Chuyên đề cuối khoá Học viện tài chính
công tác bán hàng không dợc coi trọng. Nhng trong nền kinh tế thị trờng thì
sản phẩm sản xuất ra d thừa, cung vợt quá cầu rất nhiều cho nên các doanh
nghiệp bắt đầu thấy rõ vai trò của công tác bán hàng.
Với chính sách bán hàng hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp tiêu thụ đợc
nhiều sản phẩm hàng hoá giúp các doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh, tăng
vòng của vốn kinh doanh, đảm bảo bù đắp đợc chi phí, có một phần cho tích
luỹ để tái sản xuất và mở rộng hoạt động kinh doanh. Hơn nữa,
cạnh tranh kinh doanh hiện nay diễn ra vô cùng gay gắt và thơng trờng đợc
coi là chiến trờng. Doanh nghiệp nào mạnh thì sẽ chiến thắng còn doanh
nghiệp nào yếu sẽ bị loại bỏ mà chỉ tiêu để đánh giá một doanh nghiệp mạnh
yếu chính là khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng hay nói một cách khác
là khả năng chiếm lĩnh thị trờng. Vì vậy, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn
tồn tại thì đều phải quan tâm đến việc tổ chức công tác kế toán bán hàng sao
cho hiệu quả nhất để giải quyết đầu ra cho sản phẩm hàng hoá của mình. Nh
vậy, kế toán bán hàng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các doanh nghiệp.
Tổ chức công tác kế toán bán hàng có vai trò quan trọng nh vậy, nhng
mối quan tâm không chỉ dừng lại ở đây mà là xác định kết quả của việc tổ
chức thực hiện công tác này. Đây cũng là quy luật tất yếu trong sản xuất kinh
doanh, mỗi doanh nghiệp đều muốn biết mình đã thu đợc gì và sẽ thu dợc gì
sau hàng loạt các hành vi tác nghiệp. Kế toán sẽ xác định kết quả này và cung
cấp thông tin cho nhà quản lý. Kết quả hoạt động kinh doanh mà chủ yếu thu
từ bán hàng sẽ là nguồn lợi nhuận chính, là số tiền mà doanh nghiệp sẽ thu
về. Kết quả này là đánh giá cuối cùng về hiệu quả của quá trình hoạt động
của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thì sẽ có lãi tức
là số tiền thu về không chỉ bù đắp đợc chi phí mà còn thừa để tái đầu t còn
nếu doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả thì số tiền thu về không đủ bù
đắp chi phí và sẽ gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp và nếu tình trạng
này kéo dài thì doanh nghiệp có thể bị phá sản.
Từ những thông tin mà kế toán cung cấp, nhà quản trị doanh nghiệp tiến
hành phân tích, đánh giá và hoạch định kế hoạch phát triển cho thời kỳ tiếp
theo.
Đoàn Thị Xuân Nga Lớp : K40/21.02
Chuyên đề cuối khoá Học viện tài chính
b. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả
Để tạo điều kiện cung cấp thông tin kịp thời, chính xác và đầy đủ cho
nhà quản lý có những quyết định đúng đắn hữu hiệu và đánh giá đợc chất l-
ợng kinh doanh của doanh nghiệp, thì kế toán bán hàng và xác định kết quả
phải thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình hiện có và
tình hình biến động của từng loại sản phẩm, hàng hoá theo chỉ tiêu số lợng,
chất lợng, chủng loại và giá trị.
- Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời và chính xác các khoản doanh
thu, các khoản giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong doanh
nghiệp. Đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu của khách hàng.
- Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sát
các tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nớc và tình hình phân phối kết
quả các hoạt động.
- Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập báo cáo tài
chính và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán
hàng, xác định kết quả kinh doanh.
3.Sự cần thiết và yêu cầu quản lý đối với kế toán bán hàng và xác
định kết quả
Bất kỳ một doanh nghiệp nào bất kể là kinh doanh thơng mại
hay sản xuất thì kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là
cực kỳ cần thiết, quyết định sự phát triển hay phá sản của doanh
nghiệp.
Nh chúng ta đã biết mục tiêu cuối cùng của mọi doanh nghiệp
là tối đa hoá lợi nhuận. Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, là
chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.Kết quả bán hàng là số chênh lệch giữa doanh thu bán
hàng và các khoản chi phí đã chi ra để có đợc doanh thu đó.Do đó,
kết quả bán hàng có ảnh hởng rất lớn đến tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Nếu quá trình tiêu thụ gặp khó khăn, doanh nghiệp sẽ
thua lỗ sẽ không có nguồn vốn để tiếp tục quá trình kinh doanh tiếp
theo, tất yếu sẽ dẫn doanh nghiệp đến bờ vực của sự phá sản. Còn
Đoàn Thị Xuân Nga Lớp : K40/21.02
Chuyên đề cuối khoá Học viện tài chính
nếu quá trình tiêu thụ thuận lợi thì đơng nhiên doanh nghiệp có
nguồn thu để tiếp tục kinh doanh và mở rộng các lĩnh vực hoạt động
kinh doanh của mình. Trong doanh nghiệp, kế toán là công cụ sắc
bén và hiệu quả nhất để phản ánh và giám đốc toàn diện mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh. Công tác bán hàng và xác định kết quả là
một nội dung chủ yếu của công tác kế toán để phản ánh hiệu quả sản
xuất kinh doanh của một doanh nghiệp trong một thời kỳ.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm sao để có đợc các thông tin đó
kịp thời, đầy đủ và chính xác. Muốn vậy thì kế toán bán hàng và xác
định kết quả phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Tổ chức chứng từ ghi chép ban đầu và trình tự luân chuyển chứng từ
hợp lý. Các chứng từ ban đầu phải đầy đủ, hợp pháp, luân chuyển khoa học,
tránh bỏ sót, tránh ghi chép trùng lắp, không quá phức tạp mà vẫn đảm bảo
yêu càu quản lý.
- Xác định đúng thời điểm hàng hoá đợc coi là tiêu thụ để kịp thời ghi
nhận doanh thu và lập báo cáo bán hàng. báo cao thờng xuyên, kịp thời tình
hình bán hàng và thanh toán với khách hàng chi tiêt theo từng loại hàng,tng
hợp đồng kinh tế.
- Xác định đúng và tập hợp đầy đủ các chi phí phát sinh đặc biệt là chi
phi bán hàng phát sinh trong quá trình tiêu thụ hàng hoá, phân bổ chi phí còn
lại cuối kỳ và kết chuyển chi phí cho hàng tiêu thụ trong kỳ để xác định kết
quả kinh doanh.
II. Những lý luận cơ bản về bán hàng và xác định kết quả
1. Kế toán nhiệm vụ bán hàng
Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hoá gắn với phần
lớn lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàng, đồng thời đợc khách hàng thanh toán
hoặc chấp nhận thanh toán. Quá trình bán hàng là quá trình chuyển hoá vốn
từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị "tiền tệ".
1.1 Các phơng thức bán hàng
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng hiện nay, việc lựa chọn áp dụng
các phơng thức bán hàng và các chính sách khuyến khích tiêu thu
góp phần quan trọng vào việc thực hiện kế hoạch tiêu thụ hàng hoá,
đồng thời giúp cho doanh nghiệp có cơ sở mở rộng, chiếm lĩnh thị tr-
Đoàn Thị Xuân Nga Lớp : K40/21.02
Chuyên đề cuối khoá Học viện tài chính
ờng, Phơng thức bán hàngcó ảnh hởng trực tiếp đến việc sử dụng các
tài khoản kế toán phản ánh tình hình xuất kho hàng hoá. Đồng thời
nó có tính quyết định đối với việc xác định thời điểm bán hàng, hình
thành doanh thu bán hàng và tiết kiệm chi phí bán hàng để tăng lợi
nhuận.
Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất thờng sử dụng các phơng thức
bán hàng sau:
Bán hàng theo phơng thức gửi hàng :
Theo phơng này, định kỳ doanh nghiệp gửi hàng cho khách hàngcơ
sở của thoả thuận trong hợp đồng mua bán giữa hai bên và giao hàng
tại địa điểm đã quy ớc trong hợp đồng. Khi xuất kho gửi hàng đi,
hàng vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nên cha xác định là
đã tiêu thụ do đó cha đợc hạch toán ngay vào doanh thu, chỉ hạch
toán váo doanh thu khi:
+ Doanh nghiệp đã nhận đợc tiền hàng của khách hàng trả( tiền mặt,
giấy báo có của ngân hàng, séc thanh toán ).
+ Khách hàng đã nhận đợc hàng và chấp nhận thanh toán.
+ Khách hàng đã ứng trớc tiền mua hàng về số hàng gửi đi bán.
+ Số hàng gửi đi bán áp dụng phơng thức thanh toán theo kế hoạch
thông qua ngân hàng.
Bán hàng theo phơng thức giao hàng trực tiếp :
Theo phong thức này bên khách hàng uỷ quyền cho cán bộ nghiệp vụ
đến nhận hàng tại kho của doanh nghiệp. Khi nhận hàng xong, Ngời
nhận ký vào hoá đơn bán hàng Khi đó hàng mới đợc doanh
nghiệp coi là tiêu thụ và hạch toán vào doanh thu ngay.
Bán hàng giao thẳng không qua nhập kho :
Theo phơng thức bán hàng này, doanh nghiệp mua hàng của ngời
cung cấp bán thẳng cho khách hàng không qua kho của daonh
nghiệp. Nh vậy, nghiệp vụ mua bán diễn ra đồng thời. Phơng thức
này đợc chia làm hai trờng hợp :
- Mua hàng giao bán thẳng cho ngời mua.
- Bán hàng giao tay ba - bên cung cấp, doanh nghiệp và ngời mua cùng
giao nhận hàng. Trờng hợp này khi bên mua nhận hàng và xác nhận vào hoá
Đoàn Thị Xuân Nga Lớp : K40/21.02
Chuyên đề cuối khoá Học viện tài chính
đơn bán hàng thì hàng đó đợc xác nhận là tiêu thụ. Phơng thức này chủ yếu
áp dụng trong các doanh nghiệp thơng mại.
Bán hàng trả góp, trả chậm :
Theo phơng thức này, khi giao hàng cho ngời mua thì số hàng đó đợc
coi là tiêu thụ và doanh nghiệp mất quyền sở hữu về số hàng đó. Ng-
ời mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua, số tiền còn lại
ngời mua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ
lãi nhất định. Thông thờng thì số tiền trả ở các kỳ sau phải bằng nhau
bao gồm một phần tiền gốcvà một phần lãi trả chậm.
Phơng thức bán hàng trao đổi hàng :
Theo phơng thức này, doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng và đổi
lại khách hàng giao cho doanh nghiệp vật t, hàng hoá tơng đơng. Ph-
ơng thức này có thể chia làm ba trờng hợp :
- Xuất kho lấy hàng ngay.
- Xuất hàng trớc lấy vật t, hàng hoá sau .
- Nhận hàng trớc, xuất hàng trả sau.
Tuy nhiên trong các doanh nghiệp thơng mại thì phơng thức bán
hàng có khác đôi chút, Bán hàng trong doanh nghiệp thơng mại chỉ
bao gồm hai khâu : khâu bán buôn và khâu bán lẻ.
a. Bán buôn hàng hoá
Bán buôn hàng hoá thờng đợc hiểu là bán với khối lợng lớn. Và trong
bán buôn hàng hoá thờng sử dụng các phơng thức bán hàng sau:
- Bán buôn qua kho :
Theo phơng thức này, hàng hoá xuất từ kho của doanh nghiệp thơng
mại để bán cho ngời mua. Phơng thức này lại phân biệt thành hai
hình thức là : Bán hàng trực tiếp qua kho và bán qua kho theo hình
thức chuyển hàng.
+ Bán trực tiếp qua kho:
Theo hình thức này, doanh nghiệp xuất hàng từ kho giao bán trực
tiếp cho ngời mua do bên mua uỷ nhiệm đến nhận hàng trực tiếp.
Chứng từ bán hàng trong trờng hợp này là hoá đơn hoặc phiếu xuất
kho do doanh nghiệp lập. Hàng hóa đợc coi là bán khi ngời mua đã
ký nhận hàng và ký xác nhận trên chứng từ bán hàng, còn việc thanh
Đoàn Thị Xuân Nga Lớp : K40/21.02
Chuyên đề cuối khoá Học viện tài chính
toán tiền hàng với bên mua tuỳ thuộc vào hợp đồng đã ký giữa hai
bên.
+ Bán hàng qua kho theo hình thức chuyển hàng :
Theo hình thức này, doanh nghiệp xuất hàng từ kho chuyển đi cho
ngời mua theo hợp đồng bằng phơng tiện vận tải tự có hoặc thuê
ngoài. Hàng hoá gửi đi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,
khi nào bên mua đã nhận đợc hàng và chấp nhận thanh toán thì mới
chuyển quyền sở hữu và doanh nghiệp coi đó là thời điểm hàng gửi
đi đợc coi là đã bán. Chi phí vận chuyển do doanh nghiệp chịu hoặc
do bên mua phải trả tuỳ theo điều kiện quy định trong hợp đồng đã
ký. Chứng từ trong hình thức này là hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn
kiêm phiếu xuất kho do doanh nghiệp lập.
- Bán buôn vận chuyển thẳng:
Đây là trờng hợp tiêu thụ hàng hoá bán cho khách hàng không qua
nhập kho của doanh nghiệp. Doanh nghiệp mua hàng hoá của bên
cung cấp để bán thẳng cho ngời mua.Phơng thức này bao gồm : Bán
vận chuyển thẳng trực tiếp và bán vận chuyển theo hình thức chuyển
hàng.
b. Bán lẻ hàng hoá
Trong khâu bán lẻ,chủ yếu là bán hàng thu bằng tiền mặt, và thờng
thì hàng hoá xuất giao trực tiếp cho khách hàng và thu tiền trong
cùng một thời điểm. Vì vậy thời điểm tiêu thụ đối với khâu bán lẻ đ-
ợc xác định ngay khi giao hàng hoá cho khách hàng.
Bán lẻ cũng có nhiều hình thức khác nhau. Nhng chủ yếu bao gồm
hai hình thức sau:
- Bán lẻ thu tiền trực tiếp :
Theo phơng thức bán hàng này, nhân viên bán hàng hoàn toàn chịu
trách nhiệm vật chất về số hàng đã nhận để bán ở quầy hàng, trực
tiếp thu tiền và hàng cho khách hàng mua đồng thời ghi chép vào thẻ
quầy hàng. Nghiệp vụ bán hàng hoàn thành trực diện với ngời mua
hàng và thờng không lập chúng từ cho từng nghiệp vụ bán hàng.
Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý bán lẻ của từng quầy hàng, thì cuối
ca, cuối ngày hoặc định kỳ ngắn, nhân viên bán hàng kiểm kê lợng
hàng hoá hiện còn ở quầy hàng và dựa vào quan hệ cân đối hàng luân
Đoàn Thị Xuân Nga Lớp : K40/21.02
Chuyên đề cuối khoá Học viện tài chính
chuyển trong ca, trong ngày để xác định số lợng hàng bán ra của
từng mặt hàng,lập báo cáo bán hàng trong ca, trong ngày. Tiền bán
hàng hàng ngày nhân viên bán hàng kê vào giấy nộp tiền để nộp cho
thủ quỹ của doanh nghiệp.
Phơng thức bán hàng giúp cho việc bán hàng đợc nhanh chóng hơn
tuy nhiên nó lại bộc lộ nhợc điểm :
+ Nếu quản lý không chặt chẽ thì sẽ xảy ra hiện tợng lạm dụng tiền
bán hàng.
+ Do ngời bán hàng vừa thu tiền vừa bán hàng nên trong những giờ
cao điểm dễ gây nhầm lẫn, mất mát.
- Phơng thức bán lẻ thu tiền tập trung :
Theo phơng thức này, nghiệp vụ thu tiền của khách hàng và giao
hàng trả khách là tách rời nhau. Mỗi quầy hoặc liên quầy bố trí nhân
viên thu ngân làm nhiệm vụ thu tiền của khách, viết hoá đơn hoặc
giao tích kê cho khách hàng để khách hàng ra nhận hàng ở quầy
hàng do nhân viên bán hàng giao. Cuối ca, cuối ngày nhân viên thu
ngân làm giấy nộp tiền bán hàng, nhân viên bán hàng căn cứ vào hoá
đơn và tích kê giao hàng trả khách hoặc kiểm kê hàng còn lại cuối
ca, cuối ngày để xác định lợng hàng đã trả khách hàng, lập báo cáo
bán hàng trong ca, trong ngày. Báo cáo bán hàng đợc coi là căn cứ để
hạch toán doanh thu và đối chiếu với số tiền đã nộp tiền trên giấy
nộp tiền.
Phơng pháp này tách rời giữa ngời bán hàng và ngời thu tiền do đó
tránh đợc những nhầm lẫn, sai sót, mất mát. Tuy nhiên phơng thức
này có nhợc điểm là gây phiền hà cho khách hàng. Do vậy hiện nay
phơng pháp này ít đợc áp dụng, chủ yếu là áp dung cho những mặt
hàng có giá trị lớn.
Ngoài hai phơng thức trên trong bán lẻ còn có các hình thức khác nh
bán lẻ tự phục vụ, bán hàng tự động
1.2. Kế toán doanh thu bán hàng
1.2.1.kế toán doanh thu bán hàng
Doanh thu là tổng các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu đợc trong kỳ
hạch toán, phát sinh từ hoạt động SXKD thông thờng của doanh nghiệp góp
phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Đoàn Thị Xuân Nga Lớp : K40/21.02
Chuyên đề cuối khoá Học viện tài chính
Doanh thu đợc xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ
thu đợc sau khi đã trừ đi các khoản chiết khấu thơng mại, giảm gái hàng bán
và hàng bán bị trả lại.
Các loại doanh thu: Doanh thu theo từng loại hình SXKD và bao gồm:
- Doanh thu bán hàng
- Doanh thu cung cấp dịch vụ
- Doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi tức đợc chia.
- Ngoài ra còn các khoản thu nhập khác.
Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền thu đợc hoặc số thu đợc phải thu
tính theo giá bán của số sản phẩm, hàng hoá đợc xác định là đã bán hay đã
tiêu thụ. Hay nói cách khác đó chính là toàn bộ số tiền bán hàng.
Đối với mỗi một đối tợng nộp thuế khác nhau thì nội dung của doanh
thu bán hàng cũng khác nhau.
Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ thuế thì
doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền bán hàng( cha có thuế GTGT) bao gồm
cả phụ thu và phí thu bên ngoài giá bán( nếu có) mà doanh nghiệp đợc hởng.
Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp, đối với
những sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tợng nộp thuế GTGT thì
doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền bán hàng thu đợc( bao gồm cả thuế)
phụ thu và phí thu bên ngoài( nếu có) mà doanh nghiệp đợc hởng.
Ngoài việc hạch toán doanh thu bán hàng, kế toán còn phải theo dõi tình
hình thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nớc thông qua các khoản thuế tiêu
thụ nh: thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu.
Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, để đẩy mạnh việc bán ra thu
hồi tiền nhanh chóng tiền hàng, doanh nghiệp cần có chế độ khuyến
khích đối với khách hàng. Nếu khách hàng mua với khối lợng hàng
hoá lớn sẽ đợc doanh nghiệp giảm giá, nếu khách hàng thanh toán
sớm tiền hàng sẽ đợc doanh nghiệp chiết khấu thanh toán, còn nếu
hàng hoá của doanh nghiệp kém phẩm chất thì khách hàng có thể
không chấp nhận thanh toán và trả lại hàng hoặc yêu cầu doanh
nghiệp giảm giá.Do vậy kế toán hạch toán cả các khoản giảm trừ
doanh thu nh: chiết khấu thơng mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị
trả lại. Các khoản này sẽ không đợc hạch toán vào doanh thu. Chỉ có
các khoản thoả mãn các điều kiện sau mới đợc ghi nhận là doanh thu
Đoàn Thị Xuân Nga Lớp : K40/21.02
Chuyên đề cuối khoá Học viện tài chính
bán hàng:(theo chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập
khác):
(1) Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho ngời mua;
(2) Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa nh ngời
sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
(3) Doanh thu đợc xác định tơng đối chắc chắn;
(4) Doanh nghiệp đã thu đợc hoặc sẽ thu đợc lợi ích kinh tế từ giao dịch
bán hàng.
(5) Xác định đợc chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
a. Chứng từ và tài khoản sử dụng
Chứng từ kế toán thờng sử dụng để hạch toán doanh thu bán hàng
- Hoá đơn GTGT MS 01/GTKT-3LL áp dụng cho các doanh nghiệp
thuộc đối tợng nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ.
- Hoá đơn bán hàng thông thờng MS 01/GTTT-3LL áp dụng cho
doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp.
- Phiếu xuất kho MS 02-VT.
- Bảng kê hàng gửi bán đã tiêu thụ.
- Các chứng từ thanh toán : Phiếu thu, Giấy báo ngân hàng
- Thẻ quầy hàng ( mẫu 15 - BH)
- Tờ khai thuế GTGT ( mẫu 07A/GTGT) và các chứng từ liên quan
khác nh phiếu nhập kho hàng bán bị trả lại.
Tuỳ theo từng doanh nghiệp có đặc thù thì các nghiệp vụ phát sinh
nh điều chuyển hàng hoá tiêu thụ có thể sử dụng phiếu xuất kho
kiêm vận chuyển nội bộ( MS 03 PXK-3LL), bảng kê bán lẻ hàng hoá
dịch vụ
Tài khoản sử dụng :
- Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán của hoạt
động sản xuất kinh doanh.
TK 511 không có số cuối kỳ, có 4 TK cấp 2:
+ TK 5111 : Doanh thu bán hàng hoá
+ TK 5112 : Doanh thu bán thành phẩm
Đoàn Thị Xuân Nga Lớp : K40/21.02
Chuyên đề cuối khoá Học viện tài chính
+ TK 5113 : Doanh thu cung cấp dịch vụ
+ TK 5114 : Doanh thu trợ cấp, trợ giá.
- Tài khoản 512 - Doanh thu nội bộ
Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của số sản
phẩm, hàng hoá, dịch vụ, lao vụ tiêu thụ trong nội bộ giữa các đơn vị
trực thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty hạch toán toàn
ngành.
TK 512 có 3 TK cấp 2 :
+ TK 5121 : Doanh thu bán hàng hoá
+ TK 5122 : Doanh thu bán thành phẩm
+ TK 5123 : Doanh thu cung cấp dịch vụ.
- Tài khoản 3331 - Thuế GTGT chi tiết 33311 - Thuế GTGT đầu ra
Nội dung : Tài khoản này phản ánh số thuế GTGT mà doanh nghiệp
phải nộp cho hàng hoá bán ra.
Tài khoản này áp dụng chung cho đối tợng nộp thuế GTGT theo ph-
ơng pháp khấu trừ thuế và đối tợng nộp thuế GTGT theo phơng pháp
trực tiếp.
- Tài khoản 3387 - Doanh thu cha thực hiện
Nội dung : Tài khoản này phản ánh các khoản doanh thu sau :
+ Số tiền nhận trớc nhiều năm về cho thuê tài sản( cho thuê hoạt
động)
+ Khoản chênh lệch giữa bán hàng trả chậm, trả góp theo cam kết
với giá bán trả ngay.
+ Khoản lãi nhận trớc khi cho vay vốn hoặc mua các công cụ nợ (trái
phiếu, tín phiếu )
Ngoài ra còn sử dụng một số tài khoản khác nh : TK 111, TK112,
TK131
b. Phơng pháp hạch toán
- Trờng hợp bán hàng trực tiếp cho khách hàng và bán hàng qua đại lý,
ký gửi hàng : Căn cứ vào hoá đơn GTGT phản ánh doanh thu bán hàng:
TK 911 TK 511 TK 111,112,131
(4) ( 1a & 1b )
Đoàn Thị Xuân Nga Lớp : K40/21.02
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét