Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

1 số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình NK thiết bị toàn bộ tại công ty XNK thiết bị toàn bộ và kỹ thuật


có thể đợc phép nhập khẩu thiết bị toàn bộ sau khi đã thực hiện đầy đủ các thủ tục
có liên quan theo qui định cụ thể của pháp luật.
Trớc kia, theo qui định của thông t 04/TM- ĐT ngày 30/7/1993 của Bộ thơng
mại, muốn kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ, doanh nghiệp phải đợc Bộ
thơng mại cấp giấy phép kinh doanh phù hợp với Điều 5 Nghị định số 144/HĐBT
ngày 7/7/1992 trong đó ở phần nhập khẩu có ghi ngành hàng thiết bị, máy móc.
Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải đáp ứng các yêu cầu nh:
-Doanh nghiệp có bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ có đủ năng lực chuyên
môn kỹ thuật, nghiệp vụ ngoại thơng, giá cả, pháp lý quốc tế trong kinh
doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ.
-Doanh nghiệp đã kinh doanh nhập khẩu ngành hàng máy móc thiết bị lẻ tối
thiểu 5 năm và có mức doanh số nhập khẩu máy móc thiết bị trong năm
không dới 5 triệu USD.
-Doanh nghiệp có vốn lu động do nhà nớc giao tự bổ sung bằng tiền Việt nam
và tiền nớc ngoài tối thiểu tơng đơng với 500.000USD tại thời điểm đăng ký
kinh doanh nhập khẩu thiết bị.
Do đó, muốn nhập khẩu thiết bị toàn bộ, doanh nghiệp cần phải xin đăng ký
kinh doanh nhập khẩu thiết bị toàn bộ với Bộ thơng mại bằng cách gửi bộ hồ sơ
đăng ký kinh doanh, bao gồm: đơn xin kinh doanh nhập khẩu thiết bị, giấy phép
kinh doanh xuất nhập khẩu, hồ sơ hợp lệ xác nhận vốn lu động (bao gồm vốn Nhà
nớc giao và vốn tự bổ sung), bảng tổng kết tài sản 5 năm cuối cùng (Biểu tổng hợp),
sơ đồ tổ chức bộ máy kinh doanh và cán bộ cần thiết để đảm bảo đủ năng lực kinh
doanh thiết bị.
Tuy nhiên, sau này theo nội dung của nghị định 33/CP ngày19/4/1994 về
Quản lý Nhà nớc đối với hoạt động xuất nhập khẩu, nhập khẩu và tiếp đó là Nghị
định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 qui định chi tiết rằng để đợc phép kinh doanh
xuất nhập khẩu (kể cả hàng hoá thiết bị toàn bộ), doanh nghiệp phải đợc thành lập
theo qui định pháp luật, đợc phép xuất nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã
đăng ký kinh doanh, đã đăng ký mã số kinh doanh với Cục Hải Quan tỉnh, thành và
hàng hoá đó không thuộc danh mục hàng hoá cấm xuất nhập khẩu. Với cơ chế mới,
5

để mở rộng sản xuất, doanh nghiệp có thể trực tiếp nhập khẩu thiết bị toàn bộ thông
qua đấu thầu; hoặc doanh nghiệp có thể uỷ thác cho doanh nghiệp khác đợc phép
kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ.
Điều đáng lu ý ở đây là đối với một doanh nghiệp muốn đợc phép kinh doanh
xuất nhập khẩu mặt hàng này thì trong những văn bản ban hành sau thông t 04/TM-
ĐT nh đã kể trên lại cha đợc qui định cụ thể, trong các danh mục ngành hàng mà
doanh nghiệp đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu lại không có tên của ngành hàng
"thiết bị toàn bộ. Do vậy, trong thực tế, hiện nay các doanh nghiệp muốn kinh
doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ vẫn áp dụng các qui định của thông t 04/TM-
ĐT.
2.2. Các phơng thức nhập khẩu thiết bị toàn bộ
Nếu nh thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị lẻ không gặp nhiều vớng mắc
và chỉ mất một khoảng thời gian tơng đối ngắn thì việc thực hiện hợp đồng nhập
khẩu thiết bị toàn bộ thờng kéo dài hơn nhiều với một khối lợng công việc đồ sộ và
phức tạp liên quan tới các công đoạn xây xựng nhà xởng, nhập khẩu hàng hoá, lắp
đặt, vận hành, đào tạo vận hành v.v Chính vì vậy mà vấn đề đặt ra là nên tiến hành
nhập khẩu theo phơng thức nào là tối u nhất đảm bảo an toàn cho đầu t trong khi
chúng ta cha đủ khả năng và trình độ để có thể hoàn toàn an tâm về quyết định nhập
khẩu thiết bị toàn bộ và công nghệ của mình. Sau đây là một số phơng thức nhập
khẩu thiết bị toàn bộ thờng gặp:
Nhập khẩu uỷ thác : là hoạt động nhập khẩu đợc hình thành giữa một
doanh nghiệp trong nớc có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu thiết
bị toàn bộ, uỷ thác cho một doanh nghiệp có chức năng xuất nhập khẩu
trực tiếp giao dịch ngoại thơng tiến hành nhập thiết bị toàn bộ theo yêu
cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành với nớc ngoài để làm thủ
tục nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác và đợc nhận một
khoản thù lao gọi là phí uỷ thác.
Đặc điểm: trong hoạt động nhập khẩu này doanh nghiệp nhập khẩu uỷ thác
không phải bỏ vốn, không xin hạn ngạch (nếu có) không phải nghiên cứu thị trờng
tiêu thụ. Không phải lo tiêu thụ hàng nhập khẩu mà chỉ đứng ra thay mặt bên uỷ
6

thác tìm và giao dịch với nớc ngoài, ký kết hợp đồng và làm thủ tục hải quan, thủ
tục xuất nhập khẩu hàng hoá cũng nh thay mặt bên uỷ thác tiến hành đòi bồi thờng
bên nớc ngoài khi có tổn thất. Khi tiến hành xuất nhập khẩu uỷ thác thì doanh
nghiệp xuất nhập khẩu chỉ tính kim ngạch xuất nhập khẩu chứ không tính vào
doanh số.
Nhập khẩu tự doanh : hoạt động nhập khẩu tự doanh chính là hoạt động
nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trên
cơ sở nghiên cứu thị trờng trong và ngoài nớc, tính toán đầy đủ chi phí để
đảm bảo kinh doanh xuất nhập khẩu có lãi đúng phơng hớng, chính sách,
luật pháp của quốc gia cũng nh quốc tế.
Đặc điểm: doanh nghiệp phải tiến hành hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ,
tự chịu trách nhiệm về mọi mặt kinh doanh của mình liên quan đến quá trình nhập
khẩu. Đây là hoạt động mà doanh nghiệp phải xem xét kỹ càng, từ bớc nghiên cứu
thị trờng đến việc ký kết hợp đồng- bởi vì doanh nghiệp phải tự bỏ vốn mình ra,
chịu mọi chi phi giao dịch thị trờng, giao nhận ở kho tới chi phí vận chuyển và giao
nhận hàng hoá, chịu thuế VAT. Khi nhập khẩu tự doanh thì doanh nghiệp phải tính
kim ngạch xuất nhập khẩu và khi tiêu thụ hàng thì sẽ tính vào doanh số, do đó phải
chịu thuế.
2.3. Khung pháp lý hiện nay cho hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ ở
Việt Nam
Từ những đặc điểm đã trình bày ở trên, có thể thấy rằng không giống nh nhập
khẩu thiết bị lẻ thông thờng, công tác nhập khẩu thiết bị toàn bộ đòi hỏi cả một
khoảng thời gian rất dài để có thể hoàn tất các khâu, từ chuẩn bị nguồn vốn, chuẩn
bị dự án, lựa chọn phơng thức thực hiện đến phê duyệt, đàm phán, ký kết, tổ chức
thực hiện, và vận hành công trình. Trong suốt quá trình thực hiện, các khâu này lại
chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nớc thông qua hệ thống các văn bản pháp luật điều
chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu thiết bị toàn bộ nói riêng.
Nh vậy, hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ là một công tác phức tạp, nó đòi
hỏi phải có hệ thống văn bản pháp quy tạo điều kiện cho việc thực hiện phối hợp
nhịp nhàng giữa các ngành, các cấp có liên quan trong các giai đoạn nhập khẩu
7

công trình. Xuất phát từ yêu cầu đó, Chính phủ Việt Nam đã cho ban hành nhiều
quyết định, nghị định, thông t tạo thành khung pháp lý vững chắc cho hoạt động
nhập khẩu thiết bị toàn bộ ở Việt Nam.
+ Có thể coi Quyết định 91/TTg ngày 13/11/1992 của Thủ tớng Chính phủ và
Thông t 04/TM-ĐT ngày 30/7/1993 của Bộ Thơng mại là 2 văn bản pháp quy làm
nền cho các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ sau
này. Chúng đã góp phần thể chế hoá quá trình nhập khẩu và nâng cao hiệu quả nhập
khẩu thiết bị toàn bộ
Nếu nh quyết định 91/TTg ban hành Quy định về quản lý nhập khẩu máy
móc thiết bị bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nớc thì Thông t 04/TM-ĐT hớng dẫn
thực hiện quy định đó.Trong 2 văn bản pháp quy này có nêu định nghĩa và xác định
phạm vi hàng hoá thiết bị toàn bộ và thiết bị lẻ không chỉ bao gồm phần hàng hoá
hữu hình (máy móc, thiết bị, vật liệu v.v ) mà còn bao gồm cả phần hàng hoá vô
hình (thiết kế, giám sát, đào tạo, chuyển giao công nghệ v.v ). Từ đó nêu rõ việc
chuyển giao công nghệ là một phần của hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ.
Ngoài ra, theo quyết định 91/TTg thì Bộ thơng mại giữ vai trò chính thay nhà
nớc quản lý việc nhập khẩu, Bộ thơng mại có quyền cấp giấy phép kinh doanh nhập
khẩu thiết bị cho các doanh nghiệp; quy định cụ thể trình tự và văn bản cần thiết để
phê duyệt hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ; quy định rõ các tiêu chuẩn của
doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu thiết bị toàn bộ, thiết bị lẻ; cùng các ngành
quản lý hữu quan và chủ đầu t xử lý cụ thể khi phải nhập khẩu thiết bị đã qua sử
dụng v.v
+ Để sử dụng hiệu quả các nguồn vốn của nhà nớc đợc huy động để nhập
khẩu máy móc, thiết bị đồng thời đảm bảo quy hoạch xây dựng, áp dụng hiệu quả
công nghệ và kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, chính phủ Việt Nam đã ban hành quy
chế quản lý đầu t và xây dựng (Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999) và các
nghị định sửa đổi, bổ xung một số điều của quy chế nh nghị định 12/2000/NĐ-CP
ngày 5/5/2000 và Nghị định 07/2003/NĐ-CP ngày 30/1/2003 của Chính Phủ
+ Ngoài ra, hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ cho đến nay vẫn luôn gắn
liền với hoạt động đấu thầu vì khi lựa chọn nhà cung cấp nớc ngoài, các doanh
8

nghiệp Việt Nam hầu hết là tổ chức đấu thầu để lựa chọn đối tác thích hợp. Điều
này dẫn đến việc Chính phủ ta luôn phải bổ xung thêm những nội dung cơ bản của
công tác đấu thầu và tổ chức đấu thầu, đa ra những quy định cụ thể hơn, hệ thống
hơn, đặc biệt là công tác quản lý nhà nớc về đấu thầu
Nghị định 88/1999/ NĐ-CP ngày 4/9/1999 ban hành Quy chế đấu thầu, cùng
với Nghị Định 14/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000 của Chính Phủ- sửa đổi, bổ xung
một số điều của Quy chế đấu thầu - ra đời nhằm mục đích thống nhất quản lý các
hoạt động đấu thầu tuyển chọn t vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp và lựa chọn đối tác
để thực hiện dự án hoặc từng phần dự án trên lãnh thổ Việt nam.
+ Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả nhập khẩu máy móc thiết bị, Bộ khoa
học công nghệ và môi trờng đã ban hành một hệ thống những văn bản pháp luật nh :
Thông t số 1254/1999/TT-BKHCNMT ngày 12/7/1999 hớng dẫn thực hiện
nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 1/7/1998 của Chính Phủ quy định chi tiết về
chuyển giao công nghệ. Trong đó, có đa ra các định nghĩa về "chuyển giao công
nghệ", "tài liệu kỹ thuật", "đào tạo","các dịch vụ hỗ trợ, t vấn kỹ thuật và t vấn quản
lý kinh doanh "v.v đa ra các phơng thức thanh toán trong chuyển giao công nghệ
và quản lý chuyển giao công nghệ của nhà nớc. Đặc biệt, thông t đã nhấn mạnh
trong trờng hợp chuyển giao công nghệ đi kèm với nhập thiết bị thì phần chuyển
giao công nghệ cần lập thành một phần riêng của hợp đồng nhập khẩu thiết bị và chi
phí cho việc chuyển giao công nghệ cần tính riêng ngoài giá thiết bị
Quyết định 1091/1999/QĐ-BKHCNMT ngày 22/6/1999 ban hành quy định
kiểm tra Nhà nớc về chất lợng hàng hoá xuất nhập khẩu.Văn bản này quy định ph-
ơng thức, nội dung, thủ tục kiểm tra nhà nớc về chất lợng hàng hoá xuất khẩu, nhập
khẩu và quyền hạn, trách nhiệm của các bên liên quan trong kiểm tra nhà nớc về
chất lợng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
+ Mặt khác, hệ thống văn bản quản lý về thuế và thủ tục hải quan cũng lần lợt
ra đời, thay đổi theo hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, góp phần không nhỏ vào việc
điều chỉnh hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ theo quản lý của Nhà nớc
9

3. Vai trò của hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ đối với nền kinh tế
Việt Nam
Bớc vào thời kỳ 2001- 2010, thế và lực của nớc ta đã khác hẳn 10 năm trớc
đây, đất nớc đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng và năng lực sản
xuất đợc cải thiện đáng kể, thị trờng đợc mở rộng. Tuy nhiên, trình độ phát triển
kinh tế của nớc ta còn thấp, nguy cơ tụt hậu so với các nớc trên thế giới còn lớn, cơ
sở vật chất còn lạc hậu, trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ chuyển biến chậm,
nguồn nhân lực có kiến thức, có tay nghề còn ít, năng suất lao động xã hội tăng
chậm, GDP bình quân đầu ngời còn nhỏ bé
Để có thể khắc phục những tồn tại này, đồng thời rút ngắn khoảng cách tụt
hậu về trình độ phát triển kinh tế hàng chục năm so với một số nớc trên thế giới,
chúng ta chỉ còn cách đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
Tuy nhiên, sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc không thể chỉ đơn
thuần dựa trên khoa học kỹ thuật công nghệ lạc hậu trong nớc mà còn đòi hỏi phải
có nền công nghiệp hiện đại đủ sức trang thiết bị kỹ thuật và hàng tiêu dùng cho xã
hội . Với mức tích luỹ quá khiêm tốn của nền kinh tế quốc dân nh hiện nay thì việc
vơn lên thoát khỏi sự lạc hậu đó đòi hỏi cả một khoảng thời gian lâu dài, một khả
năng tài chính lớn và sự nỗ lực huy động tiềm năng chất xám, trong khi đó, trên
bình diện quốc tế, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ và đang trở thành lực l-
ợng sản xuất trực tiếp, đa thế giới vào thời kỳ phát triển mới " thời kỳ kinh tế tri
thức và xã hội thông tin ".
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc và phát triển kinh tế, lối thoát để có thể rút ngắn thời gian, rút ngắn
khoảng cách lại tiết kiệm đợc công sức cho những lĩnh vực mà mình có thế mạnh và
phù hợp với hoàn cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay chính là nhập khẩu thiết bị và
công nghệ từ các nớc tiên tiến. Có thể nói ngắn gọn những u thế mà nền kinh tế Việt
Nam nói chung và ngời nhập khẩu nói riêng tận dụng đợc nhờ nhập khẩu thiết bị
toàn bộ nh sau:
- Nhập khẩu thiết bị toàn bộ cho phép ngời mua có thể làm chủ kỹ thuật và
công nghệ mới, làm chủ các công nghệ và vật liệu trong các lĩnh vực của
10

nền kinh tế quốc dân mà nớc mình không có khả năng sản xuất hoặc việc
sản xuất rất tốn kém về thời gian và tiền của, từ đó tranh thủ sử dụng
những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới và sẽ dần dần
xây dựng đợc một nền sản xuất hiện đại với chi phí hợp lý.
- Việc nhập khẩu thiết bị toàn bộ giúp cho ngời mua tiết kiệm đợc quỹ thời
gian và một phần không nhỏ chi phí cho việc xây dựng các cơ quan
nghiên cứu khoa học, các viện thiết kế, phòng thiết kế chuyên môn, đào
tạo chuyên gia v.v mà đôi khi không mang lại hiệu quả mong muốn.
Thay vào đó chủ đầu t có thể tập trung đi sâu vào những lĩnh vực mà mình
có thế mạnh
- Nhập khẩu thiết bị toàn bộ là một trong những con đờng nâng cao hiệu
quả sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu
nhập quốc dân, hạn chế đợc việc phải nhập khẩu những hàng hoá là thành
phẩm của công nghệ cao từ nớc ngoài với chi phí cao
- Xây dựng nhà máy mới hoặc mở rộng quy mô nhà máy hiện tại có thể góp
phần tạo ra công ăn việc làm cho ngời lao động, đồng thời giúp cho các
cán bộ kỹ thuật và công nhân tiếp thu đợc kiến thức kỹ thuật mới cũng nh
phơng pháp quản lý tiên tiến của nớc xuất khẩu. Những u điểm trên hoàn
toàn thích hợp với mục tiêu thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nớc, chống lại nguy cơ tụt hậu, cải thiện bộ mặt kinh tế Việt Nam
II. Quy trình nhập khẩu thiết bị
Ngày nay theo quy định ở Việt Nam, hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ
bao gồm các bớc cơ bản sau:
1. Nghiên cứu thị trờng
Cũng nh các loại hàng hoá thông thờng khác, trớc khi tiến hành nhập khẩu
thiết bị toàn bộ cần thiết phải nghiên cứu thị trờng thiết bị toàn bộ. Thực chất của thị
trờng thiết bị toàn bộ là thị trờng máy móc, thiết bị và nó cũng luôn tuân theo quy
luật cung cầu hàng hoá trên thị trờng. Khi nghiên cứu thị trờng này cần chú ý một
số đặc điểm sau:
11

- Cung cầu hàng hoá trong ngắn hạn thay đổi chậm, sức ỳ lớn, không nhạy
bén linh hoạt nh những hàng hoá khác.
- Cung hàng hoá mang tính độc quyền kinh tế.
- Thời kỳ mua bán, chuyển giao, lắp đặt v.v thờng dài.
- Hiệu quả kinh tế của thiết bị toàn bộ phải trải qua một thời gian dài mới
bộc lộ hết.
Còn nội dung của nghiên cứu thị trờng thiết bị toàn bộ cũng giống nh nội
dung nghiên cứu thị trờng của một số loại hàng hoá nhập khẩu khác cụ thể nh sau :
Nghiên cứu thị trờng trong nớc: gồm các bớc sau
- Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu: khảo sát, phân tích và nghiên cứu về mặt
hàng, quy cách, phẩm chất, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, tỷ suất ngoại tệ
hàng nhập khẩu v.v
- Nghiên cứu dung lợng thị trờng và nhân tố ảnh hởng đến dung lợng thị tr-
ờng:
+ Nghiên cứu dung lợng thị trờng cần phải xác định khả năng cung cấp của
doanh nghiệp nhập khẩu cũng nh nhu cầu thật sự của khách hàng. Biết đợc dung l-
ợng thị trờng sẽ giúp doanh nghiệp có thể định hớng cho hoạt động nhập khẩu hàng
hoá của mình
+ Nhân tố ảnh hởng đến dung lợng thị trờng: cần phải đánh giá đúng mức độ
ảnh hởng của từng nhân tố, xác định nhân tố nào có ý nghĩa quyết định đến xu hớng
vận động của thị trờng từ đó xác định chính xác nhu cầu nhập khẩu mặt hàng đã lựa
chọn.
Có 3 nhóm nhân tố ảnh hởng chính đến dung lợng thị trờng đó là các
nhóm nhân tố làm cho dung lợng thị trờng biến đổi theo chu kỳ (nh đặc điểm của
sản xuất, lu thông và phân phối sản phẩm của từng thị trờng đối với mỗi loại hàng
hoá, sự vận động của t bản v.v ), các nhóm nhân tố làm cho dung lợng thị trờng biến
đổi lâu dài (nh thị hiếu, tập quán của ngời tiêu dùng, ảnh hởng của hàng hoá thay
thế, các chính sách, biện pháp của chính phủ, sự tiến bộ cuả khoa học kỹ thuật và
công nghệ), các nhóm nhân tố làm dung lợng thị trờng biến đổi tạm thời (nh thiên
tai, hạn hán, lũ lụt hoặc các hiện tợng gây ra đột biến về cung cầu)
12

- Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh: tức là việc nghiên cứu tình hình hoạt động,
thị phần, chiến lợc kinh doanh và khả năng thay đổi chiến lợc kinh doanh
của, các điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ cạnh tranh trong cùng một
mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trờng
- Nghiên cứu sự vận động của môi trờng kinh doanh: để nắm bắt quy luật
vận động của môi trờng kinh doanh từ đó có các biện pháp hoặc chính
sách tơng ứng. Môi trờng kinh doanh gồm môi trờng tự nhiên, văn hoá, xã
hội, chính trị, pháp luật .v.v có tác động lớn, chi phối hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp
Nghiên cứu thị trờng quốc tế: doanh nghiệp cần xem xét các yếu tố về
cung cầu, giá cả, cạnh tranh v.v đặc biệt quan tâm đến các thông tin về
nguồn hàng và giá cả hàng hoá
- Nguồn cung cấp hàng hoá: nắm vững đợc tình hình các nguồn cung cấp
trên thị trờng thế giới, nghiên cứu đặc điểm các nớc cung cấp hàng hoá
cho doanh nghiệp để xem xét mức độ ổn định và an toàn của nguồn cung
cấp hàng hóa nh chính sách xuất khẩu của nớc cung cấp là u tiên hay hạn
chế, tình hình chính trị của quốc gia đó có ổn định không, vị trí địa lý của
quốc gia cung cấp có thuận tiện cho giao dịch mua bán, có tiết kiệm đợc
chi phí vận chuyển, bảo hiểm trong quá trình nhập khẩu của doanh nghiệp
không
- Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trờng thế giới: doanh nghiệp phải dự
đoán đợc xu thế biến động của giá cả dựa trên việc đánh giá hiệu quả
nghiên cứu tình hình biến động của từng thị trờng trên các nhân tố nh lạm
phát, cung cầu, giá cả v.v cộng với những hiểu biết và kinh nghiệm về
quy luật thị trờng của doanh nghiệp. Từ đó, doanh nghiệp tiến hành so
sánh và phân loại các báo giá mặt hàng để lựa chọn đợc nhà cung cấp
thích hợp nhất cho doanh nghiệp
2. Lựa chọn đối tác và hình thức giao dịch
- Để lựa chọn đợc đối tác giao dịch phù hợp nhất với mình doanh nghiệp
cần phải nghiên cứu:
13

+ Tình hình sản xuất kinh doanh, phạm vi hoạt động, lĩnh vực kinh doanh, uy
tin, chất lợng, giá cả, khả năng về tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật của đối tác
+ Xem xét đến môi trờng chính trị của nớc đối tác, vị trí địa lý có cho phép ta
đánh giá đợc các u thế về địa lý của phía đối tác để giảm thiểu chi phí vận tải, bảo
hiểm
- Sau khi đã lựa chọn đợc đối tác giao dịch, doanh nghiệp tùy vào điều kiện
của mình để lựa chọn hình thức giao dịch phù hợp. Có 2 hình thức giao
dịch là giao dịch trực tiếp với ngời bán và giao dịch gián tiếp với ngời bán
qua các văn phòng đại diên, các công ty trung gian
- Sau đó, doanh nghiệp sẽ lập dự án (báo cáo) tiền khả thi. Báo cáo tiền khả
thi là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền thẩm định và ra quyết định đầu
t và cấp giấy phép đầu t.
Sau khi thẩm định báo cáo tiền khả thi, ngời ta sẽ tiến hành lập luận chứng
kinh tế kỹ thuật hay dự án (báo cáo) khả thi.Về cơ bản, nội dung của báo cáo khả
thi tơng tự nh báo cáo tiền khả thi nhng mức độ chi tiết cao hơn nhiều. Đây thực
chất là sự cụ thể hoá báo cáo tiền khả thi.
Đối với các dự án thông thờng thì chỉ cần lập báo cáo khả thi là đủ. Đối với
các công trình phức tạp và quan trọng thì ngời ta có thể lập cả báo cáo tiền khả thi
và báo cáo khả thi. Nếu việc lập báo cáo tiền khả thi cho thấy việc đầu t xây dựng
công trình này là hoàn toàn hợp lý thì sẽ bắt đầu lập báo cáo khả thi. Sở dĩ nh vậy vì
một khi báo cáo khả thi đã đợc thẩm định và thông qua thì sẽ bắt đầu tiến hành công
việc thiết kế.
Mặc dù có khác nhau về tên gọi và cách phân định các phần cụ thể bên trong
nhng luật chứng kinh tế kỹ thuật và báo cáo khả thi có thể coi tơng tự nh nhau. Đây
chỉ là cách gọi khác nhau cho công việc tìm hiểu tính hợp lý và các giải pháp của
việc xây dựng một công trình thiết bị toàn bộ.
3. Đàm phán, ký kết hợp đồng nhập khẩu hàng hoá
Đàm phán : có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của nhiều
doanh nghiệp. Đàm phán tạo điều kiện cho hai bên hiểu biết nhau rõ hơn
để dễ dàng đi đến thống nhất những bất đồng, những tồn tại, những vớng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét