghệ hiện đại trong các ngành
kinh tế quan trọng như dầu khí, điện tử, viễn thông, ô tô được chuyển giao
thông qua con đường FDI. Mặt khác, công nghệ của các nhà đầu tư nước
ngoài là các MNC có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hiện chiến lược
“đi tắt đón đầu” để CNH-HĐH nền kinh tế.
Trang 10
Thông qua FDI, các MNC không chỉ bổ sung vốn đầu tư, chuyển giao
công nghệ, kiến thức quản lý cho các nước đang phát triển mà còn xây dựng
các cơ sở nghiên cứu và phát triển, đào tạo kỹ thuật cho đội ngũ lao động ở
nước chủ nhà để phục vụ cho các dự án đầu tư của họ. Nhờ đó, góp phần
nâng cao năng suất lao động trong quá trình công nghiệp hóa ở các nước
nhận đầu tư. Do đó, chiến lược đầu tư phát triển của các MNC có tác động
rất lớn đến dòng đầu tư và xu hướng vận động của FDI.
Bên cạnh đó, nó còn tạo ra các liên kết với các công ty nội đòa thông
qua mối quan hệ cung cấp nguyên vật liệu đầu vào và các dòch vụ, thúc đẩy
đầu tư nội đòa, gắn kết các công ty trong nước với thò trường thế giới, tạo ra
thò trường cho các nước đang phát triển. Ngoài ra, nhờ quá trình quốc tế hóa
sản xuất (chủ yếu do các MNC thực hiện) mà các nước đang phát triển khai
thác được có hiệu quả các nguồn lực sản xuất của mình, đặc biệt là nguồn tài
nguyên thiên nhiên phong phú và lao động dồi dào.
Việt Nam, nếu không có FDI thì các nguồn lực có lợi thế sẽ không
được khai thác có hiệu quả, trong khi đó lại rất cần các yếu tố như vốn, công
nghệ, kiến thức, kinh nghiệm quản lý tiên tiến và mạng lưới phân phối toàn
cầu của các MNC để thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Và
nhờ có các hoạt động xúc tiến thương mại của các MNC, các doanh nghiệp
trong nước có thể nắm bắt được nhu cầu và tình hình của thò trường thế giới.
Từ đó, có cơ sở thực tế để điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình cho
phù hợp với nhu cầu của thò trường hơn.
1.2.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với tăng
trưởng và phát triển kinh tế đất nước:
Qua hơn 15 năm kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam (1987), hoạt động FDI ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của
đất nước trong thời gian qua. Sự đóng góp to lớn của FDI trong quá trình tăng
trưởng và phát triển kinh tế thể hiện qua các mặt sau:
Trước hết, FDI đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát
triển, góp phần khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong
nước. Có thể nói, vốn là yếu tố có tính quyết đònh đối với tăng trưởng kinh tế
của một quốc gia. Việt Nam, khi tích lũy nội bộ từ nền kinh tế còn thấp,
nguồn thu ngân sách còn hạn chế thì tốc độ tăng trưởng sẽ phụ thuộc quan
trọng vào nguồn vốn từ bên ngoài.
Đầu tư nước ngoài là kênh vốn quan trọng góp phần thúc đẩy sự tăng
trưởng và phát triển kinh tế ở nước ta, giai đoạn 1991-1995 vốn đầu tư nước
ngoài chiếm trên 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; giai đoạn 1996-2000 số
Trang 11
vốn đầu tư nước ngoài tăng lên 1,8 lần so với giai đoạn trước đó, và chiếm
24% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Các dự án đầu tư nước ngoài đã góp phần tăng thu ngân sách, cải
thiện cán cân thanh toán và cán cân vãng lai của quốc gia. Với hàng ngàn dự
án được cấp phép hoạt động, tỷ lệ đóng góp vào GDP của Việt Nam trong
một số năm qua của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng lên
đáng kể: năm 1993 chiếm 3,6%, đến năm 1997 là 9,1%, năm 1998:10%, năm
1999: 12,2% và từ năm 2000-2002 mỗi năm đều chiếm trên 13% GDP.
Biểu số 1: Đóng góp của các dự án FDI đối với sự phát triển kinh tế Việt
Nam.
Năm
1992 1993 1994 1995 1996
Tỷ trọng trong
GDP (%)
2 3,6 6,1 6,3 7,4
Năm
1997 1998 1999 2000 2001 2002
Tỷ trọng trong
GDP (%)
9,1 10 12,2 13,2 13,5 13,8
Nguồn: http:/www.vneconomy.com.vn/số liệu thống kê.
Tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực này hơn hẳn tốc độ tăng trưởng
của khu vực trong nước. Đồng thời nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN) từ
khu vực này cũng tăng lên đáng kể. Năm 1994 nộp NSNN: 128 triệu USD,
năm 1998: 370 triệu USD và năm 2002: 459 triệu USD. Việt Nam, đầu tư
nước ngoài đã tác động tích cực đến cán cân thương mại và cán cân thanh
toán quốc tế thông qua việc tiếp nhận khá lớn nguồn vốn FDI (tổng vốn thực
hiện là 24,63 tỷ USD tính đến 3/2003).
Bên cạnh đó, khu vực kinh tế có vốn FDI cũng đã góp phần tích cực
trong việc mở rộng thò trường trong nước cũng như thò trường xuất khẩu. Nếu
không kể dầu khí thì kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài giai đoạn 1991-1995 đạt trên 1,12 tỷ USD; giai đoạn 1996-2000
đạt trên 10,4 tỷ USD; năm 2001 đạt 3,67 tỷ USD và năm 2002 là 4,5 tỷ USD.
Biểu số 2: Tình hình xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Đơn vò tính: triệu USD.
Năm
1991 1992 1993 1994 1995 1996
Xuất khẩu 52 112 269 352 336 788
Năm
1997 1998 1999 200 2001 2002
Xuất khẩu 1.790 1.982 2.547 3.300 3.670 4.500
Nguồn: http:/www.vneconomy.com.vn/số liệu thống kê.
Trang 12
Các dự án đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong chuyển
dòch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH, phát triển lực lượng sản xuất, góp
phần đáng kể trong tăng trưởng giá trò sản xuất công nghiệp cả nước, nâng
cao trình độ kỹ thuật và năng lực công nghệ cho nền kinh tế.
Thông qua các dự án đầu tư nước ngoài, nhiều công nghệ mới, hiện
đại đã được đưa vào sử dụng ở nước ta như trong các ngành thăm dò và khai
thác dầu khí, bưu chính viễn thông, sản xuất vi mạch điện tử, sản xuất máy
tính, ô tô Các dự án này đã đóng góp đáng kể trong việc gia tăng khả năng
cạnh tranh của công nghệ Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế
giới. Trong thời kỳ đầu, đầu tư nước ngoài chủ yếu thực hiện trong các lónh
vực kinh doanh bất động sản như xây dựng khách sạn, văn phòng cho thuê,
KCN, KCX trong giai đoạn từ 1997-1998 trở lại đây, đầu tư trực tiếp nước
ngoài có xu hướng thực hiện nhiều hơn vào các ngành sản xuất công nghiệp
và dòch vụ. Hiện đầu tư nước ngoài chiếm gần 35% sản lượng công nghiệp
của cả nước với tốc độ tăng trưởng hàng năm trên 20%.
Biểu số 3: Đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với sự
phát triển kinh tế của Việt Nam.
Năm
1991 1992 1993 1994 1995 1996
Tốc độ tăng giá trò sản
xuất công nghiệp (%)
45,6 40,4 13,6 12,8 8,8 21,7
Năm
1997 1998 1999 200 2001 2002
Tốc độ tăng giá trò sản
xuất công nghiệp (%)
23,2 24,4 20 23 12,1 14
Năm
1991 1992 1993 1994 1995 1996
Tỷ trọng trong
công nghiệp (%)
22,4 26,2 26,2 26,2 25,1 26,2
Năm
1997 1998 1999 200 2001 2002
Tỷ trọng trong
công nghiệp (%)
28,9 32 34,4 36 35,4 35
Nguồn: http:/www.vneconomy.com.vn/số liệu thống kê.
Ngoài ra, việc áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại ở các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã tạo ra động lực kích thích các
doanh nghiệp nội đòa đầu tư đổi mới công nghệ, góp phần tạo ra những sản
phẩm có chất lượng với giá thành thấp, cạnh tranh được với các doanh nghiệp
khác trên thò trường nội đòa và xuất khẩu.
Đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong vấn đề giải quyết
việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao trình độ cho người lao động. Khu
vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã đem lại một bộ phận đáng kể
thu nhập cho người lao động và tăng sức mua cho thò trường.
Trang 13
Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài ngày càng gia tăng. Một số lượng đáng kể các nhà quản lý và công
nhân lao động được đào tạo trong và ngoài nước đã góp phần nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực trong nước. Đây là nhân tố quan trọng góp phần làm
cho môi trường đầu tư của Việt Nam nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh
với các nước khu vực và trên thế giới.
Biểu số 4: Số lượng việc làm do khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
tạo ra:
Đơn vò tính: 1.000 người.
Năm
91-95 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Giải quyết
việc làm (*)
200 220 250 270 296 379 439 472
Ghi chú: (*) tính tới cuối năm báo cáo, không kể lao động gián tiếp.
Nguồn: http:/www.vneconomy.com.vn/số liệu thống kê.
Ngoài ra các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần thúc đẩy sự
phát triển kinh tế thò trường ở Việt Nam, đưa nền kinh tế nước ta hội nhập
nhanh với nền kinh tế khu vực và thế giới. Cho đến nay đã có trên 74 quốc
gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư ở nước ta, trong đó có hơn 80 công ty đa
quốc gia đầu tư vào Việt Nam. Chính những dự án này có tác động không
nhỏ tới việc thay đổi cơ chế chính sách quản lý kinh tế của Việt Nam theo
hướng hội nhập quốc tế.
Như vậy, có thể nói những gì mà FDI mang lại cho kinh tế xã hội Việt
Nam là điều không thể phủ nhận, đã góp phần đưa nền kinh tế nước ta lên
một tầm cao mới, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Việt Nam trong phát triển
và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
1.3 Các điều kiện cơ bản thu hút FDI:
1.3.1 Tình hình chính trò xã hội ổn đònh:
Có thể nói môi trường chính trò xã hội ổn đònh là yếu tố hấp dẫn hàng
đầu đối với các nhà đầu tư, là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh
doanh quốc tế, có tác động lớn đến việc thu hút đầu tư từ bên ngoài và là
điều kiện đầu tiên, cơ bản nhất để các nhà đầu tư quyết đònh có nên bỏ vốn
ra đầu tư hay không. Bởi vì tình hình chính trò không ổn đònh thường dẫn tới
đường lối phát triển không nhất quán. Và khi có những bất ổn về tình hình
chính trò xã hội như sự mất ổn đònh trong nước, sự xung đột với bên ngoài,
hay có những xu hướng thay đổi trong nội các Chính phủ thì sẽ ảnh hưởng
đến sự an toàn về sở hữu tài sản của các nhà đầu tư.
Do đó, trong hầu hết luật pháp về đầu tư nước ngoài của các nước đều
quy đònh rất rõ sẽ đảm bảo không quốc hữu hóa tài sản hợp pháp của các nhà
đầu tư. Và việc đảm bảo an toàn tài sản cho các nhà đầu tư nước ngoài luôn
Trang 14
chiếm vò trí quan trọng hàng đầu trong các chính sách về đầu tư nước ngoài
của nước chủ nhà. Chính sách này nhằm tạo lòng tin cho các nhà đầu tư nước
ngoài, để họ có thể yên tâm tập trung vào hoạt động kinh doanh của mình
nhằm khai thác hiệu quả dự án đầu tư.
Ngay trong điều đầu tiên của Luật Đầu tư nước ngoài Việt Nam cũng
đã thể hiện "nhà nước bảo hộ quyền sở hữu đối với vốn đầu tư và các quyền
lợi hợp pháp khác của các nhà đầu tư nước ngoài". Để thực hiện chính sách
trên, nước chủ nhà thường ký các Hiệp đònh đảm bảo đầu tư với các nước đầu
tư. Trong đó thường bao gồm các nội dung cơ bản về việc không quốc hữu
hóa, tòch thu tài sản của các nhà đầu tư nước ngoài; bồi thường những thiệt
hại về tài sản cho các nhà đầu tư trong trường hợp tài sản của họ bò trưng
dụng vào mục đích công; cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được chuyển
lợi nhuận, vốn đầu tư và các tài sản hợp pháp khác ra khỏi biên giới.
Tình hình chính trò ổn đònh là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các
cam kết của chính phủ đối với các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư, các chính
sách ưu tiên đầu tư và đònh hướng phát triển (cơ cấu đầu tư) của nước nhận
đầu tư. Đồng thời nó còn là điều kiện thiết yếu để duy trì sự ổn đònh về tình
hình kinh tế xã hội. Đây là nhân tố quan trọng tác động đến tính rủi ro của
các hoạt động đầu tư và là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư nước
ngoài.
1.3.2 Các chính sách kinh tế vó mô ổn đònh
Các chính sách kinh tế vó mô ổn đònh cũng là một trong những điều
kiện cơ bản và quan trọng nhất để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài. Trình độ
quản lý kinh tế vó mô có ảnh hưởng lớn đến sự ổn đònh kinh tế vó mô trong
nước. Duy trì sự ổn đònh các chính sách kinh tế vó mô nhằm giảm bớt những
biến động ngắn hạn trong nền kinh tế và khuyến khích tăng trưởng kinh tế,
góp phần tạo nên môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư.
Các hoạt động đầu tư nước ngoài chòu tác động bởi nhiều chính sách
của nước chủ nhà, trong đó có các chính sách tác động trực tiếp như quy đònh
về lónh vực được đầu tư, mức sở hữu của nước ngoài, miễn giảm thuế đầu tư,
quy đònh tỷ lệ xuất nhập khẩu, tư nhân hóa, cạnh tranh, bảo hộ và các chính
sách có ảnh hưởng gián tiếp như chính sách về tài chính tiền tệ, thương mại,
văn hóa-xã hội, đối ngoại
Việc duy trì sự ổn đònh các chính sách, mức độ đầy đủ và hợp lý của
các chính sách này có ảnh hưởng mạnh đến việc thu hút dòng vốn đầu tư trực
tiếp từ bên ngoài. Ngoài ra, sự ổn đònh các chính sách kinh tế vó mô trong
nước giúp cho các nhà đầu tư có thể giảm bớt các yếu tố không lường trước
được trong quá trình đầu tư và dự tính khá chính xác kết quả đầu tư của mình.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét