Luận văn tốt nghiệp Vương Thị Lệ Hương
3.2 Phân loại TSCĐHH theo quyền sở hữu.
TSCĐHH của doanh nghiệp được phân thành TSCĐHH tự có và
TSCĐHH thuê ngoài.
- TSCĐHH tự có: là những TSCĐHH được đầu tư mua sắm, xây dựng
bằng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp như được cấp phát, vốn tự bổ sung,
vốn vay…
- TSCĐHH thuê ngoài: là những TSCĐHH doanh nghiệp đi thuê của
đơn vị, cá nhân khác, doanh nghiệp có quyền quản lý và sử dụng trong suốt
thời gian thuê theo hợp đồng, được phân thành:
+ TSCĐHH thuê tài chính: là những tài sản cố định mà doanh nghiệp
thuê của công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được
quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã
thoả thuận trong hợp đồng thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản
quy định tại hợp đồng thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của
tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
+ TSCĐHH thuê hợp đồng: mọi hợp đồng thuê tài sản cố định nếu
không thoả mãn các quy định trên được coi là tài sản cố định thuê hoạt động.
3.3 Phân loại TSCĐHH theo tình hình sử dụng.
- TSCĐHH đang dùng.
- TSCĐHH chưa cần dùng.
- TSCĐHH không cần dùng và chờ thanh lý.
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp nắm được tình hình sử dụng
tài sản cố định để có biện pháp tăng cường TSCĐHH hiện có, giải phóng
nhanh chóng các TSCĐHH không cần dùng, chờ thanh lý để thu hồi vốn.
3.4 Phân loại TSCĐHH theo mục đích sử dụng.
- TSCĐHH dùng trong sản xuất kinh doanh: là TSCĐHH đang sử dụng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đối với những tài sản này bắt buộc
doanh nghiệp phải tính và trích khấu hao và chi phí sản xuất kinh doanh.
Luận văn tốt nghiệp Vương Thị Lệ Hương
- TSCĐHH dùng trong hoạt động phúc lợi: là TSCĐHH mà đơn vị
dùng cho nhu cầu phúc lợi công cộng như nhà văn hoá, nhà trẻ, xe ca phúc
lợi…
- TSCĐHH chờ xử lý: TSCĐHH không cần dùng, chưa cần dùng vì
thừa so với nhu cầu hoặc không thích hợp với sự đổi mới công nghệ, bị hư
hỏng chờ thanh lý TSCĐHH tranh chấp chờ giải quyết. Những tài sản này cần
xử lý nhanh chóng để thu hồi vốn sử dụng cho việc đầu tư đổi mới TSCĐHH.
II. NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA KẾ TOÁN TSCĐHH.
TSCĐHH đóng một vai trò rất quan trọng trong công tác hạch toán kế
toán của doanh nghiệp vì nó là bộ phận chủ yếu trong tổng số tài sản của
doanh nghiệp nói chung cũng như TSCĐHH nói riêng. Cho nên để thuận lợi
cho công tác quản lý TSCĐHH trong doanh nghiệp, kế toán cần thực hiện tốt
các nhiệm vụ sau:
1. Ghi chép, phản ánh tổng hợp chính xác, kịp thời số lượng, giá trị
TSCĐHH hiện có, tình hình tăng giảm và hiện trạng TSCĐHH trong phạm vi
toàn đơn vị, cũng như tại từng bộ phận sử dụng TSCĐHH, tạo điều kiện cung
cấp thông tin để kiểm tra, giám sát thường xuyên việc giữ gìn, bảo quản, bảo
dưỡng TSCĐHH và kế hoạch đầu tư đổi mới TSCĐHH trong từng đơn vị.
2. Tính toán và phân bổ chính xác mức khấu hao TSCĐHH vào chi phí
sản xuất kinh doanh theo mức độ hao mòn của tài sản và chế độ quy định.
Tham gia lập kế hoạch sửa chữa và dự toán chi phí sửa chữa TSCĐHH, giám
sát việc sửa chữa TSCĐHH về chi phí và kết quả của công việc sửa chữa.
3. Tính toán phản ánh kịp thời, chính xác tình hình xây dựng trang bị
thêm, đổi mới, nâng cấp hoặc tháo dỡ bớt làm tăng giảm nguyên giá
TSCĐHH cũng như tình hình quản lý, nhượng bán TSCĐHH.
4. Hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị, các bộ phận trực thuộc trong các
doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ ghi chép ban đầu về TSCĐHH, mở các
sổ, thẻ kế toán cần thiết và hạch toán TSCĐHH theo chế độ quy định.
III. ĐÁNH GIÁ TSCĐHH
Mục đích của đánh giá TSCĐHH là nhằm đánh giá đúng năng lực
SXKD của doanh nghiệp, thực hiện tính khấu hao đúng để đảm bảo thu hồi
Luận văn tốt nghiệp Vương Thị Lệ Hương
vốn đầu tư để tái sản xuất TSCĐHH khi nó hư hỏng và nhằm phân tích đúng
hiệu quả sử dụng TSCĐHH của doanh nghiệp.
Đánh giá TSCĐHH là xác định giá trị TSCĐHH bằng tiền theo những
nguyên tắc nhất định. TSCĐHH được đánh giá lần đầu và có thể đánh giá lại
trong quá trình sử dụng. TSCĐHH được đánh giá theo nguyên giá, giá trị đã
hao mòn và giá trị còn lại.
1. Nguyên giá TSCĐHH ( giá trị ghi sổ ban đầu )
Nguyên giá TSCĐHH là toàn bộ các chi phí bình thường và hợp lý mà
doanh nghiệp phải bỏ ra để có tài sản đó và đưa TSCĐHH đó vào địa điểm
sẵn sàng sử dụng.
TSCĐHH được hình thành từ các nguồn khác nhau, do vậy nguyên giá
TSCĐHH trong từng trường hợp được tính toán xác định như sau:
1.1 Nguyên giá TSCĐHH do mua sắm.
- TSCĐHH mua sắm: nguyên giá TSCĐHH mua sắm bao gồm giá
mua ( trừ các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá), các khoản thuế ( không
bao gồm các khoản thuế được hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp đến
việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như chi phí chuẩn bị mặt
bằng, chi phí vận chuyển và bốc xếp ban đầu, chi phí lắp đặt, chạy thử ( trừ
các khoản thu hồi về sản phẩm, phế liệu do chạy thử), chi phí chuyên gia và
các chi phí liên quan trực tiếp khác.
- Trường hợp TSCĐHH được mua sắm theo phương thức trả chậm:
Nguyên giá TSCĐHH đó được phản ánh theo giá mua trả ngay tại thời điểm
mua. Khoản chênh lệch giữa giá mua trả chậm và giá mua trả tiền ngay được
hạch toán và chi phí theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó được
tính vào nguyên giá TSCĐHH theo quy định chuẩn mực chi phí đi vay.
- Trường hợp TSCĐHH do đầu tư xây dựng cơ bản theo phương thức
giao thầu: Đối với TSCĐHH hình thành do đầu tư xây dựng, các chi phí liên
quan trực tiếp khác và lệ phí trước bạ (nếu có).
Trường hợp mua TSCĐHH là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền
sử dụng phải được xác định riêng biệt và ghi nhận là TSCĐHH vô hình.
1.2 TSCĐHH tự xây dựng hoặc tự chế.
Luận văn tốt nghiệp Vương Thị Lệ Hương
Nguyên giá TSCĐHH tự xây dựng là giá thành thực tế của TSCĐHH tự
xây hoặc tự chế cộng (+) chi phí lắp đặt, chạy thử. Trường hợp doanh nghiệp
dùng sản phẩm do mình sản xuất ra để chuyển thành TSCĐHH thì nguyên giá
là giá thành sản xuất sản phẩm đó cộng (+) các chi phí trực tiếp liên quan đến
việc đưa TSCĐHH vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Trong các trường hợp
trên, mọi khoản lãi nội bộ không được tính vào nguyên giá của tài sản đó. Các
khoản chi phí không hợp lệ như nguyên liệu, vật liệu lãng phí, lao động hoặc
các khoản chi phí khác sử dụng vượt quá mức bình thường trong quá trình
xây dựng hoặc tự chế không được tính vào nguyên giá TSCĐHH.
1.3 TSCĐHH thuê tài chính.
Trường hợp đi thuê TSCĐHH theo hình thức thuê tài chính, nguyên giá
TSCĐHH được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán.
1.4 TSCĐHH mua dưới hình thức trao đổi.
Nguyên giá TSCĐHH mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐHH
không tương tự hoặc tài sản khác được xác định theo giá trị hợp lý của
TSCĐHH nhận về, hoặc giá trị hợp lý của tài sản đem trao đổi, sau khi điều
chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu về.
Nguyên giá TSCĐHH mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐHH
tương tự hoặc có thể hình thành do được bán để đổi lấy quyền sở hữu một tài
sản tương tự (tài sản tương tự là tài sản có công dụng tương tự, trong cùng
lĩnh vực kinh doanh và có giá trị tương đương). Trong cả hai trường hợp
không có bất kỳ khoản lãi hay lỗ nào được ghi 4 nhận trong quá trình trao đổi.
Nguyên giá TSCĐHH nhận về được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐHH đem
trao đổi.
1.5 TSCĐHH tăng từ các nguồn khác.
- Nguyên giá TSCĐHH thuộc vốn tham gia liên doanh của đơn vị
khác gồm: Giá trị TSCĐHH do các bên tham gia đánh giá và các chi phí vận
chuyển lắp đặt (nếu có )
- Nguyên giá TSCĐHH được cấp gồm: giá ghi trong “ Biên bản giao
nhận TSCĐ” của đơn vị cấp và chi phí lắp đặt chạy thử ( nếu có ).
Luận văn tốt nghiệp Vương Thị Lệ Hương
- Nguyên giá TSCĐHH được tài trợ, biếu tặng: Được ghị nhận ban đầu
theo giá trị hợp lý ban đầu. Trường hợp không ghi nhận theo giá trị hợp đồng
ban đầu thì doanh nghiệp ghi nhận theo giá trị danh nghĩa cộng các chi phí
liên quan trực tiếp dến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
Đánh giá TSCĐHH theo nguyên giá có tác dụng trong việc đánh giá
năgn lực, trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, quy mô vốn đầu tư ban đầu
của doanh nghiệp, đồng thời làm cơ sở cho việc tính khấu hao, theo dõi tình
hình thu hồi vốn đầu tư…
Nguyên giá TSCĐHH hữu hình chỉ thay đổi trong các trường hợp:
+ Đánh giá lại TSCĐHH.
+ Xây lắp, trang bị thêm TSCĐHH.
+ Cải tạo, nâng cấp làm tăng năng lực và kéo dài thời gian hữu dụng
của TSCĐHH.
+ Tháo dỡ một hoặc một số bộ phận của TSCĐHH.
2.Giá trị hao mòn của TSCĐHH.
Trong quá trình sử dụng TSCĐHH bị hao mòn dần về giá trị và hiện
vật, phần giá trị hao mòn được dịch chuyển vào giá trị sản phẩm làm ra dưới
hình thức trích khấu hao. Thực chất khấu hao TSCĐHH chính là sự biểu hiện
bằng tiền của phần giá trị TSCĐHH đã hao mòn. Mục đích của trích khấu hao
TSCĐHH là biện pháp chủ quan nhằm thu hồi vốn đầu tư để tái tạo lại
TSCĐHH khi nó bị hư hỏng.
3. Xác định giá còn lại của TSCĐHH.
Giá trị còn lại của TSCĐHH là phần chênh lệch giữa nguyên giá
TSCĐHH và số khấu hao luỹ kế
Giá trị còn lại của TSCĐHH được xác định theo công thức:
= -
Nguyên giá TSCĐHH được lấy theo sổ kế toán sau khi đã tính đến các
chi phí phát sinh ghi nhận ban đầu.
Luận văn tốt nghiệp Vương Thị Lệ Hương
Trường hợp nguyên giá TSCĐHH được đánh giá thì giá trị còn lại của
TSCĐHH được điều chỉnh theo công thức:
= x
Đánh giá TSCĐHH theo giá trị còn lại giúp doanh nghiệp xác định
được số vốn chưa thu hồi của TSCĐHH biết được hiện trạng của TSCĐHH là
cũ hay mới để có phương hướng đầu tư và kế hoạch bổ sung thêm TSCĐHH
và có biện pháp để bảo toàn được vốn cố định.
IV. KẾ TOÁN TSCĐHH TRONG DOANH NGHIỆP.
1. Tổ chức kế toán chi tiết TSCĐHH
1.1 Kế toán chi tiết TSCĐHH ở địa điểm sử dụng bảo quản.
Để quản lý, theo dõi TSCĐHH theo địa điểm sử dụng người ta mở “ sổ
TSCĐHH theo đơn vị sử dụng” cho từng đơn vị, bộ phận. Sổ ngày dùng để
theo dõi tình hình tăng giảm TSCĐHH trong suốt thời gian sử dụng tại đơn vị
trên cơ sở các chứng từ gốc về tăng, giảm TSCĐ.
1.2 Kế toán chi tiết TSCĐHH ở bộ phận kế toán.
Tại phòng kế toán ( kế toán TSCĐ) sử dụng thẻ TSCĐHH để theo dõi
chi tiết cho từng TSCĐHH của doanh nghiệp, tình hình thay đổi nguyên giá
và giá trị hao mòn đã trích hàng năm của từng TSCĐHH. Thẻ TSCĐHH do
kế toán TSCĐHH lập cho từng đối tượng ghi TSCĐHH.
Kế toán lập thẻ TSCĐHH căn cứ vào:
- Biên bản giao nhận TSCĐHH.
- Biên bản đánh giá lại TSCĐHH.
- Biên bản thanh lý TSCĐHH.
Các tài liệu kỹ thuật có liên quan.
* Thẻ TSCĐHH được lập một bản và lưu ở phòng kế toán trong suốt
quá trình sử dụng. Toàn bộ thẻ TSCĐHH được bảo quản tập trung tại phòng
thẻ, trong đó chia làm nhiều ngăn để xếp thẻ theo yêu cầu phân loại
TSCĐHH. Mỗi ngăn dùng để xếp thẻ của một nhóm TSCĐHH, chi tiết theo
Luận văn tốt nghiệp Vương Thị Lệ Hương
đơn vị và số hiệu TSCĐHH. Mỗi nhóm này được tập trung một phiếu hạch
toán tăng, giảm hàng tháng trong năm. Thẻ TSCĐHH sau khi lập xong phải
được đăng ký vào sổ TSCĐHH.
* Sổ TSCĐHH: Mỗi loại TSCĐHH ( nhà cửa, máy móc, thiết bị… )
được mở riêng một số hoặc một số trang trong sổ TSCĐHH để theo dõi tình
hình tăng, giảm, khấu hao của TSCĐHH trong từng loại.
2. Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ.
Kế toán tổng hợp nhằm ghi chép phản ánh về giá trị các TSCĐHH hiện
có, phản ánh tình hình tăng giảm, việc kiểm tra và giữ gìn, sử dụng, bảo quản,
TSCĐHH và kế hoạch đầu tư đổi mới trong doanh nghiệp, tính toán phân bổ
chính xác số khấu hao TSCĐHH và chi phí sản xuất kinh doanh, qua đó cung
cấp thông tin về vốn kinh doanh, tình hình sử dụng vốn và TSCĐHH thể hiện
trên bảng cân đối kế toán cũng như căn cứ để tính hiệu quả kinh tế khi sử
dụng TSCĐHH đó.
2.1 Tài khoản kế toán sử dụng.
Theo chế độ hiện hành việc hạch toán TSCĐHH được theo dõi chủ yếu
trên tài khoản 211 - TSCĐHH : Tài khoản (TK) này dùng để phản ánh giá trị
hiện có và biến động tăng giảm của TSCĐHH hữu hình của doanh nghiệp
theo nguyên giá.
Tài khoản 211 có các TK cấp 2 sau:
TK 2111 - Nhà cửa vật kiến trúc
TK2113 - Máy móc thiết bị
TK 2114 - Phương tiện vận tải truyền dẫn
TK 2115 - Thiết bị dụng cụ quản lý
Ngoài ra, trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số tài
khoản khác có liên quan như tài khoản 11, 112, 214, 331 …
2.2 Trình tự kế toán tăng, giảm TSCĐHH.
Trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, TSCĐHH tăng lên do
nhiều nguyên nhân như: Mua sắm trực tiếp, do nhận bàn giao công trình xây
dựng cơ bản hoàn thành, nhận góp vốn liên doanh, nhận lại vốn đem đi liên
doanh trước đây bằng TSCĐHH, tăng TSCĐHH do được cấp phát, viện trợ,
biếu tặng …
Luận văn tốt nghiệp Vương Thị Lệ Hương
Trình tự hạch toán tăng TSCĐHH được thể hiện trên sơ đồ 1, 2, 3, 4, 5,
6, 7, 8, 9, 10, 11.
2.3 Kế toán TSCĐHH thuê ngoài.
Do nhu cầu của sản xuất kinh doanh, trong quá trình hạch toán, doanh
nghiệp có nhu cầu sử dụng thêm một số TSCĐHH. Có những TSCĐHH mà
doanh nghiệp không có nhưng lại có nhu cầu sử dụng và buộc phải thuê nếu
chưa có điều kiện mua sắm, TSCĐHH đi thuê thường có hai dạng:
+ TSCĐHH thuê tài chính.
+TSCĐHH thuê hoạt động.
2.3.1 TSCĐHH thuê tài chính.
Để theo dõi tình hình thuê TSCĐHH dài hạn, kế toán sử dụng tài khoản
212- TSCĐHH thuê tài chính, TK 342, TK 214 …
TK 212 có kết cấu như sau:
- Bên nợ: Nguyên giá TSCĐHH thuê tài chính tăng trong kỳ.
- Bên có: Nguyên giá TSCĐHH thuê tài chính giảm do hoàn trả lại khi
kết thúc hợp đồng.
- Số dư nợ: Nguyên giá TSCĐHH thuê tài chính hiện có tại doanh nghiệp.
2.3.2 Kế toán TSCĐHH thuê hoạt động.
Khi thuê TSCĐHH theo phương thức hoạt động, doanh nghiệp cũng
phải ký hợp đồng với bên cho thuê, ghi rõ TSCĐHH thuê, thời gian sử dụng,
giá cả, hình thức thanh toán … doanh nghiệp phải theo dõi TSCĐHH thuê
hoạt động ở tài khoản ngoài bảng: TK001 - TSCĐHH thuê ngoài.
Các khoản thanh toán tiền thuê hoạt động ( không bao gồm chi phí dịch
vụ, bảo hiểm và bảo dưỡng ) phải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh
doanh theo phương pháp đường thẳng cho suốt thời hạn thuê tài sản, không
phụ thuộc vào phương thức thanh toán, trừ khi áp dụng phương pháp tính
khác hợp lý hơn.
2.4 Kế toán tổng hợp giảm TSCĐHH
TSCĐHH giảm do nhiều nguyên nhân như giảm do thanh lý, nhượng
bán TSCĐ, đem TSCĐHH đi góp vốn liên doanh…
Luận văn tốt nghiệp Vương Thị Lệ Hương
Trong mọi trường hợp, kết toán phải đầy đủ thủ tục, xác định đúng
những khoản thiệt hại và thu nhập (nếu có). Căn cứ vào chứng từ đó, kế toán
tiến hành phân loại từng TSCĐHH giảm để ghi.
2.5 Kế toán cho thuê TSCĐHH.
2.5.1 Kế toán cho thuê TSCĐHH tài chính.
Bên cho thuê phải ghi nhận giá trị tài sản cho thuê tài chính là khoản
thu trên Bảng cân đối kế toán bằng giá trị đầu tư thuần trong hợp đồng cho
thuê tài chính, các khoản thu về cho thuê tài chính phải đựơc ghi nhận lại các
khoản thu vốn gốc và doanh thu tài chính từ khoản đầu tư và dịch vụ của bên
cho thuê.
Bên cho thuê phân bổ doanh thu tài chính trong suốt thời gian cho thuê
dựa trên lãi suất thuê định kỳ cố định trên số dư đầu tư thuần cho thuê tài
chính. Các khoản thanh toán tiền thuê tài chính cho từng kỳ kế toán ( không
bao gồm chi phí cung cấp dịch vụ) được trừ vào đầu tư gộp để làm giảm đi số
vốn gốc và doanh thu tài chính chưa thực hiện.
Các chi phí trực tiếp ban đầu để tạo ra doanh thu tài chính như tiền hoa
hồng và chi phí pháp lý phát sinh như đàm phán ký kết hợp đồng thường do
bên cho thuê chi trả và được ghi nhận ngay vào chi phí trong kỳ khi phát sinh
hoặc được phân bổ dần vào chi phí theo thời hạn cho thuê tài sản phù hợp với
việc ghi nhận doanh thu.
2.5.2 Kế toán cho thuê TSCĐHH hoạt động.
Bên cho thuê phải ghi nhận tài sản cho thuê hoạt động trên Bảng cân
đối kế toán theo cách phân loại tài sản của doanh nghiêp. Doanh thu cho thuê
hoạt động phải được ghi nhận theo phương pháp đường thẳng trong suốt thời
hạn cho thuê, không phụ thuộc vào phương thức thanh toán, trừ khi áp dụng
phương pháp hợp lý hơn.
Chi phí cho thuê hoạt động, bao gồm cả khấu hao tài sản cho thuê,
được ghi nhận là chi phí trong kỳ phát sinh.
Chi phí trực tiếp ban đầu để tạo ra doanh thu từ nghiệp vụ cho thuê hoạt
động được ghi nhận vào chi phí trong kỳ khi phát sinh hoặc phân bổ dần vào
chi phí trong suốt thời hạn cho thuê phù hợp với việc ghi nhận doanh thu cho
thuê hoạt động.
Luận văn tốt nghiệp Vương Thị Lệ Hương
Khấu hao tài sản cho thuê phải dựa trên một cơ sở nhất quản với chính
sách khấu hao của bên cho thuê áp dụng đối với những tài sản tương tự, và chi
phí khấu hao được tính theo quy định của Chuẩn mực kế toán “Tài sản cố định”.
Bên cho thuê là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp thương mại ghi
nhận doanh thu từ nghiệp vụ cho thuê hoạt động theo từng thời gian cho thuê.
V. KẾ TOÁN KHẤU HAO TSCĐHH.
1. Khái niệm về khấu hao TSCĐHH .
Hao mòn tài sản cố định là hiện tượng khách quan làm giảm giá trị và
giá trị sử dụng của TSCĐHH. Để thu hồi được vốn đầu tư để tái tạo lại
TSCĐHH khi nó bị hư hỏng nhằm mở rộng sản xuất phục vụ kinh doanh
doanh nghiệp phải tiến hành trích khấu hao và quản lý khấu hao TSCĐHH
bằng cách tính và phản ánh vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Như vậy, có thể thấy khấu hao và hao mòn có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, có hao mòn mới dẫn tới khấu hao. Nếu hao mòn mang tính tất yếu
khách quan thì khấu hao mang tính chủ quan vì do con người tạo ra và cũng
do con người thực hiện. Khấu hao không phản ánh chính xác phần giá trị hao
mòn của TSCĐHH khi đưa vào sử dụng mà xuất hiện do mục đích, yêu cầu
quản lý và sử dụng tài sản của con người.
Hao mòn TSCĐHH có 2 loại: Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
- Hao mòn hữu hình : là sự hao mòn về mặt vật chất do quá trình sử
dụng, bảo quản, chất lượng lắp đặt tác động của yếu tố tự nhiên.
- Hao mòn vô hình: là sự hao mòn về mặt giá trị do tiến bộ của khoa
học kỹ thuật, do năng suất lao động xã hội tăng lên làm cho những tài sản
trước đó bị mất giá một cách vô hình.
2. Các phương pháp khấu hao.
Việc tính khấu hao có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau.
Việc lựa chọn phương pháp tính khấu hao nào là tuỳ thuộc vào quy định của
nhà nước và chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp và yêu cầu quản lý
của doanh nghiệp.
Theo quyết định 206/2003/QĐ - BTC ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính “về ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản
cố định”. Có những phương pháp trích khấu hao như sau:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét