Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

21 Nghiên cứu việc triển khai kiểm toán nội bộ đối với các doanh nghiệp nhà nước

Đề án môn học Lớp Kiểm toán 40B
lại lỏng lẻo, thiếu hiệu quả với lĩnh vực hoạt động khác, và tại những lĩnh vực
hoạt động trên thờng tồn tại những sai sót, gian lận mà các nhà quản lý không
phát hiện đợc. Một bộ phận kiểm toán nội bộ đợc thành lập sẽ giúp các nhà
quản lý đa ra các thủ tục quy trình kiểm soát riêng cho từng lĩnh vực hoạt động
để hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót và gian lận có thể có.
2.4. Năng lực, trình độ của nhân viên.
Ngay ở những doanh nghiệp có quy mô, phạm vi hoạt động lớn và có
nhiều lĩnh vực hoạt động thì tất cả các thông tin đều có thể tin cậy nếu nh doanh
nghiệp có một đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn cao, t cách đạo
đức tốt. Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có đội ngũ cán bộ nhân
viên có đủ những điều kiện trên.
Đối với các doanh nghiệp này thì các thông tin về quá trình hoạt động luôn
ẩn chứa những sai sót rủi ro do trình độ năng lực cũng nh đạo đức nghề nghiệp
yếu kém của các nhân viên gây ra. Bộ phận kiểm toán nội bộ trong quá trình
hoạt động có thể phát hiện ra các sai sót và rủi ro này và có những kiến nghị,
giải pháp nhằm ngăn ngừa những sai phạm trên.
3. Chức năng và nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ
Chức năng của kiểm toán nội bộ là kiểm tra đánh giá tính liên tục, tính
hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ cũng nh chất lợng
thực thi của các hoạt động trong doanh nghiệp.
Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ là:
- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ, tài liệu, số liệu kế toán,
việc chấp hành chế độ, thể lệ kế toán tài chính của nhà nớc.
- Kiểm tra và xác nhận mức độ trung thực, hợp lý của báo cáo quyết toán
do kế toán và các bộ phận khác trong doanh nghiệp lập ra.
- Kiểm tra và xác nhận giá trị vốn góp của doanh nghiệp và các đối tác
tham gia liên doanh với doanh nghiệp. Kiểm tra xác nhận tính trung thực hợp lý
đầy đủ của số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của đơn vị liên doanh.
- Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lý của hệ thống kiểm soát nội bộ
trong đó có hệ thống kế toán, giám sát sự hoạt động và tham gia hoàn thiện
chúng.
5
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 40B
- Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lý của các quy chế kiểm soát nội bộ
đồng thời có kiến nghị hoàn thiện các quy chế này.
- Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ trên, kiểm toán nội bộ có trách
nhiệm hớng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ kế toán và các cán bộ nghiệp vụ khác có
liên quan, đề xuất các quyết định quản lý, xử lý về tài chính kế toán và các nội
dung khác.
Nh vậy lĩnh vực chủ yếu của kiểm toán nội bộ là kiểm toán hoạt động và
kiểm toán tuân thủ chứ không phải là kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp.
Kiểm toán nội bộ chỉ soát xét, kiểm tra các thông tin tài chính giúp chủ doanh
nghiệp ký duyệt báo cáo tài chính mà không thực hiện kiểm toán báo cáo tài
chính theo đúng nghĩa của từ này (gồm kiểm tra và xác nhận báo cáo tài chính).
Kiểm toán nội bộ về nguyên tắc chỉ chịu trách nhiệm đối với chủ doanh nghiệp
mà không có trách nhiệm đối với các đối tợng sử dụng thông tin ở bên ngoài
doanh nghiệp. Vì vậy đối với doanh nghiệp nhà nớc với chủ sở hữu là nhà nớc,
kiểm toán nội bộ chịu trách nhiệm trớc giám đốc cũng có nghĩa là chịu trách
nhiệm với nhà nớc. Vì lẽ này các kiểm toán viên nội bộ tiến hành kiểm tra báo
cáo tài chính giúp ban giám đốc tự chịu trách nhiệm về tính trung thực, hợp lý
của báo cáo tài chính đối với nhà nớc nh quy định trong Nghị định 59/CP và
thông t 73/TC/TCDN là hoàn toàn hợp lý.
Ngoài ra khi xem xét chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ, các đặc
trng sau đây của kiểm toán nội bộ cần đợc quán triệt sâu sắc để hớng dẫn các
hành động trong thực tiễn.
Một là: Kiểm toán nội bộ có tính chất bắt buộc và cỡng chế theo yêu cầu
của ban giám đốc đối với các đơn vị, các hoạt động thuộc quyền. Kiểm toán nội
bộ có thẩm quyền kiểm tra đối với các hoạt động của đơn vị chính cũng nh đơn
vị phụ thuộc. Thẩm quyền này không chỉ đối với lĩnh vực kế toán tài chính
mà bao gồm mọi lĩnh vực trong hoạt động của doanh nghiệp. Đây là tiêu chí cơ
bản để nói rằng kiểm toán nội bộ khác với kiểm tra kế toán nội bộ hay nói cách
khác kiểm toán nội bộ có phạm vi rộng lớn hơn rất nhiều so với kiểm tra kế
toán nội bộ.
Hai là: Theo yêu cầu quản lý của ban giám đốc, kiểm toán nội bộ là hoạt
động không thu phí đối với các đơn vị, bộ phận trực thuộc đợc kiểm toán.
6
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 40B
Ba là: Cũng giống nh kiểm toán nhà nớc, kiểm toán nội bộ có mục đích
lớn là thông qua kiểm toán để cải tiến và hoàn thiện các hoạt động ở doanh
nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, hiệu quả sử dụng vốn và hiệu
quả sản xuất kinh doanh, khắc phục những khâu yếu, giúp ban giám đốc phát
hiện, ngăn chặn và xử lý các gian lận, sai sót trong hoạt động của doanh nghiệp.
Bốn là: Tuy kiểm toán nội bộ đợc tổ chức độc lập với những bộ phận đợc
kiểm tra nhng kiểm toán nội bộ là một bộ phận của đơn vị, không thể độc lập
hoàn toàn với đơn vị đó đợc. Vì vậy các báo cáo của kiểm toán nội bộ mặc dù
đợc ban giám đốc doanh nghiệp tin tởng nhng không có hoặc ít có giá trị hợp lý
ở bên ngoài.
4. Cơ cấu của bộ phận kiểm toán nội bộ.
Bộ máy kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp có quy mô lớn (thờng là
tổng công ty) đợc xây dựng bao gồm:
- Trởng phòng kiểm toán
- Phó trởng phòng kiểm toán (có thể có hoặc không)
- Nhóm trởng kiểm toán
- Các kiểm toán viên nội bộ.
a. Trởng phòng kiểm toán nội bộ.
Trởng phòng kiểm toán nội bộ là ngời đứng đầu phòng kiểm toán nội bộ
doanh nghiệp. ở các doanh nghiệp nhà nớc, trởng phòng kiểm toán nội bộ do
tổng giám đốc bổ nhiệm sau khi có ý kiến bằng văn bản của bộ chủ quản doanh
nghiệp.
Nhiệm vụ và quyền hạn của trởng phòng kiểm toán nội bộ:
- Chủ động xây dựng kế hoạch và lập chơng trình kiểm toán hàng năm.
- Tổ chức các cuộc kiểm toán trong nội bộ doanh nghiệp theo nhiệm vụ, kế
hoạch và chơng trình dự án đã đợc tổng giám đốc phê duyệt.
- Quản lý, bố trí phân công công việc cho kiểm toán viên và thực hiện các
biện pháp đào tạo, huấn luyện kiểm toán viên, đảm bảo không ngừng nâng cao
trình độ và năng lực của các kiểm toán viên cũng nh bộ máy kiểm toán nội bộ.
7
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 40B
- Đề xuất với tổng giám đốc về việc đề bạt, bổ nhiệm, khen thởng kỷ luật
đối với kiểm toán viên nội bộ.
- Kiến nghị các thay đổi về chính sách, đờng lối nhằm nâng cao hiệu quả
trong công tác quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp.
- Khi phát hiện có hiện tợng vi phạm pháp luật hoặc những quyết định trái
với chủ trơng, chính sách chế độ của doanh nghiệp phải có trách nhiệm báo cáo
các cấp có thẩm quyền đồng thời nghiên cứu đa ra các giải pháp để giải quyết
kịp thời.
b. Nhóm trởng kiểm toán
Nhóm trởng kiểm toán là cấp trên của các kiểm toán viên thờng có nhiệm
vụ trợ lý, giám sát quá trình tiến hành các cuộc kiểm toán, lãnh đạo một nhóm
các nhân viên kiểm toán, xem xét lại công việc của các thành viên trong nhóm,
là ngời giữ liên lạc giữa bộ phận đợc kiểm toán và bộ phận kiểm toán, giải
quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm toán.
c. Kiểm toán viên nội bộ.
Các kiểm toán viên nội bộ là những thành viên không thể thiếu trong bộ
phận kiểm toán. Theo quy định tại QĐ 832/TC/CĐKT ngày 28 tháng 10 năm
1997 của Bộ tài chính, ngời đợc bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ làm kiểm toán
viên nội bộ tại các doanh nghiệp nhà nớc phải có đủ các tiêu chuẩn sau:
Một là: có phẩm chất trung thực, khách quan cha có tiền án tiền sự, cha bị
kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên do có các sai phạm trong quản lý kinh tế, tài
chính, kế toán.
Hai là: Đã tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế, tài chính kế toán hoặc quản
trị kinh doanh.
Ba là: Đã công tác thực tế trong lĩnh vực quản lý tài chính kế toán từ năm
năm trở lên trong đó có ít nhất ba năm làm việc tại doanh nghiệp nơi đợc giao
nhiệm vụ kiểm toán viên.
Ban giám đốc có quyền đánh giá và lựa chọn kiểm toán viên nội bộ cho
doanh nghiệp dựa trên phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn của kiểm
toán viên.
Trách nhiệm của kiểm toán viên nội bộ:
8
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 40B
- Kiểm toán viên nội bộ thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch kiểm toán đã đ-
ợc tổng giám đốc phê duyệt và chịu trách nhiệm trớc tổng giám đốc về chất l-
ợng, về tính trung thực hợp lý của báo cáo kiểm toán và những thông tin tài
chính kế toán đã đợc kiểm toán.
- Trong quá trình thực hiện công việc, kiểm toán viên nội bộ phải tuân thủ
luật pháp, tuân thủ các nguyên tắc chuẩn mực nghề nghiệp và kiểm toán và các
chính sách chế độ của nhà nớc.
- Kiểm toán viên nội bộ phải đảm bảo tính khách quan, đề cao tính độc lập
trong hoạt động kiểm toán, không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, cập
nhật kiến thức, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp.
- Tuân thủ nguyên tắc bảo mật số liệu, tài liệu đã đợc kiểm toán.
Quyền hạn của kiểm toán viên nội bộ:
- Đợc độc lập về chuyên môn nghiệp vụ, không bị chi phí hoặc can thiệp
khi thực hiện hoạt động kiểm toán và trình bày ý kiến trong báo cáo kiểm toán.
- Có quyền yêu cầu các bộ phận cá nhân đợc kiểm toán và các bộ phận liên
quan cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho công tác kiểm toán.
- Đợc ký xác nhận trên báo cáo kiểm toán nội bộ do cá nhân tiến hành
hoặc chịu trách nhiệm thực hiện theo nhiệm vụ kiểm toán đợc giao.
- Nêu các ý kiến đề xuất, các giải pháp, kiến nghị cho việc cải tiến, hoàn
thiện công tác quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ngăn ngừa các
sai sót, gian lận và các việc làm sai trái trong doanh nghiệp.
- Đợc bảo lu ý kiến đã trình bày trong báo cáo kiểm toán nội bộ, đợc
quyền đề nghị cơ quan chức năng của nhà nớc xem xét lại quyết định của tổng
giám đốc về việc bãi nhiễm kiểm toán viên.
5. Mô hình tổ chức của kiểm toán nội bộ.
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách hữu hiệu, bộ phận kiểm toán
nội bộ phải trực thuộc cấp cao nhất trong doanh nghiệp. ở các doanh nghiệp
không có hội đồng quản trị, bộ phận kiểm toán nội bộ thờng đợc tổ chức trực
thuộc ban giám đốc. ở các nớc Châu âu trong các công ty lớn, bộ phận kiểm
toán nội bộ trực thuộc uỷ ban kiểm toán hội đồng quản trị. Uỷ ban này gồm một
số thành viên của hội đồng quản trị nhng không giữ chức vụ hay đảm nhận một
9
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 40B
công việc nào trong công ty. Tính chất độc lập giúp cho uỷ ban kiểm toán thực
hiện tốt chức năng giám sát của mình đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Mô hình hoạt động ở các tổng công ty đợc thành lập theo nghị định 90/CP
và 91/CP của nớc ta khác so với các nớc trên. Trong mỗi tổng công ty còn có
ban kiểm soát trực thuộc hội đồng quản trị. Ngoài các thành viên chuyên trách,
hội đồng quản trị còn có một số thành viên kiêm nhiệm, trong bàn soát ngoài tr-
ởng ban kiểm soát thì phần lớn các uỷ viên là thành viên kiêm nhiệm trong đó
có thành viên không thuộc tổng công ty. Với bộ máy nh vậy ban kiểm soát khó
lòng thực hiện tốt các nhiệm vụ và trách nhiệm theo quy định của nhà nớc đợc
ban hành theo điều lệ mẫu của tổng công ty nhà nớc. Vì vậy theo em ở các tổng
công ty đợc thành lập theo nghị định 90/CP và 91/CP, bộ phận kiểm toán nội bộ
phải trực thuộc hội đồng quản trị mà trực tiếp là ban kiểm soát.
Dới đây em xin đa ra mô hình bộ phận kiểm toán nội bộ tại các doanh
nghiệp nhà nớc.
10
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 40B
Ngoài ra để thực hiện một cuộc kiểm toán đạt hiệu quả cao nhất thì việc
xác định số lợng các nhân viên kiểm toán là rất quan trọng, số lợng nhân viên
kiểm toán có thể đợc xác định qua công thức sau đây:
= ai x t + b
Trong đó:
+ ai: Thời gian cần thiết để tiến hành kiểm toán một hoạt động hoặc một
bộ phận của doanh nghiệp bao gồm cả thời gian kiểm toán dự tính, thời gian đi
lại (nếu có).
+ t: Tần suất kiểm toán các bộ phận hoặc hoạt động tơng ứng/năm.
+ b: Thời gian dự kiến phát sinh cho các hoạt động đào tạo, nghỉ ốm, nghỉ
phép, hội họp
+ k: Thời gian làm việc trung bình của một kiểm toán viên/năm
+ n: Tổng số bộ phận hoặc hoạt động cần kiểm toán
6. Mối quan hệ giữa kiểm toán nội bộ với các cơ quan quản lý chức
năng của nhà nớc.
11
n
i = 1
Giám đốc hoặc hội
đồng quản trị
Trởng bộ phận kiểm
toán
Trởng nhóm
kiểm toán
Kiểm toán
viên nội bộ
Kiểm toán
viên nội bộ
Kiểm toán
viên nội bộ
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 40B
Khác với các loại hình doanh nghiệp khác, ở các doanh nghiệp nhà nớc bộ
phận kiểm toán nội bộ sẽ có quan hệ mật thiết với các cơ quan tài chính của nhà
nớc. ở Vơng quốc Anh, hoạt động của kiểm toán viên nội bộ tại các đơn vị tài
chính sử dụng chi tiêu vốn và kinh phí cuả ngân sách nhà nớc do Bộ tài chính
quản lý. Bộ tài chính của Vơng quốc Anh còn biên soạn cả các tài liệu hớng dẫn
nghiệp vụ chuyên môn cho kiểm toán viên nội bộ thuộc lĩnh vực nhà nớc quản
lý. Tơng tự nh vậy, Bộ tài chính Việt Nam cũng có vai trò trách nhiệm rất lớn
đối với việc tổ chức và hoạt động của kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp
nhà nớc, có thể coi kiểm toán nội bộ là chân rết của Bộ tài chính để quản lý
hệ thống ngay tại các đơn vị cơ sở.
12
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 40B
Phần II. Những thuận lợi và khó khăn mà các
doanh nghiệp nhà nớc gặp phải khi tiến hành triển
khai kiểm toán nội bộ
So với hai loại hình kiểm toán nhà nớc và kiểm toán độc lập thì kiểm toán
nội bộ ra đời muộn hơn. Tuy mới ra đời nhng hoạt động kiểm toán nội bộ đã đạt
đợc những thành tựu không thể phủ nhận, đóng góp rất lớn vào sự tồn tại và
phát triển của các doanh nghiệp nhà nớc trong cơ chế thị trờng.
Tác dụng đầu tiên phải kể đến đó là sự ra đời của kiểm toán nội bộ đã góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống kế toán về hệ thống kiểm soát
nội bộ doanh nghiệp. Trong điều kiện nớc ta hiện nay, số cán bộ làm việc với t
cách là các kế toán viên có bằng đại học chính quy còn thấp và cha đợc chuẩn
hoá, hơn nữa do nớc ta có sự chuyển đổi cơ chế kinh tế khiến cho các mối quan
hệ kinh tế, chế độ kế toán thay đổi nhiều lần cụ thể là vào tháng 12/1995 nhà n-
ớc ta ban hành hệ thống kế toán tài chính doanh nghiệp mới, đảm bảo yêu
cầu quản lý vĩ mô của nhà nớc, hoà nhập với thông lệ kế toán phổ biến trên thế
giới trong đó có tính đến điều kiện cụ thể của Việt Nam, trong khi đó hoạt động
kiểm tra kiểm soát cha chuyển hớng kịp thời dẫn đến tình trạng hoạt động kế
toán trong các doanh nghiệp nhà nớc còn nhiều lộn xộn. Chính sự ra đời của
kiểm toán mà trực tiếp là kiểm toán nội bộ đã góp phần đa công tác kế toán tài
chính của các doanh nghiệp nhà nớc vào nề nếp, hớng dẫn nghiệp vụ cho các
cán bộ làm công tác này.
Ngoài ra, kiểm toán nội bộ ra đời với mục đích đánh giá tính trung thực
của các thông tin kinh tế tài chính đã giúp cho giám đốc doanh nghiệp có những
nhận định đúng đắn về tình hình hoạt động của đơn vị mình. Các thông tin đó
không chỉ bao gồm các thông tin trên bảng khai tài chính mà còn là các thông
tin trong mọi hoạt động của doanh nghiệp từ việc tiếp nhận vốn đến những
thông tin trong hoạt động kinh doanh và hoạt động quản lý. Điển hình tại tổng
công ty xây dựng Sông Đà, bộ phận kiểm toán nội bộ qua các cuộc kiểm toán
đã giúp cho ban giám đốc khắc phục đợc những thiếu sót nhằm nâng cao hiệu
quả trong công tác quản lý nói chung và công tác quản lý tài chính nói riêng
làm cho vốn của công ty không những bị thất thoát mà còn không ngừng tăng
13
Đề án môn học Lớp Kiểm toán 40B
trởng. Qua các cuộc kiểm toán, bộ phận kiểm toán nội bộ đã phát hiện thấy một
số thành viên chi sai nguyên tắc, dùng tiền của khoản này chi cho khoản kia
làm thất thoát ngân sách gần 1 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, bộ phận kiểm toán nội bộ ra đời đã làm hạn chế rất nhiều
những gian lận và sai sót của các cán bộ công nhân viên khiến cho hiệu quả
hoạt động của các doanh nghiệp tăng đáng kể.
Tuy có nhiều tác dụng tích cực nh vậy nhng cho đến nay việc triển khai
kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp nhà nớc còn rất chậm. Ngoại trừ các
tổng công ty 90, 91 đã chính thức đa kiểm toán nội bộ vào hoạt động còn tại
các doanh nghiệp khác hoạt động kiểm toán nội bộ cha có hoặc có thể cũng chỉ
là hình thức chứ hoạt động cha hiệu quả. Nguyên nhân của tình trạng này thì có
nhiều bởi vì nh ở phần I đã phân tích, tiêu chuẩn để thiết lập kiểm toán nội bộ
phụ thuộc vào quy mô phạm vi hoạt động, lĩnh vực hoạt động và trình độ năng
lực của nhân viên. Trong khuôn khổ nhỏ bé của bài đề án môn học này em chỉ
xin đa ra và phân tích thực trạng một số nhân tố mà theo suy nghĩ của em
những vấn đề còn tồn tại trong các nhân tố này là nguyên nhân cản trở việc tổ
chức triển khai kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp nhà nớc.
1. Về mặt cơ sở pháp lý.
Bộ phận kiểm toán nội bộ đã phát triển cực nhanh ở Mỹ cũng nh ở Châu
Âu từ những năm 60. Sự phát triển này đã đợc khuyến khích bởi sự thành lập
của tổ chức kiểm toán nội bộ (IIA) năm 1941 tại New York, tổ chức này đã xác
định bản chất, mục tiêu và phạm vi hoạt động của bộ phận kiểm toán nội bộ. Tổ
chức kiểm toán nội bộ là thành viên của liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) và
INTOSAI.
Tại Việt Nam thì phải đến năm 1996, thuật ngữ kiểm toán nội bộ mới xuất
hiện trong các văn bản của nhà nớc. Sau nghị định số 59/CP ngày 03/10/1996
của chính phủ ban hành quy định quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh
đối với các doanh nghiệp nhà nớc ngày 12tháng 11 năm 1996, Bộ tài chính đã
ra thông t số 73/TC/TCDN nhằm hớng dẫn lập, công bố công khai báo cáo tài
chính và kiểm tra báo cáo tài chính hàng năm. ở thông t này quy định bắt buộc
các doanh nghiệp nhà nớc phải thờng xuyên tự tổ chức kiểm toán nội bộ trong
doanh nghiệp. Báo cáo tài chính của doanh nghiệp phải đợc kiểm toán và có xác
nhận đã đợc kiểm toán của kiểm toán nội bộ hoặc kiểm toán độc lập.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét