I. Lời nói đầu:
Quan hệ mậu dịch giữa các nước dẫn đến hình thành các hệ thống tiền tệ
quốc tế. Đó là một tập hợp những quy định thống nhất giữa các nước trong
việc tổ chức và điều hành thống nhất các quan hệ tiền tệ - tín dụng phát sinh
giữa các nước nhằm thiết lập một trật tự cho các quan hệ kinh tế - mậu dịch.
Bài tập này em xin phân tích về các hệ thống tiền tệ quốc tế và đánh giá tính
hiệu quả của chúng.
II. Nội dung:
1. Khái niệm hệ thống tiền tệ quốc tế:
Hệ thống tiền tệ quốc tế là tập hợp các quy tắc, thể lệ, định chế điều
chỉnh các quan hệ tài chính – tiền tệ giữa các quốc gia, nhằm bảo đảm thực
hiện các giao dịch thanh toán quốc tế, bảo đảm sự ổn định và phát triển các
quan hệ kinh tế quốc tế nói chung
1
2. Phân tích các hệ thống tiền tệ quốc tế:
Hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thành từ cuối thế kỷ XIX và cho đến
nay đã phát triển qua bốn giai đoạn với bốn chế độ khác nhau:
a. Hệ thống thứ nhất – Hệ thống bản vị vàng (1875 -1914)
a1. Nguyên tắc cơ bản:
- Tỷ giá của các đồng tiền được xác định bởi một khối lượng vàng nhất
định.Hay nói một cách khác mỗi quốc gia ấn định giá vàng theo đồng tiền
của mình.
- Tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền được xác định dựa trên nguyên tắc
ngang giá vàng.tức là thông qua giá vàng đc ấn định tính bằng các đồng
tiền này.
1
Trang 212 Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế - Đại học luật Hà Nội – Nhà xuất bản công an nhân dân 2008
1
- Sự chuyển đổi không hạn chế một số đồng tiền ra vàng hay ngược lại từ
vàng ra tiền theo giá vàng đc mỗi quốc gia ấn định. Sự chuyển đổi này áp
dụng cho người nước ngoài. Để đảm bảo chuyển đổi ra vàng của tiền tệ
các Ngân hàng trung ương đã duy trì một khối lượng dự trữ vàng tương
đương với số lượng tiền phát hành.Số lượng tiền phát hành phải đảm bảo
bằng vàng 100%.
- Vàng có thể được xuất khẩu hay nhập khẩu không hạn chế, được tự do
mua bán trên thị trường thế giới.
-
a2. Đặc điểm:
- Tỷ giá trên thị trường ngoại hối dao động không đáng kể xung quanh mức
tỷ giá trên cơ sở bản vị vàng.Biên độ dao động của tỷ giá vào khoảng 1%
xung quanh mức tỷ giá trên cơ sở bản vị vàng tương đương với chi phí
chuyên chở và bảo hiểm khi chuyên chở vàng giữa các quốc gia.Hành
động kinh doanh chênh lệch tỷ giá làm tăng cung bảng Anh trên thị
trường ngoại hối ,dẫn đến bảng Anh giảm xuống ,có xu hướng trở về mức
tỷ giá trên cơ sở bản vị vàng .Do Bảng Anh định giá cao nên các nhà nhập
khẩu Mỹ sẽ thanh toán nhập khẩu từ Anh bằng cách vận chuyển vàng
sang Anh ,và các nhà nhập khẩu Anh sẽ thanh toán nhập khẩu từ Mỹ bằng
cách chuyển bảng Anh ra đô la Mỹ.Điều này làm tăng cung bảng Anh trên
thị trường ,làm cho bảng Anh giảm giá. Hệ thống bản vị vàng về nguyên
tắc ,duy trì sự ổn định cán cân thanh toán trong dài hạn.Đối với quốc gia
thâm hụt cán cân thanh toán,xuất hiện dòng vàng chảy ra ,lượng tiền lưu
thông giảm ->Tác động làm giá và tiền lương trong nước giảm.(thiếu một
lượng tiền mặt để mua hàng hoá ,làm cho hàng hoá bị giảm giá ). Tiền
lương giảm khi hàng hoá tiêu dùng giảm ,tác động làm cho lãi suất lại
tăng (do thiếu tiền mua hàng và họ phải đến ngân hàng để vay ,cho nên lãi
2
suất lúc này sẽ tăng lên). Giá và lương trong nước giảm có tác động làm
cho hàng hóa rẻ hơn, nhập khẩu giảm ,xuất khẩu tăng.Lãi suất tăng có thể
thu hút vốn chảy vào, cán cân thanh toán được cải thiện và trở về trạng
thái cân bằng. Đối với các quốc gia thặng dư cán cân thanh toán,xuất hiện
dòng vàng chảy vào làm lượng tiền lưu thông tăng ->Tác động làm giá và
tiền lương tăng. Giá và tiền lương tăng tác động làm cho hàng hoá đắt
hơn,xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng. Lãi suất giảm kích thích luồng
vốn chảy ra ,giảm thặng dư cán cân thanh toán ,cán cân thanh toán có xu
hướng trở về trạng thái cân bằng.
b. Hệ thống thứ hai – hệ thống bản vị vàng – hối đoái – Hệ thống Giơ Noa
(1922 – 1939)
Bối cảnh ra đời của hệ thống tiền tệ Giơ Noa: Sau Thế chiến lần thứ nhất,
việc khôi phục lại nền kinh tế ở các nước châu Âu trở nên cấp thiết. Nhu cầu
thiết lập một trật tự mới trong các quan hệ mậu dịch, tín dụng, tiền tệ quốc tế
nhằm nhanh chóng khôi phục lại nền kinh tế bị tổn thất trong chiến tranh trở
nên vô cùng cấp thiết đối với các quốc gia ở châu Âu. Thực tế này đòi hỏi
phải có những thỏa thuận thống nhất giữa các nước để thiết lập một trật tự
mới trong các quan hệ mậu dịch, tín dụng và tiền tệ quốc tế.
b1. Nguyên tắc cơ bản:
2
- Đồng USD và Bảng Anh có vai trò chính trong thanh toán và hai đồng
tiền này trở thành phương tiện dự trữ chính thức (cùng với vàng) của các
quốc gia.
- Áp dụng tỉ giá hối thả nổi và bản vị vàng có giới hạn. Theo chế độ này,
chỉ có một số đồng tiền chủ chốt trong thanh toán quốc tế phải giữ bản vị
2
Trang 215 Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế - Đại học luật Hà Nội – Nhà xuất bản công an nhân dân 2008
3
vàng, còn các đồng tiền khác khi thanh toán sẽ được chuyển đổi theo một
trong số các dồng tiền chủ chốt.
Có thể thấy được hệ thống Giơ Noa là một hệ thống trung gian giữa hệ
thống bản vị vàng và hệ thống hối đoái thả nổi. Đến cuối thập kỷ 30 của thế
kỷ XX, hệ thống Giơ Noa bị sụp đổ hoàn toàn. Chế độ tiền tệ Giơ Noa tạo
nên nhiều lợi thế cho nước Anh trong lĩnh vực mậu dịch, dịch vụ và thanh
toán và tín dụng quốc tế. Điều đó đã làm cho Chính phủ Anh “lạm dụng”
quyền phát hành đồng Bảng Anh, để rồi đẩy đồng tiền lâm vào tình trạng
khủng hoảng liên tục, làm cho uy tín của nó trên trường quốc tế ngày càng
giảm sút nghiêm trọng. Đánh dấu sự kiện này chính là việc nước Anh đã
tuyên bố chính thức phá giá đồng tiền nước mình với mức 33% so với đồng
đô la Mỹ vào ngày 21-09-1931. Việc phá giá đồng Bảng Anh – xương sống
của hệ thống tiền tệ Giơ Noa cũng chính là sự ‘khai tử” đối với hệ thống tiền
tệ quốc tế này.
c. Hệ thống thứ ba – Hệ thống Bretton-Woods (1945 -1973):
Bối cảnh ra đời của hệ thống tiền tệ Bretton-Woods: Sự sụp đổ của hệ
thống tiền tệ Giơ Noa làm cho các quan hệ tài chính quốc tế trở nên rối ren đã
dẫn đến sự hình thành các liên minh tiền tệ do một số nước tư bản đầu sỏ cầm
đầu. Đó là các khu vực tiền tệ như khu vực đồng Franc Pháp, khu vực đồng
đô la Mỹ, khu vực đồng Bảng Anh.
Khu vực đồng đô la do Mỹ cầm đầu tồn tại bên cạnh các đối thủ không
hơn kém là khu vực đồng Bảng Anh và khu vực Franc Pháp. Nhưng sau Đại
chiến thế giới lần thứ II, Mỹ trở thành cường quốc mạnh nhất thế giới về
ngoại thương, về tín dụng quốc tế và là nước có dự trữ vàng lớn nhất trên toàn
thế giới (chiếm khoảng ¾ tổng dự trữ vàng của toàn bộ thế giới tư bản). Đây
chính là những yếu tố tạo nên những thế mạnh cho đồng đô la Mỹ trên trường
4
quốc tế, đưa đồng tiền này lên ngôi đồng tiền chủ chốt của thế giới. Tháng 7
năm 1944, lợi dụng địa vị kinh tế và tài chính của mình trên trường quốc tế,
Hoa Kỳ đã đứng ra triệu tập Hội nghị tiền tệ - tài chính quốc tế tại thành phố
Bretton-Woods với sự tham gia của 44 nước. Hội nghị đã ký kết một Hiệp
định quốc tế bao gồm những thỏa thuận của các nước về việc thiết lập các
quan hệ tiền tệ - tài chính quốc tế mới cho thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần
II được gọi là hệ thống tiền tệ Bretton-Woods.
c1. Đặc điểm của hệ thống tiền tệ Bretton-Woods:
3
- Áp dụng chế độ tỷ giá cố định trong ngắn hạn, còn về mặt dài hạn cho
phép điều chỉnh theo quan hệ cung – cầù.
- Đồng USD được lấy làm chuẩn, có chế độ bảo đảm bằng vàng (Hoa Kỳ
có trách nhiệm đổi không hạn chế USD ra vàng và ngược lại cho Ngân
hàng Trung ương của các nước tham gia hệ thống theo giá 35 USD = 1
ounce vàng). Các quốc gia khác gắn đồng tiền của mình với đồng USD
theo tỷ giá cố định trong ngắn hạn và có điều chỉnh trong dài hạn.
- Thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) với các chức năng điều tiết tỷ giá
giữa các nước, giám sát việc tuân thủ các quy định về tài chính quốc tế,
cấp tín dụng cho các nước thành viên khi gặp khó khăn tài chính.
- Lập quỹ dự trữ quốc tế do IMF quản lý, do các nước thành viên đóng góp
bằng vàng, ngoại tệ mạnh và nội tệ, tất cả được quy đổi thành đơn vị
chung là SDR được tính bằng số bình quân của giá trị 16 đồng tiền của
những nước có lượng hàng hóa xuất khẩu vượt mức 1% kim ngạch
thương mại quốc tế. Đến năm 1981, giá trị SDR đã được đơn giản hóa, chỉ
3
Trang 216 Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế - Đại học luật Hà Nội – Nhà xuất bản công an nhân dân 2008
5
tính theo giá trị của 5 đồng tiền chủ chốt là USD, Franc Pháp, Bảng Anh,
Mác Đức, Yên Nhật.
Hệ thống Bretton-Woods đã lấy USD làm chuẩn. Thực chất, các nước đã
cố định tỷ giá hối đoái của đồng tiền nước mình theo đồng đô la Mỹ. Tuy các
nước vẫn phải xác định nội dung vàng của đồng tiền nước mình, nhưng chỉ là
hình thức. Đồng tiền các nước không tự do đổi ra vàng, muốn có vàng thì
trước hết phải đổi các đồng tiền đó thành USD, tức là các nước phải có USD,
từ USD sẽ chuyển thành vàng theo tỷ giá chính thức. Chính vì lẽ đó, hệ thống
Bretton-Woods được gọi là bản vị vàng-hối đoái dựa trên USD, hay còn gọi
là hệ thống bản vị đô la.
Hệ thống bản vị đô la đã làm cho sự liên hệ giữa đồng tiền các nước
với vàng một lần nữa bị nới lỏng hơn. Hệ thống tiền tệ này đã hợp pháp hóa,
biến đồng tiền quốc gia của Mỹ trở thành đồng tiền quốc tế, chính điều đó đã
khuyến khích Hoa Kỳ lạm phát đô la. Tình trạng này đã kéo theo sự lạm phát
quốc tế, trước hết là ở những nước thành viên của hệ thống tiền tệ này. Lạm
phát ở trong nước và quốc tế làm cho uy tín của USD giảm dần. Nhưng vấn
đề quan trọng là ở chỗ, các nước “đồng minh” của Hoa Kỳ đã không chấp
hành tỷ giá cố định, không can thiệp vào thị trường tiền tệ để giữ giá USD
như đã cam kết, mà thả nổi tỷ giá trên thị trường. Đô la Mỹ càng bị mất giá,
thì các nước càng tìm mọi cách để chuyển nó ra vàng với số lượng ngày càng
tăng. Để đối phó với tình trạng này, ngày 15 tháng 8 năm 1971, Mỹ đã phải
tuyên bố ngừng chuyển đổi USD ra vàng theo tỷ giá chính thức. Sau đó, ngày
18 tháng 12 năm 1973, USD lại một lần nữa bị phá giá với mức 10%.
Qua hai lần phá giá USD (17.89%) đã chứng tỏ rằng, những nội dung
cơ bản của hệ thống tiền tệ Bretton-Woods gần như bị phá vỡ hoàn toàn.
USD trở về vị trí đồng tiền quốc gia, nhưng do tiềm lực về kinh tế của Mỹ là
6
rất lớn, cho nên USD vẫn còn là một đồng tiền mạnh, đồng thời nó vẫn chiếm
tỷ trọng đáng kể trong quỹ dự trữ ngoại hối của các nước.
d. Hệ thống thứ tư – Hệ thống Gia-mai-ca (từ 1976)
Hệ thống tiền tệ Gia-mai-ca ra đời trên cơ sở Hiệp định được ký kết giữa
các nước thành viên IMF tại Gia-mai-ca vào tháng 01 năm 1976.
Các thành viên IMF đã nhất trí thông qua các quy định mới cho hệ thống tiền
tệ quốc tế với các nội dung cơ bản sau:
4
- Bãi bỏ hoàn toàn chế đọ bản vị vàng của các nước, do vậy vai trò dự trữ
của vàng không còn được coi trọng, đặc biệt là ở IMF. Một nửa số vàng
dự trữ ở IMF được trả lại cho các nước thành viên, nửa còn lại được bán
lấy tiền giúp đỡ các nước nghèo.
- Áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý của Chính phủ các nước, dưới sự
dám sát và hỗ trợ của IMF.
- Cho phép các nước được liên kết để thành lập hệ thống tiền tệ khu vực
- Đơn vị thanh toán chính thức giữa IMF và các nước thành viên là SDR.
Tuy nhiên, trong thanh toán và giao dịch quốc tế giữa các nước, đồng
USD vẫn giữ vai trò chủ chốt. Giá trị đồng SDR được xác định 5 năm một
lần dựa trên giá trị tiền tệ của nhóm 5 nước.
Hệ thống tiền tệ Gia-mai-ca đã hoạt động được hơn 30 năm nay, sau nhiều
lần cải tiến và có tác dụng và hiệu quả hoạt động khá tốt.
3. Đánh giá tính hiệu quả của một hệ thống tiền tệ quốc tế:
Việc đánh gía tính hiệu quả của một hệ thống tiền tệ quốc tế cần dựa trên
những tiêu chí như sau:
4
Trang 217 Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế - Đại học luật Hà Nội – Nhà xuất bản công an nhân dân 2008
7
a. Độ tin cậy về cả lý thuyết lẫn thực tế của hệ thống: Sự xác định tỷ giá
hối đoái trên lý thuyết là phải phù hợp với trên thực tế, tính công bằng
trong việc xác định tỷ giá phải thật cao. Từ đó tạo sự tin cậy lẫn nhau
và sự tin cậy vào hệ thống của các bên tham gia thì hệ thống tiền tệ
này, họ sẽ tham gia hệ thống một cách hiệu quả nhất, làm nên thành
công cho hệ thống.
b. Tính ổn định của hệ thống khi vận hành: Tính ổn định của một hệ thống
tiền tệ khi vận hành là hết sức quan trọng, là yếu tố chủ chốt trong hiệu
quả của hệ thống. Trước những biến động lớn về chính trị của thế giới
thì một hệ thống tiền tệ có tính ổn định cao mới có thể đứng vững trong
mọi hoàn cảnh, góp phần lớn giúp nền kinh tế thế giới bình ổn qua qua
mọi biến đọng, nếu có khủng hoảng về kinh tế thì đưa nền kinh tế thoát
khỏi khủng hoảng.
c. Khả năng đảm bảo cho đồng tiền của các hệ thống tiền tệ riêng của các
quốc gia và khu vực chuyển đổi dễ dàng với nhau mà không gây nên
những tác động xấu:
Tính hiệu quả của một hệ thống tiền tệ quốc tế cũng thể hiện qua việc
thực hiện các chức năng của nó. Chức năng chính của một hệ thống tiền tệ
chính là xác lập tỉ giá hối đoái và phương tiện thanh toán giữa các đồng
tiền và phương tiện thanh toán, đảm bảo cho việc thực hiện các thanh toán
quốc tế, sau nữa là bảo đảm sự ổn định và phát triển các quan hệ kinh tế
quốc tế nói chung. Một hệ thống tiền tệ cần thực hiện thật tốt chức năng
chính của mình và phải có những tác động tích cực, góp phần lớn cho việc
điều hòa và thúc đấy sự phát triển quan hệ kinh tế quốc tế.
III. Kết luận:
8
Thế giới luôn cần phải có một hệ thống tiền tệ quốc tế để thực hiện và phát
triển quan hệ kinh tế quốc tế. Với chút hiểu biết và kiến thức về quan hệ kinh
tế quốc tế, em xin được phân tích và có sự đánh giá đối với các hệ thống tiền
tệ quốc tế trên. Do vốn hiểu biết có hạn nên bài làm chắc hẳn còn có nhiều
thiếu sót. Mong thầy cô xem xét.
Danh mục tài liệu tham khảo:
1. Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế - Đại học luật Hà
Nội – Nhà xuất bản công an nhân dân 2008
2. http://www.maxi-forex.com/57/cac-che-do-tien-te-
quoc-te/
3. http://my.opera.com/dolly85/blog/2008/01/29/q
9
Mục lục
Trang
I. Lời nói đầu
II. Nội dung:
1. Khái niệm về hệ thống tiền tệ quốc tế
2. Phân tích các hệ thống tiền tệ quốc tế
a. Hệ thống thứ nhất – hệ thống bản vị vàng (1875 -1914)
b. Hệ thống thứ hai – Hệ thống bản vị vàng-hối đoái-hệ
thống Giơ Noa (1922 – 1939)
10
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét