Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Phân phối thu nhập cá nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

sản xuất quyết định mối quan hệ giữa các tập đoàn xã hội trong sản xuất cũng
như trong phân phối.
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiêu thành phần. Mỗi thành phần
kinh tế là một kiểu quan hệ kinh tế dựa trên cơ sở một hình thức sở hữu nhất
định. Tương ứng với mỗi thành phần kinh tế, mỗi hình thức sở hữu là một
hình thức phân phối thu nhập cá nhân nhất định. Mặc dù các thành phần kinh
tế nước ta không tồn tại biệt lập màđan xen vào nhau và hợp thành một cơ cấu
kinh tế quốc dân thống nhất, song chừng nào còn tồn tại nhiều hình thức sở
hữu khác nhau thì sự phân phối thu nhập cá nhân chưa thểđược thực hiện theo
một hình thức thống nhất mà phải được thực hiện theo nhiều hình thức. Chỉ
có như vậy mới giải phóng được mọi năng lực sản xuất, khai thác triệt để mọi
tiềm năng kinh tế của đất nước nhằm phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất –
tiền đề tất yếu của sự quáđộ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
1.1.2.2- Trong nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều phương thức
kinh doanh khác nhau.
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Mỗi thành phần kinh tế có
phương thức sản xuất kinh doanh riêng. Ngay trong thành phần kinh tế thuộc
chếđộ công hữu cũng có những phương thức kinh doanh khác nhau, do đó,
phương thức hình thành thu nhập ởđây cũng khác nhau.
1.1.2.3- Cơ chế thị trường cũng đòi hỏi phải thực hiện nhiều hình
thức phân phối.
Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường sựđiều phối, sắp xếp
hợp lý các yếu tố của nền sản xuất xã hội phải do cơ chế thị trường thực hiện,
do đó các loại yếu tố của sản xuất tất nhiên phải tham gia vào quá trình phân
phối, như thông qua thị trường mà tập trung vốn…. Điều đó cũng góp phần
vào việc hình thành phương thức phân phối thu nhập cá nhân theo nhiều hình
thức.
5
Quan điểm về phân phối thu nhập cá nhân theo định hướng Xã Hội Chủ
Nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Nứơc ta đang quáđộ lên Chủ Nghĩa Xã Hội, do đó, phân phối thu nhập
cá nhân cũng là quá trình từng bước tiến tới thực hiện sự phân phối theo số
lượng và chất lượng lao động. Đó là sự phân phối thích ứng với một xã hội
mà trong đó không còn tình trạng người bóc lột người, người lao động hoần
toàn làm chủ về các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá. Sự phân phối thu nhập cá
nhân theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa là sự phấn đấu từng bước thực hiện
mục tiêu Xã Hội Chủ Nghĩa trong phân phối.
Do nền sản xuất của nước ta còn thấp nên không thể thực hiện đầy đủ
ngay lập tức phân phối này. Chúng ta còn phải thực hiện nhiều hình thức phân
phối, bên cạnh hình thức phân phối theo lao động còn hình thức phân phối
dựa trên mức đóng góp của các nguồn lực khác vào kêt quả sản xuất – kinh
doanh. Tuy nhiên, phân phối theo kết quả lao động phải trở thành hình thức
phân phối chủ yếu.
Chúng ta phải thừa nhận rằng, sự tồn tại tương đối lâu dài của các hình
thức thuê mướn lao động là một tất yếu khách quan trong thời kì quáđộở nước
ta, do đó phân phối thu nhập cá nhân theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa đòi
hỏi chính sách xã hội của Nhà nước phải điều tiết sự phân phối thu nhập cá
nhân sao cho mỗi bước tiến phát triển kinh tế là một bước tiến trong công
bằng xã hội. Thừa nhân sự chênh lệch trong thu nhập cá nhân giữa các thành
viên xã hội là một tất yếu khách quan song không để diễn ra sự chênh lệch
quáđáng về thu nhập mức sống của các tầng lớp dân cư, về trình độ phất triển
giữa các vùng, từng bước thực hiện sự công bằng xã hội, thu hẹp, tiến tới xoá
bỏ sự chênh lệch về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và
nông thôn.
1.3 - Các yếu tốảnh hưởng đến phân phối thu nhập.
Tổng thu nhập quốc dân tính theo đầu người, tổng thu nhập quốc dân
càng lớn thì thu nhập đầu người càng lớn. Hiện nay, nước ta là một trong
6
những nước có thu nhập quốc dân thấp nhất trên thế giới. Để phân phối thu
nhập hay đời sống người dân nâng cao thi chúng ta phảI có những chính sách
phát triển kinh tế mạnh mẽ hơn nữa.
Phần của lao động trong nông nghiệp. Hiện nay ở nước ta cũng như
trên thế giới đang có xu hướng chuyển dịch từ nông nghiệp, công nghiệp sang
dịch vụ. Nếu như trước đây người dân nước ta chủ yếu làm nghề nông nghiệp,
đời sống còn nghèo thì hiện nay Đảng và Chính phủđang có chính sách giảm
lao động trong nông nghiệp chuyển hướng sang công nghiệp và dịch vụ,
khuyến khích xây dựng các nhà máy mới, khôI phục nghề truyền thống của
từng địa phương, thu hút lao động giải quyết tình hình thất nghiệp, đồng thời
giảm việc dân cư kéo nhau về thành thị kiếm việc làm.
Đồng thời với hai chính sách đó là chúng ta phảI thực hiện tốt kế hoạch
hoá gia đình chỉ có giảm dân số nâng cao sự hiểu biết của người dân mới có
thể nâng cao đời sống người dân đồng thời nâng cao thu nhập. Hiện nay
chúng ta đang thực hiện chính sách mỗi gia đình chỉ nên có một hoặc hai con
chỉ có như vậy mới chăm sóc tốt được. Khi dân số nước ta giảm đI, nền kinh
tế phát triển hơn thì thu nhập của mỗi người sẽđược nâng nên.
1.4 - Mối quan hệ phân phối thu nhập.
1.4.1 - Bản chất của mối quan hệ.
Xét cho đến cùng thì các hình thức phân phối thu nhập cùng quan hệ
của chúng được xây dựng để thực hiện phân phối theo nhu cầu. Đây là hình
thức
phân phối cao nhất và nó sẽ xuất hiện ở chủ nghĩa cộng sản sau này.
Theo hinh thức phân phối này thì tuỳ thuộc vào nhu cầu của mỗi cá nhân để
phân phối, không tuỳ thuộc vào sựđóng góp của cá nhân như các hình thức
phân phối khác.
Mặt khác xây dựng mối quan hệ này còn nhằm giải quyết mục tiêu cơ
bản xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa, thực hiện dân giàu nước mạnh xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Hướng các lợi ích vào quỹđạo chung và sự kết hợp
7
của chúng nhằm tạo ra động lực cho sự phát triển. Một khi chủ thể tham gia
vào các hoạt động kinh tếđều nhằm đạt tới những lợi ích kinh tế tương xứng
với kết quả sản xuất- mới đảm bảo tính ổn định và phát triển của các chủ thể
lợi ích, ngược lại sẽ làm cho mối quan hệđó xuống cấp.
1.4.2 – Mối quan hệ giữa các hình thức phân phối.
Do nước ta có nhiều hình thức sở hữu khác nhau nên có nhiều hình
thức phân phối khác nhau. Trong đó phân phối theo lao động chiếm chủ yếu.
Phân phối theo lao động là phân phối trong các đơn vị kinh tế dựa trên cơ sở
công hữu công cộng về tư liệu sản xuất. Trong thời kì quáđộ lên Chủ Nghĩa
Xã Hội và ngay cả trong giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản, tức là Chủ
Nghĩa Xã Hội cũng chưa thể thực hiện phân phối theo nhu cầu và cũng không
thể phân phối bình quân mà chỉ có thể phân phối theo lao động. Vì lực lượng
sản xuất phát triển chưa cao, chưa đến mức cốđủ sản phẩm để phân phối theo
nhu cầu. Đồng thời có sự khác biệt về tính chất và trình độ lao động dẫn tới
việc mỗi người có sự cống hiến khác nhau, cũng như lao động chưa trở thành
một nhu cầu của cuộc sống.
Tuy vậy phân phối theo lao động cũng có những hạn chế không thể
tránh khỏi đồng thời ở nước ta đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế với sựđa
dạng các hình thức sở hữu và các hình thức tổ chức sản xuất – kinh doanh,
nên trong nước còn nhiều hình thức phân phối khác trong đó phân phối thông
qua phúc lợi, tập thể, phúc lợi xã hội có vai trò quan trọng. Hình thức phân
phối này nhằm nâng cao mức sống về vật chất và văn hoá của nhân dân, đặc
biệt là của tầng lớp nhân dân lao động, phát huy tính tích cực lao động cộng
đồng của mọi thành viên trong xã hội, giáo dục ý thức cộng đồng, xây dựng
chếđộ xã hội mới. Song hình thức phân phối này chỉ cóý nghĩa khi được sử
dụng một cách hợp lý phù hợp với yêu cầu và các điều kiện khách quan.
8
Mặc dù có nhiều hình thức phân phối cùng tồn tại, nhưng các hình thức
phân phối này có mối quan hệ chặt chẽ do nền kinh tế nước ta có nhiều thành
phần, các thành phần kinh tế tồn tại độc lập với nhau, hơn nữa thành phần
kinh tế sinh ra hình thức phân phối. Trong các đơn vị kinh tế tập thể bậc thấp
có sự kết hợp phân phối theo vốn và phân phối theo lao động. Trong kinh tế
tư bản tư nhân và tư bản nhà nước, việc phân phối ởđây dựa trên cơ sở sở hữu
vốn cổ phần, sở hữu sức lao động…
Về mặt phân phối cần thực hiện nhiều hình thức nhưng lấy phân phối
theo lao động và hiệu quả lao động là chủ yếu. Đồng thời thừa nhận sự phân
phối theo vốn góp vào việc sản xuất kinh doanh. Các nhà quản lý doanh
nghiệp cũng như người trực tiếp sản xuất đều được hưởng theo kết quả lao
động của mình, kết quả lao động khác nhau thì sự hưởng thụ khác nhau
vàđương nhiên, sự hưởng thụ tương ứng với kết quả lao động của mỗi người.
Đảng và Nhà nước tổ chức những phong trào xã hội rộng rãi của các đoàn thể
xã hội cũng như tự nguyện của cộng đồng như xoáđói giảm nghèo, nhân đạo,
…dưới hình thức tự nguyện và giúp đỡ lẫn nhau.
II – THỰCTRẠNGVÀVIỆCHÌNHTHÀNH,
PHÁTTRIỂNCỦAQUANHỆPHÂNPHỐITHUNHẬPCÁ NHÂN TRONG THỜI KỲ
QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘIỞ VIỆT NAM.
2.1 – Khái quát quá trình phát triển của quan hệ phân phối thu
nhập.
Trong nền kinh tế Tư Bản Chủ Nghĩa: Chỉ có chếđộ tư hữu và chưa có
hình thức phân phối theo lao động. Vì dựa trên chếđộ tư hữu nên chúng
không thể thoát khỏi tính tự phát chạy theo lợi nhuận đơn thuần, nảy sinh
những hiện tượng tiêu cực làm tổn hại đến lợi ích chung của toàn xã hội.
Trong thời kỳ này kết cấu kinh tế còn nhiều thành phần, chúng ta chưa cóđiều
kiện để thực hiện hình thức phân phối theo lao động trên quy mô toàn xã hội
mà chỉ có thể thực hiện trong một bộ phận của nền kinh tế, coi hình thức phân
phối đó là hình thức phân phối chủ yếu mà thôi.
9
Từ Chủ Nghĩa Tư Bản cho đến nay đã xuất hiện nhiều hình thức phân
phối mới, đặc biệt là sự phát triển của phân phối theo lao động. Hình thức
phân phối này làđặc trưng bản chất của kinh tế thị trường định hướng Xã Hội
Chủ Nghĩa, nó là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của chếđộ công hữu. Vì
thế mà phân phối theo lao động được xác định là hình thức phân phối chủ yếu
trong thời kì quáđộ lên Chủ Nghĩa Xã Hội.
2.2 – Những đánh giá về việc phân phối thu nhập và mối quan hệ
giữa các hình thức phân phối.
ở nước ta trong những năm qua có nhiều cố gắng để giải quyết vấn đề
phân phối thu nhập, đặc biệt từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường đến
nay. Nếu nhưở Chủ Nghĩa Tư Bản có sự phân phối thu nhập đồng đều giữa
các cá nhân, làm giảm tính sáng tạo, thì hiện nay chúng ta phân phối theo lao
động là chủ yếu, ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít thì hưởng ít, ai không
làm thì không hưởng, kích thích sáng tạo trong sản xuất.
Hiện nay trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường ở nước ta bên
cạnh một bộ phận nhân dân giàu lên chính đáng, đã vàđang xuất hiện sự phân
hoá giàu nghèo giữa các vùng , giữa thành thị và nông thôn, giữa các tâng lớp
dân cư. Tuy vậy cho đến nay vẫn chưa có quan điểm đúng đắn về tầm quan
trọng của các hình thức phân phối ngoài hình thức phân phối theo lao động.
Điều đóảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng sản xuất. Ví dụ trong hình thức
sản xuất kinh doanh cá thể, mỗi hộ nông dân được coi là một đơn vị sản xuất
cơ bản trong nông nghiệp, mỗi hộ tiến hành sản xuất trên diện tích đất đai
thuộc quyền sở hữu toàn dân. Nhưng để nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội
của việc sử dụng đất đai, cần phải thực hiện chếđộ trách nhiệm kinh tế, phát
huy tính chủđộng sáng tạo của người lao động. Vì vậy, trong chếđộ “khoán
hộ” mỗi hộ tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh của mình trên
diện tích được giao phó. Do đó thu nhập của mỗi hộ tuỳ thuộc vào tinh thần
10
lao động, vào mức huy động vốn, vào hình thức canh tác, kinh doanh. Thu
nhập của mỗi hộ là phần còn lại sau khi đã trừ các khoản nghĩa vụ cần thiết.
Do kết hợp được chặt chẽ giữa hiệu quả sản xuất với sự cống hiến lao động
của những người lao động, cho nên hình thức phân phối này khắc phục được
chủ nghĩa bình quân, kích thích tính sáng tạo của người lao động. Như vậy
trong trường hợp này không nên sử dụng hình thức phân phối theo lao động
mà nên sử dụng hình thức phân phối theo hình thức của nền kinh tế cá thể tiểu
chủ
Một thưc trạng nữa ở nước ta hiện nay nữa đó là sự tồn tại biệt lập của
các hình thức phân phối thu nhập. Trong nền sản xuất chủ yếu là phân phối
thu nhập theo lao động, còn trong lĩnh vực xã hội hình thức phân phối thu
nhập chủ yếu đó là hình thức phân phối thông qua phúc lợi tập thể, xã hội.
Tuy thế, nhưng chúng vẫn tạo thành một thể thống nhất , mỗi hình thức một
lĩnh vực và chúng đều phát huy hết tác dụng của mình để thực hiện được mục
đích ban đầu.
Cùng vứi sự kích thích sản xuất, phát triển kinh tế thị trường còn là
miếng đất tốt để nảy sinh và phát triển nhiều hiện tượng đó là tình trạng tham
nhũng, buôn lậu… Cùng với hiện tượng tiêu cực đó là tình trạng thương mại
hoá tràn lan xâm nhập cả vào các lĩnh vực y tế, văn hoá, giáo dục, làm cho
đời sống xã hội có những biểu hiện xuống cấp đạo lý bị sa sút, tình cảm con
người bịđồng tiền chi phối, lối sống ích kỷ, thực dụng…
Tuy nhiên, cả hộ giàu và nghèo có khác nhau nhưng nhìn chung đều là
những người lao động đều tạo ra thu nhập trước hết và chủ yếu bằng lao động
của chính mình, ai có nhiều sức lao động hơn, có kinh nghiệm và tài năng sản
xuất kinh doanh hơn thì họ sẽ giàu hơn và ngược lại sẽ nghèo hơn. Nên sự
phân hoá giàu nghèo không phải là biểu hiện của sự công bằng ai làm tốt, làm
nhiều, làm giỏi thì hưởng nhiều và ngược lại. Nếu nhà nước không có chính
sách quản lý và những biện pháp điều tiết kịp thời, hữu hiệu thì sự phân hoá
này sẽ dẫn tới phân hoá giai cấp, phân cực xã hội, một bộ phận không nhỏ của
11
dân cư thuộc tầng lớp cơ bản trong xã hội sẽ bị bần cùng hoá. Xảy ra tình
hình đó sẽ làm chệch hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ảnh hưởng xấu tới sựổn định
và bền vững của chính trị. Rộng hơn và cóý nghĩa quan trọng hơn về mặt xã
hội là phân tầng xã hội trong cơ cấu giai cấp – xã hội và ngay trong nội bộ
giai cấp. Với nền kinh tế thuần nông lại mang nặng tính tự nhiên tự cung tự
cấp và chậm. phát triển nên thu nhập của các tỉnh miền núi phía Bắc so với
bình quân chung của cả nước cũng như một số vùng thì còn khá thấp. Năm
1994 thu nhập bình quân đầu người một tháng của các tỉnh miền núi phía Bắc
mới bằng 78,7% mức bình quân chung của cả nước, năm 1995 tụt xuống còn
77,9 và năm 1996 chỉ còn 76,6% chứng tỏ thu nhập của dân những năm qua
có sự phát triển tăng lên nhưng không đáng kể, khoảng cách giữa các khu vực
này với khu vực khác về kinh tế – xã hội ngày càng xa không phải là thu hẹp.
Như vậy vấn đề phân phối thu nhập còn nhiều khuyết tật làm kìm hãm
sự phát triển của nền kinh tế nước ta. Vấn đềđặt ra là cần làm sao để phân
phối thu nhập phải dựa trên nguyên tắc của kinh tế thị trường một cách triệt
để.
III –
GIẢIPHÁPCƠBẢNĐỀRAĐỂPHÁTTRIỂNVÀDẦNHOÀNTHIỆNMỐIQUANHỆPH
ÂNPHỐITHUNHẬPCÁ NHÂN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI Ở VIỆT NAM.
Nước ta đang quáđộ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước kém phát triển,
do đó sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập là một hiện tượng khách
quan. Nhưng sự nghiệp xây dựng chủ nghiã xã hội đòi hỏi tạo ra những tiền
đề, những biện pháp để từng bước xoá bỏ bất bình đẳng trong phân phối thu
nhập cá nhân, thực hiện đầy đủ sự công bằng xã hội. Đểđạt được mục tiêu này
ta cần phải:
3.1 - Đánh giá, đưa ra các lĩnh vực thích hợp để các hình thức phân
phối thu nhập phát huy tác dụng.
12
Trong lĩnh vực sản xuất như doanh nghiệp, phù hợp với sự phát triển
của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất Xã Hội
ChủNghĩa từ thấp đến cao với sựđa dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Kinh tế quốc doanh
và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
Thực hiện nhiều hình thức phân phối lấy phân phối theo kết quả lao động và
hiệu quả kinh tế là chủ yếu.
Còn trong xã hội, thông qua phúc lợi xã hội nâng cao, cải thiện đời
sống của những người cao tuổi, người gặp khó khăn, cải thiện đời sống của
người lao động làm cho mọi người có cuộc sống tốt hơn, va không còn người
nghèo trong xã hội.
3.2 – Giải pháp trong quá trình sản xuất.
Phương thức phân phối, ngoài tính chất của chếđộ sở hữu về tư liệu sản
xuất còn do số lượng sản phẩm có thể phân phối quyết định. Do vây, muốn
thực hiện được ngày càng đầy đủ sự công bằng xã hội trong phân phối thu
nhập của mỗi cá nhân thì cần phải sản xuất ra càng nhiều sản phẩm. Thực
hiện sự phân phối bình đẳng trong điều kiện của cải vật chất quá nghèo nàn
chỉ là sự chia đều nghèo khổ. Để tiến lên sự bình đẳng trong phân phối thu
nhập cá nhân, điều kiện tiên quyết đối với nước ta là phát huy mọi tiềm năng
vật chất và tinh thần của đất nước, ra sức phát triển lực lượng sản xuất, thực
hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền công, tiền lương, chống chủ nghĩa
bình quân. Tiền lương tối thiểu phải đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của
người lao động ( ăn, ở, mặc, nuôi dậy con cái…). Gắn chặt tiền công, tiền
lương với năng suất chất lượng và hiệu quả sẽđảm bảo quan hệ hợp lý về thu
nhập cá nhân giữa các ngành nghề.
3.3 - Điều tiết và nâng cao thu nhập trong dân.
13
Sự chênh lệch về mức thu nhập của các tập thể, cá nhân trong thời kì
quáđộở nước ta là một tất yếu khách quan. Tuy vậy chúng ta cần ngăn chặn sự
chênh lệch quáđáng về thu nhập, sự phân hoá xã hội thành hai cực đối lập.
Đối với nước ta, việc điều tiết thu nhập cá nhân nhằm mục tiêu trợ giúp
những người có thu nhập quá thấp hoặc không có thu nhập vượt qua những
khó khăn nhất thời, giải quyết những vấn đề chung theo yêu cầu phát triển xã
hội, thực hiện công bằng xã hội. Đồng thời, điều tiết thu nhập cá nhân phải
đảm bảo duy trìđược động lực phát triển kinh tế, khuyến khích mọi thành viên
trong xã hội có sức lao động , có vốn và tài sản tích cực đưa vào hoạt động
sản xuất kinh doanh hợp pháp để làm giàu chính đáng.
Vì thu nhập cá nhân được hình thành từ nhiều hình thức phân phối, nên
sựđiều tiết đòi hỏi phải nắm vững tính chất và mức độ của từng loại thu nhập
để vừa khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng, vừa bảo đảm tính định
hướng Xã Hội Chủ Nghĩa trong phân phối. Nhà nước làm giảm thu nhập cá
nhân bắng các hình thức thuế thu nhập cá nhân và hình thức tự nguyện đóng
góp của cá nhân có thu nhập cao vào quỹ phúc lợi xã hội, từ thiện… trong đó,
thuế thu nhập cá nhân là quan trọng nhất, chủ yếu nhất đối với mọi nhà nước
trong nền kinh tế thị trường, tuy thế cũng không làm triệt tiêu động lực tăng
thu nhập hơn nữa của bộ phận dân cư có thu nhập cao. Bên cạnh đó nhà nước
có các biện pháp làm tăng thu nhập thông qua ngân sách nhà nước, các quỹ
như quỹ bảo hiểm,…, các điều luật giúp cho những người cóý chí, có thể vay
vốn để làm giàu.
Ngoài ra nhà nước còn khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với
xoáđói giảm nghèo. Nhà nước điều tiết bớt thu nhập của người giàu lên nhờ
lợi thế nghề nghiệp vị tríđịa lý, có sựđãi ngộ thích hợp đối với những người
có cống hiến cho xã hội chứ không phải cho sản xuất. Đi đôi với khuyến
khích làm giàu hợp pháp phải đồng thời chủ trương mở rộng vàđẩy mạnh
cuộc vận động xoáđói giảm nghèo, trong đó cần tập trung xoáđói, giảm nghèo
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét