Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo đảm tiền vay tại Sở giao dịch I- ngân hàng công thương việt nam

- Ngân hàng cho vay có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo
đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm bằng tài sản và chịu trách nhiệm về
quyết định của mình. Trường hợp ngân hàng cho vay cho vay không có bảo đảm
bằng tài sản theo chỉ định của Chính phủ, thì tổn thất do nguyên nhân khách
quan của các khoản cho vay này được Chính phủ xử lý.
- Khách hàng vay được ngân hàng cho vay lựa chọn cho vay không có
bảo đảm bằng tài sản, nếu trong quá trình sử dụng vốn vay, ngân hàng cho vay
phát hiện khách hàng vay vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, thì ngân
hàng cho vay có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi
nợ trước hạn.
- Trường hợp khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết, ngân hàng có quyền xử lý tài
sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ.
- Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc bên bảo
lãnh vẫn chưa thực hiện đúng hoặc thực hiện chưa đủ nghĩa vụ trả nợ, khách
hàng vay hoặc bên bảo lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả
nợ đã cam kết.
- Phần chênh lệch thừa sau xử lý vẫn phải được giữ để bảo đảm cho nghĩa
vụ tín dụng khác còn đang tồn tại ở ngân hàng cho vay.
1.4. Hình thức bảo đảm tiền vay
1.4.1. Bảo đảm tiền vay bằng uy tín của khách hàng vay
1.4.1.1. Tổ chức tín dụng chủ động lựa chọn khách hàng vay để cho vay không
có bảo đảm bằng tài sản.
Ngân hàng cho vay được lựa chọn khách hàng vay để cho vay không có
tài sản bảo đảm khi cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để thực hiện các
dự án đầu tư phát triển hoặc phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống
đối với khách hàng vay theo quy định.
Điều kiện đối với khách hàng vay có bảo đảm bằng uy tín
5
Khách hàng vay phải có đủ các điều kiện: Phải có tín nhiệm với ngân
hàng cho vay trong việc sử dụng vốn vay và có nghĩa vụ trả nợ đầy đủ, đúng hạn
cả gốc và lãi; dự án mà khách hàng định đầu tư sản xuất kinh doanh phải có khả
năng hoàn trả, có tính khả thi phù hợp với đời sống xã hội, với quy định của
pháp luật. Trong trường hợp vay để phục vụ nhu cầu thiết yếu của đời sống thì
khách hàng vay phải có phương án trả nợ khả thi; Khách hàng phải có khả năng
tài chính và các nguồn thu hợp pháp có khả năng thu được trong thời hạn vay
vốn để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tổ chức tín dụng; Khách hàng vay phải cam
kết thực hiện đúng các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo yêu cầu của
ngân hàng cho vay.
Trong trường hợp khách hàng vay là doanh nghiệp, ngoài các điều kiện đã
quy định như trên thì còn cần phải có kết quả sản xuất kinh doanh có lãi trong 2
năm liền kề với thời điểm xem xét cho vay.
Trường hợp khách hàng vay đã có đủ điều kiện để vay không có bảo đảm
bằng tài sản, ngân hàng cho vay và khách hàng vay có thể thoả thuận bảo đảm
bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay, bảo lãnh bằng tài sản của bên
thứ ba hoặc bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay đối với một phần khoản
vay đó.
1.4.1.2. Tổ chức tín dụng cho vay theo đảm bảo bằng chỉ thị của Chính phủ
Tổ chức tín dụng cho vay theo hình thức đảm bảo bằng chỉ thị của Chính
phủ đối với khách hàng vay để thực hiện các dự án đầu tư thuộc các chương
trình kinh tế trọng điểm, đặc biệt của Nhà nước, các chương trình kinh tế - xã
hội và đối với một số khách hàng thuộc đối tượng được hưởng các chính sách
tín dụng ưu đãi về điều kiện vay vốn theo quy định tại các văn bản quy phạm
pháp luật của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ.
Trách nhiệm của khách hàng vay theo hình thức bảo đảm bằng chỉ định
của Chính phủ là: phải thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng, thực
hiện đúng các quy định của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ khi sử dụng
vốn vay đối với những khoản vay theo chỉ định; phải chịu trách nhiệm trước
6
pháp luật về những tổn thất trong việc sử dụng vốn vay do các nguyên nhân chủ
quan do mình gây ra.
Trách nhiệm của các tổ chức tín dụng được cho vay theo hình thức bảo
đảm bằng chỉ định của Chính phủ là: thực hiện đúng các quy định của Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với khoản cho vay được chỉ định và tuân thủ các
quy định của pháp luật trong quá trình xem xét cho vay, kiểm tra sử dụng vốn
vay và thu hồi nợ; Phải tổ chức theo dõi riêng các khoản cho vay theo chỉ định
và báo cáo tình hình sử dụng vốn vay, khả năng thu hồi nợ, kiến nghị xử lý
những tổn thất trong các trường hợp không thu hồi được nợ.
1.4.1.3. Tổ chức tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn có bảo lãnh
bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội.
Tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại cơ sở của: Hội Nông dân Việt Nam,
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam được thực
hiện bảo lãnh bằng uy tín của mình cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn tại
các tổ chức tín dụng.
Người được bảo lãnh là các cá nhân, hộ gia đình nghèo là thành viên của
một trong các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội như ở trên khi họ vay một
khoản tiền nhỏ tại tổ chức tín dụng để sản xuất kinh doanh, làm dịch vụ.
Mức vay tối đa của mỗi cá nhân, hộ gia đình nghèo được tổ chức đoàn thể
chính trị - xã hội bảo lãnh bằng uy tín của mình do Chủ tịch Hội đồng quản trị tổ
chức tín dụng cho vay quy định trong từng thời kỳ.
1.4.2. Đảm bảo bằng thế chấp tài sản của khách hàng vay
Đảm bảo bằng thế chấp tài sản của khách hàng vay là biện pháp bảo đảm
tiền vay của ngân hàng mà theo đó khách hàng vay phải chuyển các giấy tờ
chứng nhận quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng) các tài sản đảm bảo sang ngân
hàng nắm giữ trong thời gian cam kết.
7
Đảm bảo bằng thế chấp rất phổ biến, đặc biệt đối với doanh nghiệp và
người tiêu dùng. Do giá trị của tài sản loại này thường lớn, vì vậy doanh nghiệp
có thể vay ngân hàng với quy mô lớn.
Đảm bảo bằng tài sản thế chấp cho phép người vay vốn sử dụng tài sản
đảm bảo phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Đây chính là ưu điểm của hình thức
bảo đảm bằng thế chấp. Tuy nhiên, quá trình sử dụng sẽ là biến dạng tài sản.
Mặt khác, do khả năng kiểm soát tài sản đảm bảo của ngân hàng bị hạn chế nên
khách hàng có thể lợi dụng phân tán, làm giảm giá trị của tài sản, gây thiệt hại
cho ngân hàng.
1.4.3. Đảm bảo bằng cầm cố tài sản của khách hàng vay
Đảm bảo bằng cầm cố tài sản của khách hàng vay là hình thức mà theo đó
khách hàng vay vốn phải chuyển quyền kiểm soát tài sản bảo đảm sang cho
ngân hàng trong thời gian thực hiện hợp đồng.
Cầm cố thích hợp với những loại tài sản mà ngân hàng có thể kiểm soát
và bảo quản tương đối chắc chắn. Đồng thời cũng thoả mãn việc ngân hàng nắm
giữ tài sản không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của khách hàng vay. Ngân
hàng thường có yêu cầu cầm cố khi xét thấy việc khách hàng vay nắm giữ tài
sản đảm bảo là không an toàn cho ngân hàng. Các tài sản mà ngân hàng cầm cố
thường là các tài sản gọn nhẹ, dễ quản lý, không chịu ảnh hưởng của các yếu tố
môi trường tự nhiên. Đồng thời nó cũng là những tài sản dễ bán, dễ chuyển
nhượng và khó kiểm soát được việc bán, chuyển nhượng hay không. Vì vậy
ngân hàng thường yêu cầu khách hàng vay cầm cố tài sản khi ngân hàng có sự
không chắc chắn về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng cho ngân
hàng. Các tài sản có thể cầm cố được thường phong phú hơn hơn các tài sản
đem thế chấp và thường an toàn hơn vì ngân hàng được nắm giữ tài sản của
khách hàng và những tài sản đó lại có khả năng chuyển đổi thành tiền cao.
1.4.4. Đảm bảo bằng bảo lãnh của bên thứ ba
Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba (gọi là bên bảo lãnh) là việc bên
bảo lãnh cam kết với ngân hàng cho vay về việc sử dụng tài sản thuộc quyền sở
8
hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng vay, nếu đến
hạn trả nợ mà khách hàng vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.
Bên nhận bảo lãnh là người chủ nợ, người hưởng thụ bảo lãnh. Trong
quan hệ tín dụng đó là các ngân hàng cho vay.
Bên được bảo lãnh là khách hàng vay (con nợ), người có nghĩa vụ phải
thanh toán nợ cho ngân hàng cho vay.
Biện pháp bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba thường được các ngân
hàng áp dụng nhằm mục tiêu an toàn ngân hàng để hạn chế rủi ro, tổn thất xảy ra
đối với hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, không phải ngân hàng áp dụng hình thức
này cho hầu hết các khách hàng vay mà tuỳ theo năng lực của bản thân khách
hàng đó để sử dụng hình thức bảo đảm phù hợp. Ngân hàng có thể sử dụng hình
thức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản hay thực ra là có bảo đảm nhưng
bằng chính bản thân khách hàng, hình thức này còn gọi là bảo đảm đối nhân.
Ngân hàng không phải lúc nào cũng yêu cầu khách hàng vay phải có tài sản bảo
đảm nhất là đối với những khách hàng có uy tín, khách hàng truyền thống.
Trong nhiều trường hợp ngân hàng vẫn cho khách hàng vay dựa trên chính uy
tín của khách hàng.
1.5. Định giá giá tài sản bảo đảm
Việc định giá tài sản bảo đảm là do tổ thẩm định của ngân hàng cho vay
hoặc thuê cơ quan chức năng chuyên môn thực hiện. Ngân hàng Công thương
Việt Nam có những quy định cụ thể về vấn đề này.
Tài sản bảo đảm tiền vay phải được xác định giá trị tại thời điểm ký kết
hợp đồng bảo đảm, ký kết văn bản thoả thuận tu chỉnh/bổ sung hợp đồng bảo
đảm (trong trường hợp thoả thuận thay đổi nghĩa vụ được bảo đảm); việc xác
định giá trị tài sản tại thời điểm này chỉ để làm cơ sở xác định mức vay và không
áp dụng khi xử lý tài sản để thu hồi nợ.
Việc định giá phải căn cứ vào các cơ sở pháp lý hoặc cơ sở thực tế, đảm
bảo tính khách quan, minh bạch. Cán bộ thẩm định không được định giá tài sản
9
bảo đảm trái với quy định của pháp luật và của Ngân hàng Công thương Việt
Nam.
Giá trị tài sản bảo đảm được xác định bao gồm cả hoa lợi, lợi tức và các
quyền phát sinh từ tài sản đó. Trong trường hợp tài sản thế chấp là toàn bộ bất
động sản có vật phụ thì giá trị của vật phụ cũng thuộc giá trị tài sản thế chấp;
nếu chỉ thế chấp một phần bất động sản có vật phụ thì giá trị vật phụ chỉ thuộc
giá trị tài sản thế chấp khi các bên có thoả thuận.
Trong trường hợp có thoả thuận với khách hàng về việc thế chấp quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất thì giá trị tài sản bảo đảm bao gồm giá trị
quyền sử dụng đất cộng giá trị tài sản gắn liền với đất.
Khi định giá tài sản bảo đảm, cán bộ thẩm định phải lập biên bản định giá
tài sản bảo đảm có chữ ký của tất cả các thành viên.
1.6. Quản lý tài sản bảo đảm
Quản lý tài sản bảo đảm là quá trình theo dõi, kiểm tra, đánh giá nhằm
bảo đảm tài sản vẫn đang trong tình trạng bình thường hoặc kịp thời phát hiện
các sự cố liên quan làm giảm giá trị của tài sản bảo đảm so với dự kiến đã nêu
trong hợp đồng bảo đảm. Tuỳ theo tính chất và đặc điểm của tài sản bảo đảm mà
cán bộ tín dụng cần chủ động đề xuất và thực hiện kiểm tra tài sản bảo đảm ít
nhất 6 tháng/lần theo các nội dung:
- Đánh giá tình trạng tài sản hiện tại; Những thay đổi về số lượng và chất
lượng so với hiện trạng khi nhận tài sản bảo đảm.
- Tình hình sử dụng và bảo quản tài sản bảo đảm.
- Các trường hợp vi phạm cam kết của khách hàng vay theo quy định tại
hợp đồng bảo đảm.
1.7. Xử lý tài sản bảo đảm
Trong trường hợp bên bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản dùng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tại ngân hàng
được xử lý để thu hồi nợ.
10
Tài sản bảo đảm tiền vay được xử lý theo phương thức đã thoả thuận
trong hợp đồng bảo đảm tiền vay giữa ngân hàng và bên bảo đảm.
Các ngân hàng cho vay có quyền chuyển giao quyền thu hồi nợ hoặc uỷ
quyền cho bên thứ ba xử lý tài sản bảo đảm tiền vay. Bên thứ ba phải là tổ chức
có tư cách pháp nhân và được quyền thu hồi nợ hoặc xử lý tài sản bảo đảm theo
quy định của pháp luật.
Việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay phải tuân thủ nguyên tắc công khai,
thủ tục đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, bảo đảm quyền, lợi ích của ngân hàng
cho vay và khách hàng đồng thời tiết kiệm được chi phí.
Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ:
- Bán tài sản bảo đảm tiền vay.
- Trực tiếp nhận các khoản tiền, tài sản từ bên thứ ba trong trường hợp bên
thứ ba có nghĩa vụ trả tiền hoặc tài sản cho khách hàng vay, bên bảo lãnh.
- Nhận chính tài sản bảo đảm tiền vay để thay thế cho việc thực hiện
nghĩa vụ được bảo đảm.
2. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY.
2.1. Quan niệm về hiệu quả bảo đảm tiền vay.
Khi thực hiện bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì các doanh
nghiệp cũng như cá nhân đều mong muốn đạt được hiệu quả tốt nhất nhằm thù
hồi được vốn một cách nhanh nhất và có lãi. Là người kinh doanh ai cũng mong
muốn đạt được hiệu quả kinh tế bởi vì ai cũng muốn đồng tiền của mình bỏ ra
phải sinh lợi. Từ đó ta có thể hiểu rằng hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế
phản ánh trình độ và khả năng thực hiện có kết quả cao những nhiệm vụ kinh tế
xã hội nhất định với chi phí nhỏ nhất nhằm thu được kết quả cao nhất.
Ngân hàng thương mại cũng như các doanh nghiệp kinh doanh khác nên
cũng rất mong muốn có được hiệu quả trong các hoạt động của mình, đặc biệt là
trong hoạt động tín dụng. Hoạt động tín dụng là hoạt động có khả năng sinh lợi
nhiều nhất cho hầu hết các ngân hàng nhưng nó cũng lại chịu rủi ro cao nhất. Do
11
đó, để hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng đã áp dụng hình
thức bảo đảm tiền vay. Đây là một trong những biện pháp mà ngân hàng thường
áp dụng để ngăn ngừa được các rủi ro có thể xảy ra. Việc thực hiện các biện
pháp bảo đảm tiền vay là một trong những khâu mà ngân hàng mong muốn đạt
hiệu quả cao nhất vì nếu công tác bảo đảm tiền vay mà đạt được hiệu quả tốt thì
sẽ giúp ngân hàng tránh được tổn thất lớn khi rủi ro tín dụng xảy ra. Bên cạnh
đó, sử dụng hình thức bảo đảm tiền vay cũng làm cho khách hàng có trách
nhiệm hơn đối với khoản vay, có ý chí trả nợ cao hơn, hoàn trả gốc và lãi đầy
đủ, đúng hạn cho ngân hàng.
Như vậy, hiệu quả bảo đảm tiền vay được hiểu là hiệu quả của việc thực
hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay để bảo đảm rằng các khoản cho vay của
ngân hàng sẽ được trả đúng hạn và có lãi. Trong trường hợp khách hàng vay gặp
khó khăn trong việc hoàn trả nợ thì ngân hàng chỉ có thể thu hồi được vốn thông
qua việc xử lý các tài sản đảm bảo. Do đó có thể nói bảo đảm tiền vay là một
yếu tố không những đảm bảo khả năng hoàn trả vốn vay mà còn mang lại lợi
nhuận cho ngân hàng vì giúp ngân hàng hạn chế được các rủi ro có thể xảy ra.
Hiệu quả của hoạt động bảo đảm tiền vay có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
kinh doanh của ngân hàng nên nếu thực hiện không tốt rất có thể sẽ có nguy cơ
tiềm ẩn rủi ro xảy ra cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ vay, dẫn đến khả năng
mất vốn và có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng đối với
khách hàng. Từ lý do này có thể dẫn đến giảm uy tín của ngân hàng, tác động
đến tâm lý của khách hàng gây ra tình trạng rút tiền hàng loạt dẫn ngân hàng đến
chỗ phá sản. Hoạt động của ngân hàng mang tính xã hội hoá cao, nó ảnh hưởng
đến toàn bộ nền kinh tế. Do đó đòi hỏi ngân hàng khi thực hiện vấn để bảo đảm
tiền vay phải chú trọng đến vấn đề đạt được hiệu quả vì việc đạt được hiệu quả
hoạt động bảo đảm tiền vay là điều kiện sống còn cho bản thân mỗi ngân hàng.
Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả về vấn đề bảo đảm tiền vay thì đòi hỏi ngân
hàng cũng cần phải thực hiện tốt các công tác khác như kiểm tra giám sát khách
hàng sử dụng khoản vay, thẩm định khách hàng vay vốn, xếp hạng tín dụng
khách hàng một cách chuẩn xácẶtránh trường hợp xảy ra tổn thất.
12
2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả bảo đảm tiền vay.
2.2.1. Các chỉ tiêu định tính
Khả năng nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo đảm tiền vay phụ thuộc
vào nhiều yếu tố, trong đó uy tín của ngân hàng cũng là một điều hết sức quan
trọng. Nếu ngân hàng có lượng khách hàng đông đảo và là những doanh nghiệp
làm ăn có uy tín thì đó là một trong những điều kiện để áp dụng biện pháp bảo
đảm tiền vay. Bên cạnh đó hiệu quả của hoạt động bảo đảm tiền vay cũng phụ
thuộc vào khả năng thu nợ của ngân hàng khi có rủi ro xảy ra. Để có thể nâng
cao hiệu quả bảo đảm tiền vay thì cần phải có những chỉ tiêu đánh giá hợp lý để
từ đó có cách nhìn bao quát và đúng đắn.
Hiệu quả của bảo đảm tiền vay thể hiện ở việc ngân hàng sau khi cho vay
đã thu hồi được khoản nợ bao gồm cả gốc và lãi, hay có thể là khách hàng
không trả được nợ thì ngân hàng sẽ tiến hành xử lý các tài sản đảm bảo cho
khoản vay đó. Tuỳ theo quan điểm của mỗi ngân hàng thì họ sẽ tiến hành phân
loại các khoản cho vay theo các mức độ rủi ro khác nhau như là: khoản cho vay
đạt tiêu chuẩn; cận chuẩn; có vấn đề; không thu hồi được. ứng với mỗi hình thức
khác nhau thì ngân hàng sẽ có các biện pháp để đề phòng các rủi ro có thể xảy
ra. Đối với những khoản cho vay đạt tiêu chuẩn tức là những khoản cho vay có
chất lượng, có các hình thức bảo đảm và không có nợ quá hạn thì ngân hàng
hoàn toàn yên tâm trong việc thù hồi nợ.
Nếu những khoản cho vay được xếp vào mức độ cận chuẩn tức là khoản
cho vay có bảo đảm nhưng có một số điểm yếu về tín dụng như nguồn vốn của
người vay có biểu hiện không đủ để đáp ứng được cam kết trả nợ, khả năng tiêu
thụ tài sản hay tình hình phát mại tài sản gặp khó khăn…
Khoản cho vay xếp vào mức độ có vấn đề tức là những khoản cho vay
chưa đến hạn và chưa được coi là nợ quá hạn song trong quá trình theo dõi ngân
hàng thấy nghi ngờ trong việc thu hồi nợ vì căn cứ vào giá trị thực tế cho thấy
việc thu đủ nợ là không chắc chắn và đáng ngờ, nhiều khoản tài trợ đang có dấu
hiệu kém lành mạnh, có nguy cơ trở thành nợ quá hạn.
13
Khoản cho vay xếp vào mức độ không thu hồi được là những khoản vay
không thể thu hồi được hay cơ hội để thu hồi được là rất ít. Nguyên nhân xảy ra
có thể do việc thanh lý tài sản gặp rủi ro như không bán được tài sản trên thị
trường vì thị trường tiêu thụ kém hoặc bị kiện tụng về pháp lý.
Ngoài những chỉ tiêu trên chúng ta có thể sử dụng một số chỉ tiêu khác để
đánh giá hiệu quả công tác bảo đảm tiền vay của ngân hàng.
Ngân hàng nếu có sự lựa chọn tài sản bảo đảm phù hợp, sử dụng phương
thức đảm bảo tốt thì sẽ tạo ra uy tín cho ngân hàng, tạo nên an toàn xã hội và chi
phí bỏ ra thấp.
Tài sản bảo đảm là yếu tố để ngân hàng quyết định mức cho vay. Do đó
việc định giá chính xác tài sản bảo đảm là hết sức quan trọng. Nó giúp ngân
hàng đảm bảo được quyền lợi cho chính bản thân mình và cho cả khách hàng.
Ngân hàng kiểm soát, quản lý tài sản bảo đảm một cách đầy đủ chặt chẽ
giúp ngân hàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá nhằm đảm bảo tài sản vẫn đang
trong tình trạng bình thường hoặc kịp thời phát hiện ra các sự cố có liên quan
làm giảm giá trị của tài sản đảm bảo.
Việc xử lý tài sản bảo đảm với thủ tục nhanh chóng, chi phí thấp, bảo đảm
được quyền lợi cho ngân hàng và khách hàng cũng là một chi tiêu để nói lên
hiệu quả bảo đảm tiền vay của ngân hàng.
Trên đây là các chỉ tiêu định tính nhưng nó chỉ là những căn cứ để đánh
giá hiệu quả của hoạt động bảo đảm tiền vay một cách khái quát. Để có những
kết luận chính xác hơn cần dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể.
2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
Để đánh giá hiệu quả của hoạt động bảo đảm tiền vay chúng ta có thể kết
hợp phân tích số tương đối và số tuyệt đối, theo dõi tình hình biến động của các
chỉ tiêu phân tích qua các năm.
a) Chỉ tiêu về nợ quá hạn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng sau khi vay đã đến thời hạn trả nợ
theo thoả thuận trên hợp đồng tín dụng nhưng không hoàn trả được cho ngân
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét