thường thay đổi theo lãi
suất
thị
trường. Chính vì vậy, vay thương mại thường có giá
khá cao và chứa đựng nhiều rủi ro. Việc vay thương mại của Chính phủ phải được cân
nhắc hết sức thận trọng và chi quyết định vay khi không còn cách nào khác.
• Phân loại nợ theo chủ thể cho vay: nợ đa phương và nợ song phương.
Nợ đa phương đến chủ yếu từ các cơ quan của Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới
(WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), các ngân hàng phát triển trong khu vực, các cơ quan
đa phương như OPEC
và liên chính phủ.
Trong khi đó, nợ song phương đến từ Chính phủ một nước như các nước thuộc tổ chức
OECD
và các nước khác hoặc đến từ một tổ chức quốc tế nhân danh một Chính phủ duy
nhất dưới dạng hỗ trợ tài chính, viện trợ nhân đạo bằng hiện vật
1.1.4/Các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài
Dựa trên tầm quan trọng của vấn đề quản lý nợ nước ngoài trong việc xây dựng chính
sách phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia,hệ thống các chỉ số đánh giá nợ nước ngoài đã
được đưa ra nhằm xác định mức độ nghiêm trọng của nợ nước ngoài đối với an ninh tài chính
quốc gia.
1.1.4.1/Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ nước ngoài
Các chỉ tiêu thường được các tổ chức quốc tế dùng là trong việc đánh giá nợ nước ngoài của
một quốc gia:
• Khả năng hoàn trả nợ vay nước ngoài
Chỉ tiêu này được xác định bằng tỉ lệ Tổng nợ/Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa,dịch vụ.
Ý tưởng sử dụng chỉ tiêu này là nhằm phản ánh nguồn thu xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ
là phương tiện mà một quốc gia có thể sử dụng để trả nợ nước ngoài.Tuy nhiên việc sử
dụng chỉ tiêu gặp một số khó khăn:nguồn thu xuất khẩu là một nhân tố biến động qua các
năm và một quốc gia có thể sử dụng nhiều biện pháp khác ngoài nguồn thu từ xuất khẩu để
trả nợ nước ngoài
• Tỷ lệ nợ nước ngoài so với thu nhập quốc gia (Nợ/GNI)
Chỉ tiêu đánh giá khả năng trả nợ thông qua tổng thu nhập quốc dân của một quốc gia.Nói
cách khác,nó phản ánh khả năng hấp thụ vốn vay nước ngoài.Tuy nhiên,các nước đang phất
triển thường đánh giá cao giá trị đồng nội tệ hoặc sử dụng chế độ đa tỉ giá làm giảm tình
trạng trầm trọng nợ khiến cho việc sử dụng chỉ tiêu trên không đánh giá đúng mức tình trạng
nợ.
• Tỷ lệ trả nợ (Tổng nợ phải trả hàng năm/Kim ngạch thu xuất khẩu)
Tiêu chí phản ánh quan hệ giữa nghĩa vụ nợ phải trả so với năng lực xuất khẩu hàng hóa và
dịch vụ của quốc gia đi vay
5
• Tỷ lệ trả lãi(Tổng lãi phải trả hàng năm/Kim ngạch thu xuất khẩu)
Một quốc gia mắc nợ trong quá khứ thì họ sẽ phải trích nguồn thu từ xuất khẩu để trả lãi càng
nhiều gây hạn chế đối với lượng ngoại tệ dành cho nhập khẩu
Đây là chỉ tiêu hay được dùng nhất để đánh giá nợ vì không đề cập đến gánh nặng nợ mà
còn
chỉ ra chi phí vay nợ, điều này ngầm hiểu như hiệu quả sử dụng vốn vay có cao hơn
chi phí lãi vay hay không.
1.1.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nợ nước ngoài
Cơ cấu nợ hàm chứa những thông tin quan trọng về mức độ rủi ro của việc vay nợ.Thông
thường rủi ro sẽ cao khi tỷ trọng nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ thương mại và tỷ lệ nợ song
phương cao. Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu gồm:
• Nợ ngắn hạn/Tổng nợ: Phản ánh tỷ trọng các khoản nợ cần thanh toán trong thời
gian nhỏ hơn một năm trong tổng nợ. Tỷ lệ này càng cao, áp lực trả nợ càng lớn.
•
Nợ ưu đãi/Tổng nợ:
Tỷ lệ này càng cao,gánh nặng nợ nước ngoài càng nhẹ.
•
Nợ đa phương/Tổng nợ: Các khoản nợ đa phương thường nhằm mục đích
hỗ
trợ,
ít mưu cầu về lợi nhuận, do đó việc tăng cường nợ đa phuơng trong tổng nợ phản
ánh tình hình nợ nước ngoài của một nước thay đổi theo chiều hướng tốt.
1.1.5/Vai trò của nợ nước ngoài
Nguồn vốn vay từ nước ngoài chiếm vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế-xã hội của
mỗi quốc gia.Vai trò của nó được thể hiện qua các đặc điểm sau:
1.1.5.1/Đáp ứng các nhu cầu về vốn đầu tư
Vốn vay nước ngoài đóng vai trò là một nguồn bổ sung cho nguồn vốn phát triển KT-XH
của mỗi quốc gia đặc biệt đối với các nước đang phát triển luôn trong tình trạng “thiếu thốn”
về vốn.Với việc đi vay nước ngoài,một quốc gia có cơ hội đầu tư phát triển ở mức cao
hơn.Tuy nhiên việc vay nợ chỉ có thể có hiệu lực nếu như bản thân nó đảm bảo không ảnh
hưởng nghiêm trọng đến tiêu dùng của thế hệ tương lai
1.1.5.2/Góp phần chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý
Thông qua việc vay vốn nước ngoài góp phần bổ sung thêm nguồn vốn nhập khẩu máy
móc,công nghệ hiện đại cùng kỹ năng quản lý tiên tiến từ nước ngoài.
1.1.5.3/Ổn định tiêu dùng trong nước
Khi xảy ra những “cú sốc” đột ngột đối với nền kinh tế như ảnh hưởng từ cuộc khủng
hoảng tài chính hay những thiên tai bất ngờ ảnh hưởng đến nền sản xuất của mỗi quốc
gia,bên cạnh các khoản viện trợ quốc tế thì vay nợ nước ngoài đóng vai trò là biện pháp giúp
góp phần ổn định tiêu dùng trong nước trong ngắn hạn,trong khi nền kinh tế được phục hồi
1.1.5.4/Bù đắp cán cân thanh toán
6
Cán cân thanh toán của một nước có thể tạm thời bị thâm hụt do nhiều nguyên nhân
bất lợi trong thương mại quốc tế. Khi đó, quốc gia đó có thể sử dụng biện pháp vay nợ nước
ngoài để bù đắp phần thâm hụt này. Tuy nhiên, đây là giải pháp có tính rủi ro cao do không
có gì chắc chắn rằng việc các nước đi vay sẽ có thu nhập khá hơn khi đến kì trả nợ. Hơn nữa,
các khoản vay nợ bù đắp cán cân thương mại thường là các khoản vay nợ ngắn hạn có lãi
suất cao mà các nước đi vay phải gánh chịu.
1.2/Vấn đề quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam
Việc quản lý nợ nước ngoài trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động
như hiện nay là một vấn đề cần đặc biệt quan tâm. Việc quản lý không chỉ dừng lại ở việc
sử dùng, giám sát yếu tố nợ nước ngoài sao cho hợp lý, mà còn phải dựa trên khiá cạnh
đảm bảo tính ổn định của yếu tố nợ
nước
ngoài.
1.2.1. Khái niệm về quản lý nợ nước ngoài
Việc quản lý nợ nước ngoài theo cách hiểu chung nhất của Việt Nam là “việc
quản lý nợ nước ngoài hàm chứa trong nó hệ thống điều hành vĩ mô sao cho vốn nước
ngoài được sử dụng có hiệu quả và không gia tăng đến mức vượt quá khả năng thanh toán
để không làm tích luỹ nợ. Hay nói cách khác, quản lý nợ nước ngoài là bảo đảm một cơ
cấu vốn vay thích hợp với các yêu cầu phát triển của nền kinh tế, thực hiện phân bổ vốn
một cách hợp lý và kiểm soát nợ và sự vận hành vốn vay”.
Theo cách hiểu chung của cộng đồng tài chính quốc tế “quản lý nợ nước ngoài là
một phần của công tác quản lý nền kinh tế vĩ mô. Nó bao gồm việc hoạch định, triển khai,
duy trì và từ bỏ các khoản nợ nước ngoài để tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng
kinh tế, giám sát tình trạng đói nghèo và tiếp tục duy trì sự phát triển mà không tạo ra những
khó khăn trong thanh toán”.
Như vậy theo cả hai cách hiểu trên thì quản lý nợ nước ngoài luôn gắn liền với quản
lý chính sách vĩ mô.Quản lý nợ nước ngoài hiệu quả đòi hỏi phải có sự kết hợp của cả chính
sách tốt và thể chế lành mạnh nhằm thực hiện,điều hành các hoạt động.
1.2.2/Nội dung quản lý nợ nước ngoài
Việc quản lý nợ nước ngoài không đơn thuần là việc vay và trả nợ mà là vay và trả
sao cho đảm bảo nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế,duy trì sự ổn định trong phát triển kinh
tế.Việc quản lý phải được tiến hành một cách đồng bộ trên cơ sở phối hợp các nhóm chiến
lược vay và trả nợ nước ngoài trong ngắn,trung và dài hạn.Nội dung quản lý cần được
nghiên cứu,xây dựng cẩn thận,trên cơ sở xem xét các khung giải pháp chuẩn đã được Chính
phủ ban hành trong các năm qua.
• Xây dựng chiến lược và kế hoạch vay trả nợ nước ngoài
Chiến lược vay trả nợ nước ngoài là văn kiện đưa ra mục tiêu, định hướng, các giải
pháp, chính sách đối với quản lý nợ nước ngoài của quốc gia, được xây dựng trong chiến
lược tổng thể về huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế, phù hợp với chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 5 năm và 10 năm của đất nước.
7
• Ban hành khung chể thế, xây dựng cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý nợ nước
ngoài
Một trong những nhiệm vụ của Nhà nước trong quản lý nợ nước ngoài là xây dựng được một
khuôn khổ pháp lý và thể chế cho quản lý nợ nước ngoài, trong đó có sự phân định rõ
ràng giữa trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan chức năng được ủy quyền thay mặt
Chính phủ trong việc vay, trả nợ, phát hành bảo lãnh và thực hiện các giao dịch tài chính
như cho vay lại.Sự phân định được luật hóa thông qua các văn bản pháp luật như Luật Ngân
sách Nhà nước,Luật Quản lý nợ nước ngoài…và các quy chế cụ thể.
• Đánh giá tính bền vững của nợ nước ngoài
Theo Cơ quan Phát triển Quốc tế (thuộc Ngân hàng Thế giới) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế
(IMF): “Tính bền vững của việc vay nợ nước ngoài là khái niệm dùng để chỉ trạng thái nợ
của một quốc gia tại đó nước vay nợ có đủ khả năng đáp ứng các nghĩa vụ nợ - cả vốn
gốc lẫn lãi - một cách đầy đủ, không phải nhờ đến biện pháp miễn giảm hoặc cơ cấu lại
nợ nào, cũng như không bị tích tụ tình trạng các khoản nợ chậm trả, đồng thời vẫn cho
phép nền kinh tế đạt được một tỷ lệ tăng trưởng chấp nhận được”.
II/Thực trạng về việc quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam
2.1/Tình hình vay nợ nước ngoài của VN
2.1.1/Các phương thức vay nợ chủ yếu
Hiện nay nợ nước ngoài của VN xuất phát từ ba nguồn chủ yếu sau:
_Nợ ODA
_Vay thương mại qua các hợp đồng song phương và đa phương
_Phát hành trái phiếu quốc tế
NỢ ODA
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là một trong những "kênh" vốn đầu tư
phát triển quan trọng đối với các nước đang phát triển, trong đó có VN. Thực tế trong nhiều
năm gần đây, nguồn vốn ODA đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển, tăng trưởng của nền
kinh tế - xã hội nước ta.
Với những nước có xuất phát điểm kinh tế thấp như VN hiện nay, nguồn vốn ODA có ý
nghĩa hết sức quan trọng .Quan hệ hợp tác phát triển giữa Chính phủ Việt Nam với các tổ
chức tài chính thế giới và Chính
phủ
các
nước được xây dựng và phát triển từ rất sớm.
Việt Nam nhận được nhiều khoản hỗ trợ phục vụ cho quá trình ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội, thực hiện các mục tiêu mà Quốc hội đã đặt ra trong các giai đoạn khác nhau.
Trong giai đoạn từ 1993-2010, tổng số vốn ODA được các nhà tài trợ cam kết dành cho VN
đạt tới hơn 64 tỉ USD. Riêng vốn cam kết của các nhà tài trợ tại Hội nghị Nhóm tư vấn các
nhà tài trợ cho VN (CG) năm 2010 vào đầu tháng 12.2010 là 7,88 tỉ USD
Trong số 51 nhà tài trợ thường xuyên cho Việt Nam, có 28 nhà tài trợ song
8
phương và 23 nhà tài trợ đa phương, có 3 nhà tài trợ cung cấp chủ yếu là Nhật Bản,Ngân
hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), chiếm khoảng 80% tổng giá trị
ODA đã ký kết. Hiện nay, đối tác lớn tài trợ vốn ODA cho VN bao gồm: Nhật Bản, Ngân
hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), các
tổ chức của Liên Hợp Quốc (UN), các tổ chức phi chính phủ (NGO) và nhiều nhà tài trợ
song phương khác. Nhật Bản đang là nhà tài trợ vốn ODA song phương lớn nhất cho VN
trong hơn 17 năm qua (trong 7,88 tỉ USD vốn cam kết đầu tháng 12.2010, Nhật Bản có mức
cam kết là 1,76 tỉ USD). WB giữ vị trí là nhà cung cấp ODA đa phương lớn nhất. Mức cam
kết trong hội nghị tháng 12.2010 đạt tới 2,6 tỉ USD. ADB là 1,5 tỉ USD.
Tuy nhiên, sự phụ thuộc của Việt Nam vào ODA nhằm duy trì tăng trưởng dựa vào
đầu tư sẽ ngày càng khó khăn hơi bởi sự giảm viện trợ ODA trên toàn thế giới cũng như tác
động của khủng hoảng kinh tế thế giới.
VAY THƯƠNG MẠI
• Bảo lãnh Chính phủ đối với các khoản vay nước ngoài của các doanh
nghiệp và tổ chức tín dụng
Bảo lãnh Chính phủ đối với các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khi vay nước ngoài
được thực hiện nhằm mục đích hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp phát triển hoạt động sản
xuất kinh doanh Các doanh nghiệp vay nợ có bảo lãnh gồm các doanh nghiệp đầu tư trực
tiếp từ nước ngoài (doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI) và các doanh
nghiệp nhà nước có quy mô lớn trong các ngành bưu chính viễn thông, dầu khí, điện lực,
xi măng, hàng không và dệt.
DƯ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA CHÍNH PHỦ VÀ ĐƯỢC
CHÍNH PHỦ
BẢO
LÃNH 2005-2010
(Nguồn:Bộ Kế hoạch-Đầu tư)
9
10
Vốn vay nước ngoài của các vùng,
m
iề
n
• Vay và trả nợ nước ngoài của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương
Bên cạnh khoản vay trực tiếp của chính quyền trung ương, các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương khi muốn gia tăng nguồn vốn đầu tư phát triển cũng tiến hành hoạt động vay
nợ dưới hai hình thức, phát
hành
trái
phiếu chính quyền địa phương và vay nước ngoài.
Trên thực tế, vốn vay nước ngoài của các địa phương chủ yếu là vốn ODA trực tiếp cho các
dự án đầu tư tại các khu vực và phần thụ hưởng gián tiếp từ các dự án của các cơ quan trung
ương thực hiện trên địa bàn.
Từ đồ thị trên ta thấy nguồn vốn vay của địa phương chủ yếu là ở khu vực đồng bằng Bắc
Bộ(34,4%).Nó phù hợp với quy hoạch phát triển vùng,miền trên địa bàn cả nước vì khu vực
này có tiềm năng kinh tế lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả.
Phát hành trái phiếu quốc tế
Ngày 27/10/2005, Chính phủ đã chính thức phát hành trái phiếu trên thị trường chứng
khoán New York với tổng số vốn huy động được là 750 triệu USD, lãi suất 7,125%/năm,
thời hạn 10 năm. Toàn bộ số tiền huy động được giao cho Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy
Việt Nam (Vinashin) sử dụng để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Trái phiếu quốc tế của Chính phủ đã thu hút được sự quan tâm rất lớn của các nhà đầu tư
nước ngoài trên khắp thế giới. Trong so 255 nhà đầu tư mua trái phiếu có 51% là các quỹ
đầu tư tài chính, ngân hàng là 25%, các công ty bảo hiểm là 17% và 7% là các tổ chức đầu
tư khác. Số trái phiếu này được phát hành rộng rãi ở châu Á (nắm giữ 38%), châu Âu (32%)
và châu Mỹ (30%).
11
Nợ nước ngoài của Chính phủ gia tăng qua các năm, phần nào đáp ứng nhu cầu hỗ trợ
vốn cho quá trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Điều này được lý giải một phần cho
những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế và chính sách thu hút vốn đầu tư nước
ngoài của
Việt
Nam.
Bên cạnh đó, hoạt động trả nợ duy trì đều đặn, đảm bảo uy tín trong
quá trình thanh toán cũng góp phần vào việc gia tăng số lượng nợ nước ngoài.
2.2/Tình hình quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam
2.2.1/Cơ chế quản lý
Hiện nay cả Bộ Tài chính (Bộ TC), Bộ Kế hoạch - Đầu tư (Bộ KH & ĐT), Ngân hàng
Nhà nước (NHNN) và một số cơ quan khác cùng được giao nhiệm vụ quản lý nợ Chính phủ
mà không xác định được chính xác phạm vi hoạt động của từng đơn vị. Luật Ngân sách
Nhà nước quy định Bộ Tài chính là cơ quan xây dựng chiến lược, kế hoạch vay nợ, trả nợ
trong và ngoài nước (điều 21), Quy chế Quản lý vay và trả nợ nước ngoài quy định, Bộ
KH & ĐT chịu trách nhiệm xây
dựng
chiến
lược quốc gia và trả nợ nước ngoài (điều 6).
Luật Tổ chức Các Tổ chức Tín dụng quy định NHNN phối hợp với Bộ TC xây dựng chiến
lược điều hành nợ Chính phủ trong từng giai đoạn để đảm bảo sự phù hợp trong việc thực
thi chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ, tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến
nợ nước ngoài. Quỹ Hỗ trợ Phát triển là cơ quan thuộc Văn phòng Chính phủ và Bộ Tài
chính (nay tách
ra
thành
Ngàn hàng Phát triển Việt Nam) huy động vốn và giải ngân cho
các dự án phát triển ưu tiên của Chính phủ.
Một số mâu thuẫn trong quản lý nợ tại các đơn vị liên quan:
Quyết định số 151/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định nhiệm vụ
của Vụ Ngân
sách
Nhà
nước, đó là “Chủ trì phối hợp các đơn vị thống nhất quản lý nợ
quốc gia”. Tuy nhiên, quy định này lại chồng chéo với nhiệm vụ quản lý nợ nước ngoài
mà Bộ trưởng Bộ Tài chính đã phân công cho Vụ Tài chính Đối ngoại tại Quy định số
163/2003/QĐ-BTC, theo đó Vụ Tài chính Đối ngoại có chức năng giúp
Bộ trưởng
Bộ Tài
chính là “Thống nhất quản lý vay và trả nợ nước ngoài của Chính phủ, vay và trả nợ nước
ngoài của quốc gia”.
Quyết định số 209/2003/QĐ-BTC, Kho bạc Nhà nước có nhiệm vụ “Nghiên cứu xây dự
thảo đề án, chính sách, chế độ về huy động vốn trong nước và ngoài nước thông qua phát
hành công phiếu,trái phiếu chính phủ”,trong khi đó Quyết định số 163/2003 lại quy định một
trong những nhiệm vụ của Vụ Tài chính Đối ngoại là “nghiên cứu,đề xuất và tổ chức thực
hiện các phương án huy động vốn ngước ngoài trên thị trường vốn quốc tế của Chính phủ”.
Trách nhiệm trong quản lý tài chính các doanh nghiệp FDI tại Bộ Tài chính còn
nhiều bất cập, nhất là trong khâu thẩm định giấy phép, phân công quản lý các lĩnh vực còn
chồng chéo… dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý tài chính nhà nước các doanh
nghiệp FDI
12
Bên cạnh đó, một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình quản lý nợ Chính phủ là
theo dõi
và
đánh
giá các khoản nợ cũng bị chia sẻ giữa các cơ quan quản lý. Bộ KH & ĐT
theo dõi, thống kê và đánh giá về ODA, trong đó có nợ, Vụ Tài chính Đối ngoại (Bộ TC)
quản lý nợ nước ngoài, Kho bạc Nhà nước quản lý nợ trong nước. Các đơn vị này đều có sử
dụng hệ thống quản lý nợ riêng biệt và thủ công nên các báo cáo về nợ Chính phủ hiện nay
được xây dựng hoàn toàn do sự phối hợp số liệu của các đơn vị một cách thủ công
và
không
đảm bảo sự chuấn xác
2.2.2. Đánh giá về tình hình nợ nước ngoài tại Việt Nam
Theo quyết định số 231/2006 của Thủ tướng Chính phủ, đánh giá và giám sát tình hình nợ
nước ngoài là việc Chính phủ, cơ quan quản lý nhà nước liên quan thông qua hệ thống chỉ
tiêu nợ nước ngoài thực hiện theo dõi, đánh giá thường xuyên tình trạng nợ nước ngoài,
phân tích danh mục nợ để kịp thời phát hiện những dấu hiệu mất cân đối trong thanh toán
quốc tế của nền kinh tế, các khó khăn tài chính trong việc trả nợ nước ngoài của khu vực
công và tư nhân, quản lý tốt rủi ro nhằm điều chỉnh chính sách vay nợ và danh mục nợ
phù hợp, kịp thời, đảm bảo bền
vững
nợ
theo các ngưỡng an toàn và an ninh tài chính quốc
gia.
Cơ quan chủ trì đánh giá, giám sát nợ là Bộ Tài chính. Cơ quan phối hợp thực hiện việc
đánh giá, giám sát là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Kế hoạch – Đầu tư,
Tổng Cục thống kê, Bộ Công thương; các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, ủy ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có sử dụng vốn vay nước ngoài của Chính phủ
Các chỉ tiêu chính đánh giá, giám sát theo ngưỡng an toàn nợ bao gồm: Giá trị
hiện tại của nợ nước ngoài so với GDP (PV FD/GDP); Giá trị hiện tại của nợ nước
ngoài so với kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ (PV FD/EX); Giá trị hiện tại
của nợ nước ngoài so với thu ngân sách nhà nước (PV FD/GR); Nghĩa vụ trả nợ hàng
năm so với kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ (DS/EX); Nghĩa vụ trả nợ nước
ngoài hàng năm so với thu ngân sách nhà nước (DS/GR); Dự trữ ngoại hối nhà nước
so với tổng số nợ nước ngoài ngắn hạn (FR/STD).
Ngoài ra còn một số chỉ tiêu phụ trợ khác như: Tổng nợ nước ngoài, cơ cấu nợ
nước ngoài; Lãi suất vay bình quân của các khoản vay nước ngoài; Kỳ hạn vay bình
quân của các khoản vay nước ngoài. Các chỉ tiêu giám sát, đánh giá nợ nước ngoài của
Chính phủ, khu vực công và khu vực tư được xác định trên cơ sở đặc điểm của từng
khu vực.
13
Tình hình nợ nước ngoài của Việt Nam từ 2003-2010
(ĐVT:Triệu USD)
Từ bảng số liệu trên có thể thấy rằng các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài đang có xu hướng
giảm dần qua các năm,năm sau giảm hơn năm trước(ngoại trừ chỉ tiêu nợ dịch vụ).Đặc biệt
trong giai đoạn 2008-nay,khi thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế và
xảy ra nhiều biến động trên thế giới thì nợ nước ngoài của Việt Nam không những không
tăng mà còn có xu hướng giảm.
Về chỉ tiêu nợ dịch vụ có xu hướng tăng theo các năm trong giai đoạn gần đây,điều này thể
hiện xu thế tất yếu của tình hình kinh tế trong nước cũng như trên thế giới.Đặc biệt trong
năm 2006,năm đánh dấu một sự kiện quan trọng đối với nền kinh tế VN,khi VN chính thức
trở thành thành viên WTO.Kèm theo đó,các yếu tố thuận lợi từ việc gia nhập WTO đã dần
thể hiện rõ nét,đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ. Trong hướng phát triển của nền kinh tế, yếu
tố dịch vụ phải ngày càng gia tăng trong tỷ trọng thành phần của nền kinh tế. Nên việc yếu
tố nợ dịch vụ ngày càng gia tăng trong nền kinh tế là đều tất nhiên, chúng ta phải “đi trước
đón đầu”, phải gia tăng nợ dịch vụ để nền kinh tế tiến kịp với nền kinh tế của các nước trong
khu vực và trên thế giới.
2.2.3. Hiệu quả sử dụng nợ vay
Trong những năm qua,nhiều dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA đã hoàn thành và được đưa
vào sử dụng góp phần nâng cao,phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế,tạo điều kiện tăng
trưởng kinh tế,về mặt xã hội các dự án góp phần xóa đói,giảm nghèo,gia tăng công ăn việc
làm cho xã hội,cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân.Các dự án điển hình: Nhà máy
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét