Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

215 Một số giải pháp chuyển đổi tổng Công ty điện tử và Tin học Việt Nam sang mô hình Công ty mẹ - Công ty con

HTPT Hạch toán phụ thuộc
MHCTM-CTC Mô hình công ty mẹ-công ty con
SXKD Sản xuất kinh doanh
TGĐ Tổng giám đốc
TCT Tổng công ty
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TĐKT Tập đoàn kinh tế
VEIC Tổng công ty Điện tử và Tin học Việt Nam hay
Tổng công ty Cổ phần Điện tử và Tin học Việt Nam
VGCP Vốn góp chi phối
VGKCP Vốn góp không chi phối
VN Việt Nam
VĐL Vốn điều lệ





















DANH MỤC BẢNG , PHỤ LỤC

Diễn giải Trang
Bảng 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý của VEIC 23
Bảng 2.2 Kết quả hoạt động SXKD giai đoạn 2003-2006 31
Bảng 2.3 Cơ cấu vốn 40
Bảng 2.4 Cơ cấu nợ – lãi vay phải trả 40
Bảng 2.5 Thực trạng cơ cấu tài sản của doanh nghiệp 41
Bảng 2.6 Chi tiết doanh thu một số đơn vò thành viên năm 2003-2006 43
Bảng 2.7 Thu nhập bình quân tháng đầu người năm 2003-2006 43
Bảng 2.8 Thu nhập bình quân đầu người tháng của các ĐVTV năm 2006 43
Bảng 2.9 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản 44
Bảng 2.10 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản của một số ĐVTV năm 2006 . 44
Bảng 2.11 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu toàn Tổng công ty 45
Bảng 2.12 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) một số ngành 45
Bảng 2.13 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu một số ĐVTV năm 2006 46
Bảng 3.1 Mô hình tổ chức hoạt động CTM-CTC của VEIC 55
Bảng 3.2 Sơ đồ nguồn vốn của VEIC 66

Phụ lục 1 Bảng cân đối kế toán và KQKD của VEIC 2003-2006
Phụ lục 2 Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính củaVEIC 2003-2006
Phụ lục 3 Sản lượng sản phẩm của VEIC trong các năm 2003 -2006
Phụ lục 4 Hồ sơ doanh nghiệp
Phụ lục 5 Báo cáo một số chỉ tiêu tài chính
Phu lục 6 Kế hoạch tài chính năm
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài :
Hiện nay, nền kinh tế các nước trên thế giới vận hành theo xu thế hội nhập
với sự hình thành của các tổ chức hợp tác quốc tế, các khu vực mậu dòch tự do và
tiến tới nhất thể hóa. Do vậy, cùng với quá trình đổi mới kinh tế nói chung, các
nước đang phát triển cần phải đẩy nhanh hơn nữa quá trình đổi mới, sắp xếp khối
DNNN nhằm tạo ra một hệ thống DN đủ sức đương đầu trong môi trường cạnh
tranh quốc tế.
Đối với Việt Nam đang trong quá trình hội nhập, chủ động hội nhập, để phát
triển kinh tế, việc đổi mới càng trở nên nóng bỏng và bức xúc. Vấn đề tiếp cận mô
hình mới trong chuyển đổi các DNNN, đặc biệt là các TCT nhà nước theo
MHCTM-CTC là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta .
Ngày 7/1/2005 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết đònh số 06/2005/QĐ-TTg về
việc phê duyệt Đề án thí điểm cổ phần hóa VEIC. Sau khi CPH VEIC sẽ chuyển
sang tổ chức hoạt động theo MHCTM-CTC. Đó là hình thức liên kết và chi phối lẫn
nhau bằng đầu tư, góp vốn, bí quyết công nghệ, thương hiệu hoặc thò trường giữa
CTM và các CTC hay giữa CTM và các CTLK.
VEIC sau khi hoàn thành việc chuyển đổi thí điểm chắc chắn sẽ có những
bước tiến mạnh trong công cuộc đổi mới sắp xếp DNNN .
Xuất phát từ tầm quan trọng trên, đề tài luận văn cao học “Một số giải pháp
chuyển đổi Tổng công ty Điện tử và Tin học Việt Nam sang mô hình công ty mẹ-
công ty con” được thực hiện nhằm làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá
trình CPH TCT 100% vốn nhà nước chuyển sang hoạt động theo MHCTM-CTC .
2. Mục đích của đề tài :
Làm rõ cơ sở lý luận về MHCTM-CTC.
Từ thực trạng hoạt động của VEIC, phân tích những bất cập ảnh hưởng đến
hiệu quả HĐSXKD dẫn đến sự cần thiết phải chuyển đổi VEIC sang MHCTM-
CTC.
Kiến nghò một số giải pháp chuyển VEIC sang hoạt động theo MHCTM-
CTC .
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào thực chất của
VEIC từ khi thành lập đến nay và kiến nghò một số giải pháp chuyển đổi VEIC
sang MHCTM-CTC từ việc CPH TCT 100% vốn nhà nước.
4. Nhiệm vụ của đề tài :
Làm rõ khái niệm, đặc trưng, mô hình liên kết, phương thức hình thành, hình
thức tổ chức, cơ chế tài chính, ưu điểm của MHCTM-CTC; thực trạng hoạt động
của TCT ở Việt Nam; các ưu thế của MHCTM-CTC so với mô hình TCT.
Phân tích thực trạng hoạt động của VEIC hiện nay dẫn đến sự cần thiết
chuyển đổi sang MHCTM-CTC.
Kiến nghò một số giải pháp chuyển đổi.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu :
Cơ sở lý luận của luận văn là những lý thuyết về quản trò học, các quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta, Luật Doanh Nghiệp Nhà Nước, Luật Doanh Nghiệp, các
văn bản pháp luật liên quan và những kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế
giới.
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp duy vật biện chứng, luận văn phân
tích thực trạng VEIC hiện nay trong mối quan hệ với các nhân tố khách quan và
chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả HĐSXKD của VEIC. Việc chuyển đổi VEIC
sang MHCTM-CTC được dựa trên những kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế
giới. Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp,…
6. Những điểm mới của luận văn:
Luận văn trình bày MHCTM-CTC tại VEIC.
Phân tích thực trạng mô hình VEIC trong thời gian qua, nêu ra những bất cập
đang tồn tại để đưa ra giải pháp khắc phục.
Kiến nghò một số giải pháp chuyển đổi VEIC sang MHCTM-CTC từ CPH
TCT 100% vốn nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả HĐSXKD, nâng cao vò thế và
khả năng cạnh tranh của VEIC trên thương trường.
7. Bố cục của luận văn:
Luận văn này gồm : Mở đầu, nội dung và kết luận.
Phần nội dung gồm:
Chương 1: Tổng quan về MHCTM-CTC
Chương 2: Sự cần thiết chuyển đổi VEIC sang MHCTM-CTC
Chương 3:Một số giải pháp chuyển đổi VEIC sang MHCTM-CTC.













CHƯƠNG I:

TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON

1.1 TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ – CÔNG TY CON
1.1.1 Khái quát về CTM-CTC

Theo nghóa rộng, CTM là bất kỳ công ty nào sở hữu vốn ở các công ty khác.
Tuy nhiên, khái niệm CTM thường được sử dụng để chỉ các công ty sở hữu vốn ở
các công ty khác ở mức đủ để kiểm soát hoạt động quản lý và điều hành công ty
khác. Điều này không có nghóa rằng CTM không thể sở hữu chỉ một phần vốn ở
các công ty khác.
Khái niệm thừa nhận và sử dụng nhiều hơn cả là : DN được thành lập và
đăng ký theo pháp luật, có tư cách pháp nhân, có tài sản riêng, có khả năng trong
một hoặc một số lónh vực liên quan đến hoạt động kinh doanh đủ để chi phối các
công ty khác trong tổ hợp CTM-CTC hay trong tập đoàn và được các CTC chấp
nhận bò chi phối.
Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 : Một công ty được coi là CTM
của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Sở hữu trên 50% VĐL hoặc tổng số cổ phần phổ thông đã phát hành của
CT đó;
b) Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên
HĐQT, GĐ hoặc TGĐ của công ty đó;
c) Có quyền quyết đònh việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó.
DN giữ quyền chi phối DN khác gọi là CTM; các CTC bao gồm các công ty
do CTM nắm giữ toàn bộ VĐL hoặc các công ty có VGCP của CTM. Các công ty
có vốn góp không chi phối của CTM là CTLK.
Như vậy, có thể nêu khái niệm chung về mô hình CTM-CTC như sau :
CTM-CTC là một tổ hợp gồm nhiều DN có tư cách pháp nhân độc lập, trong
đó DN có tiềm lực mạnh nhất về vốn, công nghệ, thò trường đầu tư và chi phối DN
khác trở thành CTM; DN nhận vốn đầu tư và bò DN khác chi phối trở thành CTC.
Việc chi phối kiểm soát chủ yếu là về vốn, công nghệ, thò trường, thương hiệu.
Một CTM với nhiều CTC hoạt động trên nhiều lónh vực khác nhau, đòa bàn
khác nhau tạo nên thế mạnh chung gọi là “ tập đoàn”. Các mối quan hệ về vốn, về
quyền lợi nghóa vụ giữa CTM và các CTC được xác đònh rõ ràng trên cơ sở vốn đầu
tư. Đây là điểm mấu chốt trong mô hình CTM-CTC.
1.1.2 Cơ cấu tổ chức và kiểm soát

1.1.2.1 Tổ chức của CTM
CTM có thể được thành lập dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau, có thể
là CTCP, công ty TNHH, nhưng hình thức thường được lựa chọn là CTCP.
CTM được thành lập nhằm mục đích liên kết các công ty hiện có với mục
tiêu tăng cường hiệu quả hoạt động, loại trừ cạnh tranh trong ngành, đảm bảo
nguồn cung cấp nguyên liệu, hoặc có các hoạt động mang tính hỗ trợ lẫn nhau.
Ở Việt Nam, MH CTM-CTC có thể bao gồm các hình thức sau:
-CTM là DNNN hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật DNNN .
-CTM là công ty TNHH một thành viên, chủ sở hữu là nhà nước thì xuất
hiện mối quan hệ giữa cơ quan chủ sở hữu với công ty TNHH một thành viên thực
hiện theo Luật doanh nghiệp và điều lệ công ty .
-CTM là công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc CTCP : trong đó CTM
kinh doanh với tư cách là một pháp nhân độc lập, tùy theo tỷ lệ vốn góp của các cổ
đông, người góp vốn mà quyết đònh việc quản lý, điều hành.
Các loại hình CTM

-CTM tài chính : chỉ thuần túy đầu tư vốn vào các CTC mà không tổ chức
HĐSXKD.
-CTM kinh doanh : là công ty đầu đàn, mạnh về vốn, tài sản, thò trường, công nghệ.
-CTM công nghệ.
-CTM thò trường.
Sự phân loại trên chỉ là tương đối. Trên thực tế, có những CTM chi phối từng
phần hoặc từng nhóm công ty theo những thế mạnh khác nhau.
1.1.2.2 Tổ chức của CTC
CTC có thể là những DN trong nhóm công ty được thành lập và đăng ký theo
Pháp luật, bò CTM chi phối và tự nguyện chấp nhận sự chi phối của CTM theo
những nguyên tắc và phương thức được thống nhất.
Các CTC là các pháp nhân hoạt động kinh doanh độc lập với CTM.
CTC có thể là công ty TNHH, CTCP, DNNN, DN liên doanh hoặc hợp tác
xã .
Các loại hình CTC

Căn cứ mức độ chi phối, có các CTC sau :
-CTC phụ thuộc toàn phần .
-CTC phụ thuộc từng phần .
Căn cứ theo hình thức chi phối :
-Chi phối về vốn.
-Chi phối về công nghệ.
-Chi phối về thương hiệu .
-Chi phối trong sự cạnh tranh .
1.1.2.3 Kiểm soát CTC
Việc xác đònh số vốn thực tế trong các công ty là khá phức tạp khi có cả góp
vốn xuôi (CTM đầu tư vào CTC), góp vốn ngược ( CTC đầu tư vào CTM) và góp
vốn ngang (các CTC đầu tư vào nhau)
CTM thường tiến hành kiểm soát đối với các CTC bằng cách bổ nhiệm các
thành viên HĐQT của các CTC, quyết đònh chiến lược, kiểm soát tài chính và giám
sát hoạt động quản lý của tất cả các CTC. Đương nhiên, trong mối quan hệ này, các
CTC cũng có quyền quản lý và thực hiện các hoạt động kinh doanh hằng ngày.
1.1.3 Mối liên kết và hình thức hình thành CTM-CTC

1.1.3.1 Các môi liên kết trong MHCTM-CTC
Bao gồm ba mối liên kết chủ yếu sau :
 Liên kết chủ yếu bằng vốn: CTM thường là những công ty tài chính có
tiềm lực mạnh, chỉ thuần túy đầu tư vốn vào các CTC, không tổ chức HĐSXKD mà
chủ yếu tập trung giám sát tài chính. Thông qua việc nắm CPCP, CTM thực hiện
các quyền về chính sách nhân sự, đònh hướng sản xuất
 Liên kết theo dây chuyền SXKD : CTM là DN hàng đầu trong lónh vực
SXKD ở một ngành nghề, có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, thò trường.
CTM sẽ xây dựng chiến lược kinh doanh, quy hoạch ngành hàng, phân bổ vốn đầu
tư, thay đổi cơ cấu tài sản để phát triển kinh doanh, xây dựng các đònh mức tiêu
chuẩn để áp dụng, đào tạo nhân lực, tổ chức phân công công việc cho các CTC trên
cở sở các hợp đồng kinh tế…
Như vậy CTM vừa trực tiếp SXKD, vừa thực hiện hoạt động đầu tư vốn vào
các CTC. Sự phối hợp và kiểm soát giữa CTM và CTC thực hiện qua chiến lược
kinh doanh.
 Liên kết giữa nghiên cứu khoa học và SXKD: Lấy liên kết khoa học -
công nghệ làm cơ sở, tạo ra sự hòa nhập giữa nghiên cứu khoa học và SXKD. CTM
là cơ quan nghiên cứu, CTC là cơ sở SXKD có nhiệm vụ triển khai, ứng dụng các
công nghệ mới.
Việc liên kết giữa các công ty dựa trên những cơ sở khác nhau, nhưng tựu
chung lại, yếu tố quan trọng nhất vẫn là mối quan hệ chi phối về tài chính.
1.1.3.2 Các hình thức hình thành mối quan hệ CTM-CTC :
 Thành lập CTC: Khi một công ty phát triển mạnh về quy mô, có tiềm lực
về tài chính, công nghệ…, muốn mở rộng đòa bàn hoạt động trên nhiều vùng lãnh
thổ khác nhau, lúc đó, CTM sẽ bỏ vốn hay liên kết để lập ra CTC mới có tư cách
pháp nhân trực thuộc CTM.
 Thôn tính các công ty khác: Hình thành mối quan hệ CTM-CTC từ việc
thôn tính các công ty khác. Đây là hình thức phổ biến nhất, bằng cách nắm giữ một
lượng cổ phiếu đủ lớn để nắm quyền chi phối, đưa công ty này thành một CTC của
công ty mua.
Hình thức phổ biến của các nước trên thế giới là mua lại cổ phần. Tuy nhiên,
nếu công ty mua lớn hơn 50% số cổ phần của công ty bán thì mối quan hệ giữa hai
công ty này được xem là quan hệ CTM-CTC.
Ví dụ : CTM sở hữu 65% CTC, 35% còn lại thuộc về những chủ sở hữu khác
(quyền lợi này gọi là quyền lợi thiểu số).
Công ty mẹ
65% sở hữu
35% quyền lợi thiểu số
Công ty con

 Sáp nhập – hợp nhất giữa các công ty: Xuất phát từ sự tự nguyện liên kết
giữa các công ty trên cơ sở sáp nhập và hợp nhất các công ty.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét