Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Thông tư 09 TC/NSNN-1997 hướng dẫn phân cấp, lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Nhà nước do Bộ Tài chính ban hành

chưa có điều kiện quyết định tỷ lệ cụ thể cho từng xã, thị trấn thì cũng có thể quy định một tỷ lệ để lại
thống nhất chung cho các xã thuộc tỉnh. Tỷ lệ này có thể phân chia theo loại hình xã đồng bằng, xã trung
du, xã miền núi hoặc phân theo loại huyện (huyện đồng bằng thì các xã thuộc huyện được coi như xã đồng
bằng, huyện miền núi thì các xã thuộc huyện được coi như xã miền núi ). Trong 4 khoản thu phân chia, có
thể xác định tỷ lệ chung cho cả 4 khoản hoặc tỷ lệ riêng cho từng khoản.
- Đối với cấp huyện có thể phân ra:
+ Từng huyện được quy định một tỷ lệ riêng nhưng có thể được áp dụng một tỷ lệ chung cho các khoản thu
được phân chia hoặc theo vị trí từng khoản thu có thể áp dụng mỗi khoản một tỷ lệ cho phù hợp.
+ Đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh, ngoài các khoản thu phân chia nêu trên, còn được phân chia theo tỷ
lệ phần trăm (%) về thuế doanh thu, thuế lợi tức, lệ phí trước bạ thu trên địa bàn. Tỷ lệ này được áp dụng
chung đối với 3 khoản thu được phân chia và có thể cùng hoặc khác với tỷ lệ phân chia về thuế sử dụng đất
nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, tiền sử dụng đất hoặc mỗi khoản một tỷ lệ,
nhưng tối đa không được vượt quá tỷ lệ phần trăm (%) phân chia về thuế doanh thu, thuế lợi tức Chính phủ
giao cho tỉnh và tổng các khoản thu (các khoản thu 100% và các khoản thu phân chia mà thị xã, thành phố
thuộc tỉnh được hưởng) không được vượt quá nhiệm vụ chi được giao.
2.2.2. Trường hợp Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân huyện quyết định tỷ lệ phân chia cho
từng xã:
Căn cứ tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách cấp tỉnh với huyện, Uỷ ban nhân dân
huyện quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách huyện với ngân sách từng xã.
Khi xác định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia về thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế nhà, đất; thuế chuyển
quyền sử dụng đất; tiền sử dụng đất phải bảo đảm tổng mức phân chia cho ngân sách cấp huyện và cấp xã
không được vượt quá mức quy định cho huyện về 4 khoản thu này.
Việc xác định tỷ lệ cụ thể cho từng xã hoặc nhóm xã được thực hiện theo quy định tại điểm 2.2.1 của
Thông tư này.
2.3. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương được xác
định trên cơ sở các khoản thu 100% (không bao gồm số bổ sung) và dự toán chi.
3. Số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới bao gồm 2 loại:
- Số bổ sung để cân đối ngân sách gồm số bổ sung ổn định trong suốt thời kỳ ổn định và số bổ sung tăng
thêm hàng năm trong trường hợp có trượt giá.
- Số bổ sung theo mục tiêu.
3.1. Số bổ sung ổn định trong suốt thời kỳ ổn định chỉ tính cho các tỉnh, huyện, xã có các nguồn thu được
phân cấp không đảm bảo nhiệm vụ chi được giao và được xác định trong năm đầu của thời kỳ ổn định cụ
thể:
- Bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách từng tỉnh:
M

c
b

s
u
n
g
=
Tổ
ng
số
chi
củ
a
ng
ân

ch

c
cấ
p
chí
nh
qu
-
Tổ
ng
số
các
kh
oản
thu
ngâ
n
sác
h
các
cấp
chí
nh
qu
yền
+
Tổ
ng
số
các
kh
oả
n
thu
ph
ân
chi
a
the
o
tỷ
lệ
(%
+
Tổ
ng
số
các
kh
oả
n
thu
ph
ân
chi
a
the
o
tỷ
lệ
(%


yền địa
phương
(không bao
gồm số bổ
sung)
địa phương được
hưởng 100%
(không bao gồm
số bổ sung)
) giữa ngân
sách các cấp
chính quyền địa
phương được
hưởng
) giữa ngân sách
trung ương và
ngân sách tỉnh
được hưởng mở
rộng đến 100%

- Bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh cho ngân sách từng huyện:

Mức bổ
sung =
Tổng số chi ngân
sách cấp huyện và
cấp xã thuộc địa bàn
huyện (không bao
gồm số bổ sung)
-
Tổng số các khoản
thu ngân sách cấp
huyện và cấp được
hưởng 100% (không
bao gồm số bổ sung)
+
Tổng số các khoản thu
ngân sách cấp huyện và
cấp xã được hưởng theo tỷ
lệ (%) phân chia giữa
ngân sách các cấp chính
quyền địa phương

Riêng đối với các thị xã, thành phố thuộc tỉnh còn phải trừ (-) thêm tổng số các khoản thu ngân sách cấp thị
xã, thành phố được hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) phân chia với ngân sách cấp tỉnh về lệ phí trước bạ,
thuế doanh thu, thuế lợi tức thu trên địa bàn.
- Bổ sung từ ngân sách cấp huyện cho ngân sách từng xã, phường, thị trấn: Uỷ ban nhân dân huyện trình
Hội đồng nhân dân cấp huyện quyết định sau khi đã báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh phương án cân đối ngân
sách xã, phường, thị trấn nhằm đảm bảo cân đối chung.
Mức bổ
sung =
Tổng số chi
của ngân
sách cấp xã -
Tổng số các khoản thu
ngân sách cấp xã được
hưởng 100% (không
bao gồm số bổ sung)
+
Tổng số các khoản thu ngân sách
cấp xã được hưởng theo tỷ lệ
(%) phân chia giữa ngân sách
các cấp chính quyền địa phương
3.2. Số bổ sung tăng thêm hàng năm trong trường hợp có trượt giá để cân đối ngân sách:
Hàng năm, trong trường hợp có trượt giá, căn cứ vào số bổ sung cân đối năm trước được giao, Chính phủ
quyết định điều chỉnh tăng số bổ sung cho ngân sách từng tỉnh theo một phần trượt giá. Mức bổ sung tăng
thêm tuỳ thuộc vào khả năng ngân sách Trung ương và được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) thống nhất
chung trên mức trượt giá do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Căn cứ vào số bổ sung tăng thêm từ ngân sách Trung ương và tình hình cụ thể ở địa phương, Uỷ ban nhân
dân tỉnh quyết định điều chỉnh tăng số bổ sung cho ngân sách từng huyện và Uỷ ban nhân dân huyện quyết
định điều chỉnh tăng số bổ sung cho ngân sách từng xã, phường, thị trấn theo một phần trượt giá.
Các tỉnh, các huyện, không được cấp trên điều chỉnh tăng số bổ sung theo một phần trượt giá do năm trước
không thuộc diện bổ sung, phải chủ động sử dụng ngân sách cấp mình điều chỉnh tăng số bổ sung theo một
phần trượt giá cho ngân sách cấp dưới.
3.3. Ngoài bổ sung cân đối ngân sách theo các điểm 3.1; 3.2 nêu trên, trong một số trường hợp cụ thể còn
có bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện một số mục tiêu nhất định như: Bổ
sung để thực hiện các nhiệm vụ, dự án được xác định, bổ sung vốn xây dựng cơ bản cho một số công trình
quan trọng, bổ sung để khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt, Đối với số bổ sung theo mục tiêu được giao
hàng năm tuỳ theo khả năng ngân sách cấp trên và yêu cầu về mục tiêu cụ thể ở từng tỉnh, huyện, xã. Các
cấp chính quyền, các đơn vị không được sử dụng phần kinh phí trên vào các công việc khác ngoài mục tiêu
đã được chỉ định.
4. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính quyền và số bổ sung từ ngân
sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 đến 5 năm nên đối với các năm trong kỳ ổn định,
các cấp chính quyền địa phương căn cứ vào nguồn thu và nhiệm vụ chi được phân cấp, tỷ lệ phần trăm (%)
phân chia các khoản thu và mức bổ sung từ ngân sách cấp trên, chế độ thu, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi
ngân sách và các yêu cầu về phát triển kinh tế xã hội cụ thể của địa phương, Uỷ ban nhân dân các cấp trình
Hội đồng nhân dân cùng cấp dự toán thu, chi ngân sách và chủ động quản lý, điều hành dự toán thu chi
ngân sách đã được Hội đồng nhân dân phê duyệt. Chỉ trong một số trường hợp có biến động lớn về thu chi
ngân sách mới điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu và số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho
ngân sách cấp dưới.
III. XÂY DỰNG DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HÀNG NĂM
1. Công tác hướng dẫn lập dự toán ngân sách nhà nước và thông báo số kiểm tra dự toán ngân sách nhà
nước năm:
1.1. Căn cứ chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự
toán ngân sách nhà nước năm sau, Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời
hạn lập dự toán ngân sách nhà nước và thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách nhà nước cho các Bộ,
cơ quan Trung ương và các tỉnh.
1.2. Các Bộ, cơ quan Trung ương, căn cứ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướng dẫn, số kiểm
tra về dự toán ngân sách của Bộ Tài chính và căn cứ yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của Bộ, cơ quan, của ngành,
hướng dẫn các đơn vị trực thuộc và Uỷ ban nhân dân các tỉnh lập dự toán ngân sách thuộc phạm vi quản lý
và dự toán ngân sách ngành; thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc.
1.3. Uỷ ban nhân dân cấp trên căn cứ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư hướng dẫn, số kiểm tra
về dự toán ngân sách của Bộ Tài chính và hướng dẫn của các Bộ, cơ quan Trung ương, căn cứ vào định
hướng phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của địa phương, căn cứ khả năng cân đối ngân
sách địa phương, hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc và Uỷ
ban nhân dân cấp dưới lập dự toán thu, chi ngân sách địa phương.
1.4. Các Bộ, cơ quan Trung ương, Uỷ ban nhân dân các cấp, khi thông báo số kiểm tra về dự toán ngân
sách nhà nước cho các đơn vị trực thuộc và Uỷ ban nhân dân cấp dưới về cơ bản khi tổng hợp lại số thu
không thấp hơn số kiểm tra về thu; số chi phải phù hợp với tổng mức và cơ cấu; đối với ngân sách các cấp
chính quyền địa phương, số kiểm tra về dự toán ngân sách thông báo cho các đơn vị trực thuộc và Uỷ ban
nhân dân cấp dưới phải phù hợp với nguồn thu được hưởng và số kiểm tra cấp trên thông báo.
1.5. Thẩm quyền và nội dung thông báo số kiểm tra dự toán ngân sách:
- Bộ Tài chính thông báo số kiểm tra dự toán ngân sách, kể cả số kiểm tra dự toán chi từ nguồn kinh phí uỷ
quyền (nếu có), cho các Bộ, cơ quan Trung ương và Uỷ ban nhân dân các tỉnh.
- Các Bộ, cơ quan Trung ương, Uỷ ban nhân dân các cấp thông báo số kiểm tra dự toán ngân sách, kể cả số
kiểm tra dự toán chi từ nguồn kinh phí uỷ quyền (nếu có) cho các đơn vị trực thuộc và Uỷ ban nhân dân cấp
dưới.
1.6. Thời hạn thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách:
- Bộ Tài chính thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách nhà nước cho các Bộ, cơ quan Trung ương và
Uỷ ban nhân dân các tỉnh chậm nhất vào ngày 30 tháng 6 năm trước.
- Uỷ ban nhân dân tỉnh thông báo số kiểm tra cho các cơ quan cấp tỉnh và Uỷ ban nhân dân các huyện chậm
nhất vào ngày 15 tháng 7 năm trước.
- Uỷ ban nhân dân huyện thông báo số kiểm tra cho các cơ quan cấp huyện và Uỷ ban nhân dân các xã
chậm nhất vào ngày 30 tháng 7 năm trước.
2. Yêu cầu đối với dự toán ngân sách nhà nước năm:
2.1. Dự toán ngân sách của các đơn vị dự toán, các cấp chính quyền và các Bộ, ngành, phải phản ánh đầy
đủ các khoản thu, chi theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành, kể cả
các khoản thu, chi từ nguồn viện trợ và các khoản vay.
Đối với các đơn vị có thu được sử dụng một phần số thu để chi theo chế độ cho phép, các đơn vị được ngân
sách nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí, cũng phải lập dự toán đầy đủ các khoản thu, chi của đơn vị và
mức đề nghị ngân sách nhà nước hỗ trợ.
2.2. Dự toán ngân sách của các đơn vị phải lập theo đúng mẫu biểu, đúng thời gian theo quy định tại Thông
tư này và phải lập chi tiết theo Mục lục ngân sách nhà nước.
2.3. Dự toán ngân sách của các cấp chính quyền địa phương phải tổng hợp theo từng loại thu, từng lĩnh vực
chi, theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ.
Dự toán ngân sách của các Bộ, cơ quan Trung ương, các cấp chính quyền địa phương, cơ quan quản lý nhà
nước ở địa phương phải tổng hợp theo ngành kinh tế, theo địa bàn lãnh thổ.
2.4. Báo cáo dự toán ngân sách phải kèm theo bản thuyết minh chi tiết các cơ sở, căn cứ tính toán.
2.5. Dự toán ngân sách các cấp phải đảm bảo cân đối theo nguyên tắc sau:
- Đối với dự toán ngân sách nhà nước: tổng số thu thuế, phí và lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường
xuyên và các khoản chi trả nợ; bội chi phải nhỏ hơn chi đầu tư phát triển; vay để cân đối ngân sách phải có
nguồn chắc chắn (vay nước ngoài theo dự án và vay bằng tiền phải căn cứ các hiệp định, các cam kết đã
được ký kết được rút vốn trong năm dự toán, vay trong nước phải tính đến khả năng thực tế và hệu quả
vay).
- Đối với dự toán ngân sách cấp tỉnh: dự toán ngân sách cấp tỉnh của các năm trong thời kỳ ổn định phải
cân bằng giữa thu và chi trên cơ sở số thu của ngân sách cấp tỉnh gồm: các khoản thu ngân sách cấp tỉnh
được hưởng 100%, các khoản thu phân chia cho ngân sách cấp tỉnh theo tỷ lệ phần trăm (%) đã được quy
định và số bổ sung từ ngân sách trung ương; số dự kiến huy động vốn trong nước để đầu tư xây dựng các
công trình kết cấu hạ tầng thuộc ngân sách cấp tỉnh đảm bảo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Luật Ngân
sách nhà nước và Điều 27 của Nghị định 87/CP ngày 19/12/1996 của Chính phủ.
- Đối với dự toán ngân sách cấp huyện, xã: dự toán ngân sách của các năm trong thời kỳ ổn định phải cân
bằng giữa thu và chi trên cơ sở số thu của ngân sách gồm: các khoản thu ngân sách được hưởng 100%, các
khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đã được quy định và số bổ sung từ ngân sách cấp trên.
3. Căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước năm:
3.1. Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh; chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể của
năm kế hoạch và những chỉ tiêu phản ánh quy mô nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động, điều kiện kinh tế - xã hội
và tự nhiên của từng vùng như: dân số theo vùng lãnh thổ, biên chế, các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội do cơ
quan có thẩm quyền thông báo đối với từng Bộ, ngành, địa phương và đơn vị cơ sở;
3.2. Các Luật, Pháp lệnh thuế, chế độ thu; chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do cấp có thẩm
quyền quy định; các chế độ, chính sách hiện hành làm cơ sở lập dự toán ngân sách nhà nước năm, trường
hợp cần sửa đổi, bổ sung phải được nghiên cứu và ban hành trước thời điểm lập dự toán ngân sách nhà
nước.
3.3. Những quy định về phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, phân cấp quản lý ngân sách;
3.4. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và mức bổ sung từ ngân sách cấp trên;
3.5. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân
sách nhà nước năm sau; Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc lập dự toán ngân sách và văn bản
hướng dẫn của các Bộ;
3.6. Số kiểm tra về dự toán ngân sách do cơ quan có thẩm quyền thông báo;
3.7. Tình hình thực hiện dự toán ngân sách các năm trước.
4. Nhiệm vụ, quyền hạn về lập dự toán ngân sách nhà nước năm:
4.1. Các doanh nghiệp căn cứ vào kế hoạch sản xuất - kinh doanh của đơn vị, các luật, pháp lệnh về thuế và
các chế độ thu ngân sách; đăng ký số thuế và các khoản phải nộp ngân sách theo Mục lục ngân sách nhà
nước gửi cơ quan thuế và cơ quan được Nhà nước giao nhiệm vụ thu ngân sách đối với đơn vị:
- Đăng ký số thuế và các khoản phải nộp ngân sách phát sinh từ hoạt động sản xuất - kinh doanh trong nước
với cơ quan thuế và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ thu đối với doanh nghiệp.
- Đăng ký số thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu và các khoản thu khác
có liên quan đến xuất, nhập khẩu (các khoản phụ thu đối với đối với hàng xuất, nhập khẩu, lệ phí hải
quan, ) với cơ quan hải quan nơi doanh nghiệp sẽ nộp các khoản thu nêu trên.
Riêng các doanh nghiệp nhà nước, ngoài việc đăng ký nộp thuế nêu trên còn phải:
- Lập kế hoạch thu chi tài chính, trong đó có mức đề nghị bổ sung vốn lưu động (nếu có nhu cầu), khoản
ngân sách chi hỗ trợ theo chế độ quy định (nếu có) gửi cơ quan quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh
nghiệp, đồng gửi Sở Tài chính - Vật giá đối với các doanh nghiệp nhà nước do Uỷ ban nhân dân địa
phương thành lập.
Thời gian báo cáo trước ngày 1 tháng 8 năm trước.
4.2. Cơ quan thuế các cấp ở địa phương lập dự toán thu ngân sách nhà nước và cơ sở tính toán từng nguồn
thu trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý gửi cơ quan thuế cấp trên, Uỷ ban nhân dân và cơ quan tài chính
cùng cấp. Chi cục Thuế thực hiện báo cáo trước ngày 5 tháng 8 năm trước; Cục Thuế thực hiện báo cáo
trước ngày 15 tháng 8 năm trước.
4.3. Tổng cục Thuế xem xét dự toán thu do cơ quan thuế trực thuộc lập, tổng hợp dự toán thu ngân sách nhà
nước và cơ sở tính toán từng nguồn thu báo cáo Bộ Tài chính.
4.4. Cục Hải quan các tỉnh lập dự toán thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập
khẩu (trong đó chi tiết thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu qua biên
giới đất liền), các khoản thu khác liên quan đến xuất, nhập khẩu thuộc phạm vi quản lý gửi Tổng cục Hải
quan, Uỷ ban nhân dân tỉnh, đồng gửi Sở Tài chính - Vật giá và Cục Thuế trước ngày 15 tháng 8 năm
trước.
4.5. Tổng cục Hải quan xem xét dự toán thu do các cơ quan Hải quan trực thuộc lập, tổng hợp dự toán thu
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu, trong đó chi tiết thu thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu qua biên giới đất liền và các khoản thu được phân
công quản lý báo cáo Thủ tướng Chính phủ, gửi Bộ Tài chính trước ngày 20 tháng 8 năm trước.
4.6. Các đơn vị dự toán, đơn vị sử dụng ngân sách các cấp lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi
trực tiếp quản lý, dự toán chi từ nguồn kinh phí uỷ quyền của ngân sách cấp trên (nếu có), xem xét dự toán
ngân sách do các đơn vị trực thuộc báo cáo, tổng hợp và lập dự toán thu, chi ngân sách theo Mục lục Ngân
sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý, gửi cơ quan quản lý cấp trên.
4.7. Các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -
nghề nghiệp ở Trung ương và địa phương lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi trực tiếp quản lý,
dự toán chi từ nguồn kinh phí uỷ quyền của ngân sách cấp trên (nếu có), xem xét dự toán do các đơn vị trực
thuộc lập; tổng hợp và lập dự toán thu chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý gửi cơ quan tài chính cùng cấp
và đồng gửi:
- Cơ quan kế hoạch và đầu tư, cơ quan đầu tư phát triển cùng cấp (phần dự toán chi đầu tư xây dựng cơ
bản).
- Cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực cấp trên (phần dự toán chi ngân sách theo ngành, lĩnh vực).
Các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -
nghề nghiệp ở trung ương và địa phương khi xem xét tổng hợp dự toán của các đơn vị trực thuộc cần yêu
cầu các đơn vị trực thuộc sửa đổi lại trong trường hợp: lập dự toán không đúng định mức, chế độ, cơ sở
tính toán không đúng (biên chế, quy mô, khối lượng nhiệm vụ được giao, ), vượt quá khả năng cân đối
ngân sách, lập báo cáo dự toán ngân sách không đúng biểu mẫu, không đúng Mục lục ngân sách nhà nước
4.8. Cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực tổng hợp và lập dự toán thu chi ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực gửi
cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực cấp trên.
Đối với các đơn vị dự toán cấp I ở huyện thực hiện báo cáo trước ngày 1 tháng 8 năm trước; đối với đơn vị
dự toán cấp I ở tỉnh thực hiện báo cáo trước ngày 10 tháng 8 năm trước; đối với dự toán cấp I ở Trung ương
thực hiện báo cáo trước ngày 15 tháng 8 năm trước.
Căn cứ đặc điểm của ngành và quy định về thời gian trên, cơ quan dự toán cấp I quy định thời gian lập báo
cáo của các cơ quan dự toán các cấp trực thuộc cho phù hợp.
4.9. Cục Quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp xem xét, tổng hợp kế hoạch thu, chi tài chính,
trong đó có dự toán về mức đề nghị bổ sung vốn lưu động, các khoản ngân sách chi hỗ trợ theo chế độ quy
định (nếu có) của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn được phân công quản lý, báo cáo Tổng cục Quản
lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh; đồng gửi Sở Tài chính - Vật giá
đối với phần dự toán về mức đề nghị bổ sung vốn lưu động, các khoản ngân sách chỉ hỗ trợ theo chế độ
(nếu có) của các doanh nghiệp nhà nước do Uỷ ban nhân dân lập trước ngày 15 tháng 8 năm trước.
4.10. Tổng cục Quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp xem xét kế hoạch thu, chi tài chính, trong
đó có dự toán về mức đề nghị bổ sung vốn lưu động, khoản ngân sách chi hỗ trợ theo chế độ quy định (nếu
có) của các doanh nghiệp được phân công quản lý; tổng hợp kế hoạch thu chi tài chính, trong đó có dự toán
về mức đề nghị bổ sung vốn lưu động, khoản ngân sách chi hỗ trợ theo chế độ quy định (nếu có) của các
doanh nghiệp nhà nước theo ngành và lãnh thổ, trình Bộ Tài chính trước ngày 20 tháng 8 năm trước.
4.11. Cục Đầu tư phát triển xem xét đề nghị về dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản đối với các công trình,
dự án thuộc ngân sách địa phương do các đơn vị lập;
Tham gia với Sở Kế hoạch và Đầu tư trước khi Sở Kế hoạch và Đầu tư xem xét tổng hợp lập và phân bổ dự
toán chi đầu tư xây dựng cơ bản cho từng đơn vị, từng dự án, từng công trình thuộc ngân sách địa phương,
báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, gửi Sở Tài chính - Vật giá trước ngày 15 tháng 8 năm trước.
Đối với các công trình, dự án thuộc ngân sách Trung ương tổng hợp báo cáo Tổng cục Đầu tư phát triển
trước ngày 15 tháng 8 năm trước.
4.12. Tổng cục Đầu tư phát triển xem xét, tổng hợp dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản do các Cục Đầu tư
phát triển báo cáo, tham gia với các đơn vị liên quan thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các đơn vị liên quan
thuộc các Bộ trước khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét tổng hợp lập và phân bổ dự toán chi đầu tư xây
dựng cơ bản, gửi Bộ Tài chính để tổng hợp vào dự toán ngân sách nhà nước năm sau trước ngày 20 tháng 8
năm trước.
4.13. Cơ quan Kế hoạch và Đầu tư ở địa phương thống nhất với cơ quan tài chính, cơ quan đầu tư phát triển
cùng cấp lập và phân bổ dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản cho từng đơn vị, từng dự án, công trình thuộc
ngân sách địa phương gửi cơ quan tài chính cùng cấp để làm căn cứ tổng hợp, lập dự toán ngân sách trình
cấp có thẩm quyền quyết định; báo cáo trước 10 ngày trước khi Hội đồng nhân dân cùng cấp họp quyết
định dự toán ngân sách; trong trường hợp cần thiết, xem xét trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp điều chỉnh dự
toán chi đầu tư xây dựng cơ bản cho từng đơn vị, từng dự án, công trình.
4.14. Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ dự án kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và các
cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, trong đó có cân đối tài chính, tiền tệ, vốn đầu tư xây dựng cơ bản
làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch tài chính ngân sách, trình Chính phủ để trình Quốc hội Danh mục
các chương trình, dự án quốc gia, các công trình xây dựng cơ bản quan trọng được đầu tư từ nguồn ngân
sách nhà nước; thống nhất với Bộ Tài chính lập, phân bổ dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản tập trung cho
từng Bộ, địa phương, chi xây dựng cơ bản các công trình quan trọng và gửi Bộ Tài chính trước ngày 30
tháng 8 năm trước làm căn cứ tổng hợp, lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm;
Trong trường hợp cần thiết phải điều chỉnh nhiệm vụ kinh tế - xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính
phủ quyết định điều chỉnh dự án phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và các cân đối chủ yếu của nền kinh
tế, điều chỉnh vốn đầu tư xây dựng cơ bản, điều chỉnh danh mục các chương trình, dự án quốc gia, các công
trình xây dựng cơ bản quan trọng được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách gửi Bộ Tài chính làm cơ sở cho việc
điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước.
4.15. Ban Tài chính xã lập dự toán thu chi ngân sách xã báo cáo Uỷ ban nhân dân xã; làm việc xin ý kiến
Phòng Tài chính huyện trước khi trình Hội đồng nhân dân xã xem xét quyết định.
4.16. Phòng Tài chính huyện xem xét dự toán ngân sách của các đơn vị thuộc huyện và dự toán thu trên địa
bàn do cơ quan thuế lập; lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách cấp huyện; tổng hợp, lập dự toán thu
ngân sách nhà nước trên địa bàn, dự toán thu, chi ngân sách huyện (gồm dự toán ngân sách các xã và dự
toán ngân sách cấp huyện), tổng hợp dự toán chi bằng nguồn kinh phí uỷ quyền của ngân sách cấp trên (nếu
có); báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện; làm việc và xin ý kiến Sở Tài chính - Vật giá trước khi trình Hội đồng
nhân dân huyện quyết định.
Xem xét nghị quyết về dự toán ngân sách của Hội đồng nhân dân xã để đề xuất ý kiến trình Uỷ ban nhân
dân huyện, yêu cầu Hội đồng nhân dân xã điều chỉnh lại dự toán ngân sách xã trong trường hợp cần thiết.
4.17. Sở Tài chính - Vật giá xem xét dự toán ngân sách của các đơn vị thuộc tỉnh lập, dự toán thu do cơ
quan thuế, cơ quan hải quan lập, lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách cấp tỉnh; tổng hợp, lập dự
toán thu ngân sách trên địa bàn, dự toán thu, chi ngân sách tỉnh (gồm dự toán ngân sách huyện và dự toán
ngân sách cấp tỉnh); tổng hợp dự toán chi từ nguồn kinh phí uỷ quyền của ngân sách Trung ương (nếu có);
báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh; làm việc và xin ý kiến Bộ Tài chính trước khi trình Hội đồng nhân dân tỉnh
quyết định.
Xem xét nghị quyết về dự toán ngân sách của Hội đồng nhân dân huyện để đề xuất ý kiến trình Uỷ ban
nhân dân tỉnh yêu cầu Hội đồng nhân dân huyện điều chỉnh lại dự toán ngân sách huyện trong trường hợp
cần thiết.
4.18. Uỷ ban nhân dân các cấp hướng dẫn, tổ chức và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, chính quyền cấp dưới
lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý; phối hợp và chỉ đạo cơ quan thuế, hải quan ở địa
phương lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; làm việc và xin ý kiến Uỷ ban nhân dân cấp trên
trước khi trình Hội đồng nhân dân quyết định dự toán ngân sách. Đối với dự toán ngân sách tỉnh, Uỷ ban
nhân dân tỉnh phải xin ý kiến của Thủ tướng Chính phủ trước khi trình Hội đồng nhân dân tỉnh. Dự toán
ngân sách năm sau của các cấp chính quyền địa phương phải gửi trước đến đại biểu Hội đồng nhân dân
theo quy định để Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định dự toán ngân sách của cấp mình.
Sau khi dự toán ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định, Uỷ ban nhân dân các cấp phải báo cáo
Uỷ ban nhân dân cấp trên, đồng gửi cơ quan tài chính cấp trên; Uỷ ban nhân dân tỉnh phải báo cáo Chính
phủ, đồng gửi Bộ Tài chính. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện kiểm tra Nghị quyết về dự toán ngân sách
của Hội đồng nhân dân cấp dưới; Yêu cầu Hội đồng nhân dân cấp dưới điều chỉnh lại dự toán ngân sách
trong trường hợp cần thiết.
4.19. Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ và căn cứ vào dự toán thu, chi ngân sách do các Bộ, cơ quan
nhà nước Trung ương và các tỉnh lập, dự toán chi theo ngành, lĩnh vực, chi chương trình quốc gia do các
Bộ, cơ quan quản lý chương trình quốc gia lập lập, nhu cầu trả nợ và khả năng vay để:
+ Lập dự toán thu, chi ngân sách trung ương, tổng hợp và lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước trình
Chính phủ để Chính phủ xem xét và trình Quốc hội quyết định.
+ Lập phương án phân bổ ngân sách trung ương cho từng Bộ, ngành và mức bổ sung từ ngân sách trung
ương cho từng tỉnh trình Chính phủ để Chính phủ xem xét và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định.
+ Xem xét Nghị quyết về dự toán ngân sách của Hội đồng nhân dân tỉnh để đề xuất ý kiến trình Thủ tướng
Chính phủ yêu cầu Hội đồng nhân dân tỉnh điều chỉnh lại dự toán ngân sách tỉnh trong trường hợp cần thiết.
5. Quyết định dự toán ngân sách năm:
5.1. Tổ chức làm việc về dự toán ngân sách năm:
- Để đảm bảo tính thống nhất, đảm bảo những định hướng ưu tiên quan trọng của ngân sách nhà nước,
đồng thời phù hợp với thực tế phải tổ chức làm việc để thảo luận về dự toán ngân sách, cụ thể như sau:
Sau khi thông báo số kiểm tra, phải tổ chức làm việc để thảo luận về dự toán ngân sách năm giữa cơ quan
tài chính với cơ quan, đơn vị đồng cấp và Uỷ ban nhân dân, cơ quan tài chính cấp dưới; giữa Uỷ ban nhân
dân cấp dưới với Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp; giữa cơ quan, đơn vị cấp trên với các đơn vị dự toán
ngân sách trực thuộc (cơ quan, đơn vị cấp trên quy định việc tổ chức làm việc thảo luận về dự toán ngân
sách với các đơn vị dự toán ngân sách trực thuộc cho phù hợp đặc điểm từng ngành).
Qua quá trình thảo luận dự toán ngân sách nhà nước, nếu có ý kiến khác nhau giữa Bộ Tài chính và các cơ
quan Trung ương, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố thì Bộ Tài chính trình Chính phủ hoặc Thủ tướng
Chính phủ những ý kiến còn khác nhau để quyết định theo thẩm quyền. Nguyên tắc này cũng được áp dụng
trong quá trình làm việc, thảo luận dự toán ngân sách ở các cấp chính quyền địa phương.
5.2. Đối với dự toán ngân sách của các năm tiếp theo trong thời kỳ ổn định:
- Hội đồng nhân dân quyết định dự toán ngân sách xã năm sau trước ngày 15 tháng 8 năm trước.
- Hội đồng nhân dân huyện quyết định dự toán ngân sách huyện năm sau trước ngày 31 tháng 8 năm trước.
- Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định dự toán ngân sách tỉnh năm sau trước ngày 15 tháng 9 năm trước.
- Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước năm sau vào kỳ họp cuối năm.
5.3. Đối với dự toán ngân sách của những năm đầu thời kỳ ổn định, việc xác định dự toán ngân sách của
các cấp chính quyền địa phương có ý nghĩa quan trọng, làm căn cứ để ổn định cho cả thời kỳ từ 3-5 năm.
Nội dung công tác lập và thẩm quyền quyết định dự toán ngân sách thực hiện theo các quy định trên, riêng
trình tự quyết định dự toán ngân sách quy định như sau:
- Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định dự toán ngân sách tỉnh sau khi dự toán ngân sách nhà nước đã được
Quốc hội thông qua và Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định chính thức giao cho tỉnh dự toán thu, chi
ngân sách, tỷ lệ phân chia các khoản thu và số bổ sung từ ngân sách Trung ương (nếu có).
- Hội đồng nhân dân huyện quyết định dự toán ngân sách huyện sau khi dự toán ngân sách tỉnh đã được Hội
đồng nhân dân tỉnh thông qua và Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có quyết định chính thức giao cho huyện dự toán
thu, chi ngân sách, tỷ lệ phân chia các khoản thu và số bổ sung từ ngân sách tỉnh.
- Hội đồng nhân dân xã quyết định dự toán ngân sách xã sau khi dự toán ngân sách huyện đã được Hội
đồng nhân dân huyện thông qua và Uỷ ban nhân dân huyện đã có quyết định chính thức giao cho xã dự toán
ngân sách.
5.4. Chậm nhất 5 ngày sau khi Hội đồng nhân dân quyết định dự toán ngân sách hoặc dự toán ngân sách
điều chỉnh, Uỷ ban nhân dân đồng cấp có trách nhiệm báo cáo Uỷ ban nhân dân và cơ quan tài chính cấp
trên (Uỷ ban nhân dân tỉnh báo cáo Chính phủ, đồng gửi Bộ Tài chính dự toán ngân sách tỉnh).
6. Điều chỉnh dự toán ngân sách năm (nếu có):
6.1. Điều chỉnh dự toán ngân sách năm của chính quyền địa phương cấp dưới trong trường hợp dự toán
ngân sách của các cấp chính quyền địa phương chưa phù hợp với dự toán ngân sách nhà nước, hoặc chưa
phù hợp với dự toán ngân sách cấp trên:
Việc điều chỉnh dự toán ngân sách năm của các cấp chính quyền chỉ thực hiện khi Uỷ ban nhân dân cấp
trên yêu cầu Hội đồng nhân dân cấp dưới điều chỉnh dự toán ngân sách. Uỷ ban nhân dân cấp trên chỉ thực
hiện yêu cầu Hội đồng nhân dân cấp dưới điều chỉnh dự toán một lần sau khi dự toán ngân sách nhà nước
đã được Quốc hội quyết định, và Chính phủ giao cho các tỉnh.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Hội đồng nhân dân tỉnh điều chỉnh lại dự toán ngân sách tỉnh sau khi Quốc
hội thông qua dự toán ngân sách nhà nước.
- Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu Hội đồng nhân dân huyện điều chỉnh lại dự toán ngân sách huyện sau khi
dự toán ngân sách tỉnh được Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định và được Chính phủ giao nhiệm vụ thu, chi
ngân sách.
- Uỷ ban nhân dân huyện yêu cầu Hội đồng nhân dân xã điều chỉnh lại dự toán ngân sách xã sau khi dự toán
ngân sách huyện được Hội đồng nhân dân huyện quyết định và được Uỷ ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ
thu, chi ngân sách.
Trường hợp cần điều chỉnh dự toán ngân sách trong phạm vi quản lý của các Bộ, cơ quan quản lý nhà nước,
Uỷ ban nhân dân các cấp; cần phải xin ý kiến và được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền trước khi thực
hiện điều chỉnh.
6.2. Điều chỉnh dự toán ngân sách trong trường hợp có biến động lớn về thu chi ngân sách:
Trong trường hợp đặc biệt có biến động lớn về nguồn thu, nhiệm vụ chi; làm ảnh hưởng lớn đến việc thực
hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, cần thiết phải điều chỉnh các khoản thu, chi của từng cấp ngân
sách, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách và số bổ sung từ ngân sách cấp
trên cho ngân sách cấp dưới theo Điều 51 của Nghị định 87/CP ngày 19/12/1996 thực hiện như sau:
- Trường hợp Quốc hội điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước trong phạm vi toàn quốc: Các cơ quan quản
lý nhà nước, Uỷ ban nhân dân, đơn vị dự toán ngân sách, cơ quan tài chính, cơ quan kế hoạch và đầu tư các
cấp căn cứ chỉ đạo của Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Tài chính và cơ quan cấp trên về điều chỉnh dự toán
ngân sách nhà nước, căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của cơ quan, địa phương thực hiện chế độ lập,
tổng hợp, báo cáo và quyết định dự toán ngân sách điều chỉnh thuộc phạm vi quản lý theo quy định tại các
mục đã nêu trên.
- Trường hợp cần điều chỉnh dự toán ngân sách đối với một số Bộ, cơ quan Trung ương, một số tỉnh: Căn
cứ thực tế biến động lớn về thu, chi ngân sách so với dự toán đã được giao; các Bộ, cơ quan trung ương, Uỷ
ban nhân dân tỉnh thuộc diện phải điều chỉnh dự toán ngân sách (chủ động hoặc theo yêu cầu của Bộ Tài
chính) lập dự toán ngân sách điều chỉnh gửi Bộ Tài chính, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư (phần dự toán
xây dựng cơ bản); Bộ Tài chính tổng hợp chung báo cáo Chính phủ quyết định. Căn cứ quyết định điều
chỉnh của Chính phủ; các Bộ, cơ quan Trung ương, Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện giao dự toán ngân sách
điều chỉnh cho các đơn vị trực thuộc.
- Trường hợp cần điều chỉnh dự toán ngân sách đối với một số đơn vị dự toán thuộc ngân sách các cấp
chính quyền địa phương hoặc điều chỉnh dự toán ngân sách của một số huyện, xã: Các đơn vị dự toán, Uỷ
ban nhân dân huyện, Uỷ ban nhân dân xã thuộc diện phải điều chỉnh dự toán ngân sách (chủ động hoặc theo
yêu cầu của cơ quan tài chính cung cấp hoặc cơ quan tài chính cấp trên) lập dự toán ngân sách điều chỉnh
gửi cơ quan tài chính cùng cấp hoặc cơ quan tài chính cấp trên, đồng gửi cơ quan Kế hoạch và Đầu tư
(phần vốn xây dựng cơ bản); cơ quan Tài chính tổng hợp chung báo cáo Uỷ ban nhân dân quyết định.
7. Biểu mẫu lập dự toán NSNN năm:
7.1. Các doanh nghiệp đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế và cơ quan được giao nhiệm vụ thu ngân sách
nhà nước; các doanh nghiệp nhà nước lập kế hoạch thu, chi tài chính của đơn vị theo biểu mẫu quy định
của cơ quan thu, cơ quan quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp.
7.2. Các cơ quan thu lập dự toán thu theo hệ thống biểu mẫu quy định tại Phụ lục số 1 kèm theo Thông tư
này.
7.3. Các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị dự toán, đơn vị sử dụng ngân sách lập dự toán thu, chi ngân
sách theo hệ thống biểu mẫu quy định tại Phụ lục số 2 kèm theo Thông tư này.
7.4. Cơ quan quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp lập dự toán chi bổ sung vốn lưu động và kế
hoạch thu chi tài chính doanh nghiệp nhà nước theo hệ thống biểu mẫu quy định tại Phụ lục số 3 kèm theo
Thông tư này.
7.5. Các cơ quan bảo hiểm xã hội lập dự toán thu, chi bảo hiểm xã hội theo hệ thống biểu mẫu quy định tại
Phụ lục số 4 kèm theo Thông tư này.
7.6. Các cơ quan Lao động - Thương binh xã hội lập dự toán chi trợ cấp xã hội theo hệ thống biểu mẫu quy
định tại Phụ lục số 5 kèm theo Thông tư này.
7.7. Cơ quan Kế hoạch và Đầu tư lập dự toán chi xây dựng cơ bản theo hệ thống biểu mẫu quy định tại Phụ
lục số 6 kèm theo Thông tư này.
7.8. Uỷ ban nhân dân và cơ quan Tài chính các cấp chính quyền địa phương lập dự toán thu, chi ngân sách
theo hệ thống biểu mẫu quy định tại Phụ lục số 7 kèm theo Thông tư này.
7.9. Bộ Tài chính lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước theo hệ thống biểu mẫu quy định tại Phụ lục số 8
kèm theo Thông tư này.
8. Tổ chức giao dự toán ngân sách năm:
8.1. Sau khi có Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về phân bổ ngân sách nhà nước; Bộ Tài chính
trình Chính phủ giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng Bộ, cơ quan Trung ương; nhiệm vụ thu, chi và
mức bổ sung từ ngân sách Trung ương, dự toán chi từ nguồn kinh phí uỷ quyền của ngân sách Trung ương
(nếu có) cho từng tỉnh, đồng thời tổ chức thông báo chỉ tiêu hướng dẫn về dự toán ngân sách nhà nước theo
quy định.
8.2. Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và quyết định nhiệm vụ thu, chi ngân sách cấp
trên giao; Uỷ ban nhân dân các cấp giao nhiệm vụ thu, chi cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc, nhiệm vụ
thu, chi và mức bổ sung ngân sách, dự toán chi từ nguồn kinh phí uỷ quyền của ngân sách cấp mình (nếu
có) cho Uỷ ban nhân dân cấp dưới.
8.3. Các cơ quan, đơn vị khi nhận được dự toán thu, chi ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền giao
phải tổ chức giao dự toán thu, chi ngân sách cho từng đơn vị trực thuộc, kể cả dự toán chi từ nguồn kinh phí
uỷ quyền của ngân sách cấp trên (nếu có) trước ngày 31 tháng 12 năm trước; đảm bảo khớp đúng tổng mức
và chi tiết từng mục chi theo Mục lục ngân sách đã được giao, đồng thời tổng hợp kết quả giao chi tiết báo
cáo cơ quan cấp trên, cơ quan Tài chính đồng cấp chậm nhất vào ngày 5 tháng 1 năm sau.
IV- CHẤP HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Dự toán ngân sách quý:
1.1. Trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinh trong quý, cơ quan thu lập
dự toán ngân sách quý có chia ra khu vực kinh tế, địa bàn và đối tượng thu chủ yếu và hình thức thu (thu
trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước, thu qua cơ quan thu), gửi cơ quan Tài chính đồng cấp:
+ Cơ quan thuế lập dự toán thu thuế, phí, lệ phí (trừ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) và các khoản thu khác
thuộc phạm vi quản lý.
+ Cơ quan hải quan lập dự toán thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (kể cả thu thuế tiêu thụ đặc biệt hàng
nhập khẩu).
+ Cơ quan tài chính và các cơ quan thu khác được uỷ quyền lập dự toán thu các khoản thu còn lại của ngân
sách nhà nước.
Dự toán thu quý gửi trước ngày 10 của tháng cuối quý trước.
1.2. Trên cơ sở dự toán chi cả năm được duyệt và nhiệm vụ phải chi trong quý các đơn vị sử dụng ngân
sách lập dự toán chi quý (có chia ra tháng), chi tiết theo các mục chi của Mục lục ngân sách nhà nước gửi
cơ quan quản lý cấp trên. Cơ quan quản lý cấp trên tổng hợp, lập dự toán chi ngân sách quý (có chia ra
tháng), gửi cơ quan tài chính đồng cấp trước ngày 10 của tháng cuối quý trước.
1.3. Cơ quan tài chính căn cứ vào nguồn thu và nhiệm vụ chi trong quý lập dự toán điều hành ngân sách
quý, báo cáo Chính phủ (đối với ngân sách trung ương) hoặc Uỷ ban nhân dân cùng cấp (đối với ngân sách
các cấp chính quyền địa phương). Trong báo cáo, cân đối ngân sách phải được lập một cách chắc chắn,
đồng thời nêu rõ các biện pháp thực hiện và các kiến nghị cần thiết đối với các cấp có thẩm quyền.
1.4. Cơ quan tài chính điều chỉnh dự toán ngân sách quý nếu Chính phủ hoặc Uỷ ban nhân dân đồng cấp có
yêu cầu.
2. Tổ chức thu ngân sách nhà nước:
2.1. Căn cứ vào tờ khai thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước của các tổ chức, cá nhân có nghĩa
vụ nộp ngân sách, cơ quan thu kiểm tra, xác định số thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước và ra
thông báo thu ngân sách nhà nước gửi đối tượng nộp, đồng gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch.
2.2. Nếu hết thời hạn nộp tiền trong thông báo thu ngân sách mà tổ chức, cá nhân vẫn chưa thực hiện nghĩa
vụ nộp thì cơ quan thu được quyền yêu cầu ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước trích số tiền phải nộp từ tài
khoản của tổ chức, cá nhân đó để nộp ngân sách (đối với trường hợp có mở tài khoản tiền gửi tại Ngân
hàng hoặc Kho bạc Nhà nước) hoặc áp dụng các biện pháp tài chính khác để thu cho ngân sách.
Những trường hợp được coi là chậm nộp có lý do chính đáng, tạm thời chưa áp dụng biện pháp trích tài
khoản và xử phạt nêu trên là:
- Doanh nghiệp đã có quyết định giải thể, đang trong giai đoạn xử lý tồn tại.
- Doanh nghiệp đang có những khó khăn khách quan, được cơ quan thu trình Uỷ ban nhân dân đồng cấp
(đối với doanh nghiệp do địa phương thành lập) hoặc Thủ tướng Chính phủ (đối với doanh nghiệp do
Trung ương thành lập) cho phép chậm nộp.
2.3. Phương thức thu ngân sách nhà nước:
Toàn bộ các khoản thu của ngân sách nhà nước phải nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước, trừ các khoản
dưới đây do cơ quan thu có thể thu trực tiếp song phải định kỳ nộp vào Kho bạc Nhà nước trong thời hạn
do thủ trưởng cơ quan tài chính đồng cấp quy định:
- Thu phí, lệ phí.
- Thu thuế hộ kinh doanh không cố định.
- Các khoản thu ở địa bàn xã, nơi không có điểm thu của Kho bạc Nhà nước.
3. Thu ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ:
3.1. Các khoản thu ngân sách bằng ngoại tệ (kể cả thu vay nợ, viện trợ nước ngoài bằng ngoại tệ) được thu
vào quỹ ngoại tệ tập trung thống nhất quản lý tại Kho bạc Nhà nước Trung ương. Kho bạc Nhà nước khi
nhập quỹ đồng thời quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hạch toán nội bộ do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy
định để ghi thu ngân sách nhà nước và phân chia số thu cho các cấp ngân sách theo chế độ quy định.
3.2. Ngân sách địa phương (tỉnh, huyện, xã) không được phép thành lập quỹ ngoại tệ riêng. Toàn bộ số thu
ngân sách bằng ngoại tệ phát sinh tại Kho bạc Nhà nước ở địa phương phải chuyển về Kho bạc Nhà nước
Trung ương.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét