Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Dự án là gì?

CĐ Tin 2-K11 Môn: QLDAPM
I, Dự án là gì?
Dự án là một tập hợp các công việc, được thực hiện bởi một tập thể, nhằm đạt được
một kết quả dự kiến, trong một thời gian dự kiến, với một kinh phí dự kiến.
Như vậy khái niệm dự án liên quan đến các yếu tố sau:
Kết quả dự án là một sản phẩm hoàn toàn xác định, vì vậy sản phẩm cần được mô tả về
các đặc trưng, tính năng, tác dụng, giá trị sử dụng và hiệu quả mang lại,…
• Dự án do một nhóm người thực hiện: Trước hết những người thực hiện phải có những kỹ
năng và ngiệp vụ phù hợp với yêu cầu tạo ra sản phẩm, mỗi người chịu trách nhiệm hoàn
thành công việc được giao về một phần nào đó trong sản phẩm. Nhóm làm việc này cần có
những cách tổ chức quản lý làm việc sao cho năng lực của mỗi người được sử dụng một
cách tốt nhất để tạo ra những sản phẩm tốt nhất.
• Thời gian: Ước lượng thời gian hình thành nên cơ sở cho lịch trình dự án. Kết thúc dự án
đúng hạn là một trong những thách thức lớn nhất, trong khi thời gian có độ linh hoạt bé
nhất. Vì vậy việc quản lý thời gian đảm bảo hoàn tất dự án đúng hạn.
• Kinh phí : Chi phí được tính toán để đạt được một mục tiêu rõ ràng đảm bảo cho dự án
được hoàn tất trong sự cho phép của ngân sách.
Ngoài ra thì dự án còn liên quan đến các yếu tố cũng không kém phần quan trọng sau: Chất
lượng,phạm vi hoạt động, rủi ro, phối hợp,…
-Ví dụ: công trình xây dựng nhà đa năng 17 tầng DH Công Nghiệp Hà Nội do trường làm
chủ đầu tư, được thực hiện bởi công ty xây dựng số 12 với thời gian hoàn thành trong 2 năm
dự kiến hoàn thành 6-2012, với kinh phí dự kiến 100 tỷ VNĐ.
=> Dự án công nghệ thông tin là gì?
Dự án Công Nghệ thông tin trước tiên là 1 dự án bình thường nhưng có
các đặc điểm sau:
- Là một dự án được thực hiện trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
- Tuân thủ các nguyên tắc công nghệ thông tin: Đi theo quy trình sản xuất và chế tạo
ra sản phẩm công nghệ thông tin.
- Tuân thủ các nguyên tắc của một dự án nói chung.
 Đặc trưng của các hoạt động dự án.
- Sản phẩm đơn chiếc – duy nhất
- Chỉ làm một lần
- Người tham gia thường có chuyên môn khác nhau, được tập hợp lại
- Có lịch trình chặt chẽ
- Kết quả không chắc chắn: Sản phẩm đáp ứng yêu cầu và thỏa mãn ràng buộc – dự
án thành công, ngược lại - dự án là thất bại.
GVHD: Nguyễn Đức Lưu Trang:1
CĐ Tin 2-K11 Môn: QLDAPM
- Trong mỗi dự án khác nhau thì các đặc trưng này đặt ra nhiều vấn đề cần được
nghiên cứu và giải quyết.
 Dự án kết thúc khi nào?
- Dự án kết thúc khi xảy ra các trường hợp sau:
- Hoàn thành mục tiêu đề ra và nghiệm thu kết quả (kết thúc tốt đẹp) trước thời hạn.
- Hết kinh phí trước thời hạn (Kết thúc thất bại).
- Đến ngày cuối cùng (nếu tiếp tục nữa cũng không còn ý nghĩa).
III, Tính thành công của một dự án:
 Một dự án được gọi là thành công nếu như:
- Đáp ứng được các mục tiêu ban đầu đề ra.
- Hoàn thành trước thời hạn.
- Không vượt quá ngân sách cho phép.
- Ngược lại dự án được cho là thất bại.
 Các nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của một dự án:
- Quản lý dự án kém (31%).
- Thiếu thông tin (21%).
- Không rõ mục tiêu (18%).
- Không lường trước được phạm vi rộng lớn và tính phức tạp của công việc (17%).
- Các lý do khác (công nghệ, thiết bị, nhân sự,…)(12%).
- Khi một dự án do gặp nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến thất bại thì sẽ gây ra
những tổn thất vô cùng lớn: Trong thực tế chúng ta gặp rất nhiều như:
- Dự án xử lý thông tin tại SeaGames 22 của Việt Nam dự kiến kinh phí là 15 tỷ
VND, nhưng mới đến Tháng 6/2003 số tiền phải bỏ ra là gần 90 tỷ đồng.
- Năm 1995, các công ty Mỹ đã phải chi 81 tỷ USD cho những dự án bị hủy bỏ, 59 tỷ
USD đầu tư thêm cho các dự án không đúng kế hoạch.
- Olympic 2004 tại Hy Lạp: chi 12 tỷ euro(cao hơn tới 10 tỷ so với dự kiến)….
GVHD: Nguyễn Đức Lưu Trang:2
Các lý do khác
(12%)
Không rõ mục tiêu
(18%)
Không rõ mục tiêu
(18%)
Quản lý dự án kém
(31%)
Thiếu thông tin
(21%).
CĐ Tin 2-K11 Môn: QLDAPM
 Cách khắc phục:
Có rất nhiều cách để khắc phục sự thất bại từ dự án nhưng việc cải tổ quản lý dự án
được cho là có hiệu quả nhất, một dự án với nhân sự tốt, kinh phí cao nhưng nếu
việc quản lý chưa thật sự chặt chẽ, phù hợp và thực tế thì sẽ không đạt được mục
tiêu ban đầu đề ra và dẫn đến những thất bại.
%
Respondents
GVHD: Nguyễn Đức Lưu Trang:3
CĐ Tin 2-K11 Môn: QLDAPM
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
Cải tổ việc QLDA
Tăng số thành viên DA
Nghiên cứu khả thi
Tăng phương sách từ bên ngoài
Không phải
những lý do trên
IV, Tính khả dụng của dự án:
 So sánh hoạt động dự án với hoạt động dây chuyền sản xuất:
Hoạt động dự án Hoạt động dây chuyền sản xuất
- Tạo ra 1 sản phẩm - Cho ra cùng 1 sản phẩm
- Có ngày khởi đầu và ngày kết thúc - Sản xuất liên tục
- Đội ngũ nhiều chuyên môn khác nhau
+ Khó trao đổi
+ Ngại chia sẻ thông tin
Các kỹ năng được chuyên môn hóa
- Đội hình tạm thời
+ Khó xây dựng ngay 1 lúc tinh thần đồng đội
+ Khó có điều kiện đào tạo thành viên trong
nhóm, trong khi cần phải sẵn sàng ngay
- Tổ chức ổn định
+ Có điều kiện đào tạo, nâng cấp các
thành viên trong nhóm
- Dự án chỉ làm 1 lần - Công việc lặp lại và dễ hiểu
- Làm việc theo kế hoạch trong một chi phí
được phê duyệt
- Làm việc trong một kinh phí thường
xuyên hàng năm
GVHD: Nguyễn Đức Lưu Trang:4
CĐ Tin 2-K11 Môn: QLDAPM
- Bị huỷ nếu không đáp ứng mục tiêu, yêu cầu - Phải đảm bảo làm lâu dài
- Ngày kết thúc và chi phí được tính theo dự
kiến và phụ thuộc vào sự quản lý
- Chi phí hàng năm được tính dựa trên
kinh nghiệm trong quá khứ
V, Tính duy nhất của kết quả dự án
Hoạt động Dự án Hoạt động sản xuất
Xây nhà mới (cá nhân, cơ quan)
Xây các căn hộ chung cư theo kế hoạch
hàng năm của thành phố
Nghiên cứu một đề tài khoa học mới
Dậy học theo kế hoạch hàng năm của nhà
trường. Hướng dẫn luận án sinh viên
Chế tạo bom nguyên tử, tàu vũ trụ Sản xuất vũ khí hàng loạt
Xây dựng một phần mềm mới, do cơ quan
đặt hàng
áp dụng một phần mềm trong hoạt động
thường ngày (quản lý kế toán, nhân sự, vật tư,
sản xuất )
Chế tạo một loại xe máy mới
Sản xuất hàng loạt xe máy theo thiết kế
đã có sẵn, theo kế hoạch được giao
Thử nghiệm một dây chuyền sản xuất theo
công nghệ mới
Lịch sử của quản lý dự án
Henri Fayol (1841-1925).
Với tư cách là một ngành khoa học, quản lý dự án phát triển từ những ứng dụng trong các
lĩnh vực khác nhau như xây dựng, kỹ thuật và quốc phòng. Ở Hoa Kỳ, hai ông tổ của quản
lý dự án là Henry Gantt, được gọi là cha đẻ của kỹ thuật lập kế hoạch và kiểm soát, người
đã cống hiến hiểu biết tuyệt vời của mình bằng việc sử dụng biểu đồ Gantt như là một công
GVHD: Nguyễn Đức Lưu Trang:5
Henry Gantt (1861-1919), cha đẻ
của kỹ thuật lập kế hoạch và kiểm
soát dự án.
CĐ Tin 2-K11 Môn: QLDAPM
cụ quản lý dự án, và Henri Fayol người tìm ra 5 chức năng của quản lý, là cơ sở cho những
kiến thức cốt lõi liên quan đến quản lý dự án và quản lý chương trình.
Cả hai ông Gantt và Fayol đều được biết đến như là những học trò, theo trường phái lý
thuyết quản lý theo khoa học, của Frederick Winslow Taylor. Thuyết Taylor là nguyên mẫu
đầu tiên cho các công cụ quản lý dự án hiện đại, bao gồm cả cấu trúc phân chia công việc
(WBS) và phân bổ nguồn lực.
Những năm 1950, đánh dấu sự bắt đầu của kỷ nguyên quản lý dự án hiện đại. Quản lý dự án
đã được chính thức công nhận là một ngành khoa học phát sinh từ ngành khoa học quản lý.
Một lần nữa, tại Hoa Kỳ, trước những năm 1950, các dự án đã được quản lý trên một nền
tảng đặc biệt bằng cách sử dụng chủ yếu là biểu đồ Gantt (Gantt Charts), cùng các kỹ thuật
và các công cụ phi chính thức. Tại thời điểm đó, hai mô hình toán học để lập tiến độ của dự
án đã được phát triển. "Phương pháp Đường găng" (tiếng Anh là Critical Path Method, viết
tắt là CPM) phát triển ở liên doanh giữa công ty Dupont và công ty Remington Rand để
quản lý các dự án bảo vệ thực vật và hóa dầu. Và "Kỹ thuật đánh giá và xem xét chương
trình (dự án)" (tiếng Anh là Program Evaluation and Review Technique hay viết tắt là
PERT), được phát triển bởi hãng Booz-Allen & Hamilton thuộc thành phần của Hải quân
Hoa Kỳ (hợp tác cùng với công ty Lockheed) trong chương trình chế tạo tên lửa Polaris
trang bị cho tàu ngầm. Những thuật toán này đã lan rộng một cách nhanh chóng sang nhiều
doanh nghiệp tư nhân.
Năm 1969, viện Quản lý Dự án (PMI) đã được thành lập để phục vụ cho lợi ích của kỹ nghệ
quản lý dự án. Những tiền đề của viện Quản lý dự án (PMI) là những công cụ và kỹ thuật
quản lý dự án được chia sẻ bằng nhau giữa các ứng dụng phổ biến trong những dự án từ
ngành công nghiệp phần mềm cho tới ngành công nghiệp xây dựng. Trong năm 1981, ban
giám đốc viện Quản lý dự án (PMI) đã cho phép phát triển hệ lý thuyết, tạo thành cuốn sách
Hướng dẫn về những kiến thức cốt lõi trong Quản lý dự án (PMBOK Guide). Cuốn sách này
chứa các tiêu chuẩn và nguyên tắc chỉ đạo về thực hành được sử dụng rộng rãi trong toàn bộ
giới quản lý dự án chuyên nghiệp.
VI, Quản lý dự án là gì?
Quản lý dự án là ngành khoa học nghiên cứu về việc lập kế hoạch, tổ chức và quản lý,
giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời gian,
trong phạm vi ngân sách đã được duyệt, đảm bảo chất lượng, đạt được mục tiêu cụ thể của
dự án và các mục đích đề ra. Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên
quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian
nhất định.
Một số định nghĩa khác:
GVHD: Nguyễn Đức Lưu Trang:6
CĐ Tin 2-K11 Môn: QLDAPM
- Quản lý dự án là việc áp dụng các kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các
hoạt động của dự án nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
- Quản lý dự án là việc áp dụng các chức năng và hoạt động của quản lý vào suốt
vòng đời của dự án để dự án đạt được những mục tiêu đề ra.
Một dự án là một nỗ lực đồng bộ, có giới hạn (có ngày bắt đầu và ngày hoàn thành cụ thể),
thực hiện một lần nhằm tạo mới hoặc nâng cao khối lượng, chất lượng của sản phẩm hoặc
dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của khách hàng hay của xã hội.
Thách thức chính của quản lý dự án là phải đạt được tất cả các mục tiêu đề ra của dự án
trong điều kiện bị khống chế bởi phạm vi công việc (khối lượng và các yêu cầu kỹ thuật),
thời gian hoàn thành (tiến độ thực hiện) và ngân sách (mức vốn đầu tư) cho phép.
Nội dung chủ yếu trong QLDA:
- Xác định rõ được các yêu cầu về phạm vi, thời gian, chi phí, rủi ro, chất lượng,…
- Kiểm soát những tập thể, cá nhân có liên quan trong mỗi giai đoạn.
Một dự án được quản lý tốt tức là khi kết thúc phải thỏa mãn được các yêu cầu về
mặt thời hạn, chi phí và chất lượng hiệu quả.
lập danh sách công việc
thực hiện ước lượng
lập lịch trình
lập kế hoạch ngân sách + khác
lập tài liệu, tổ chức quản lý
GVHD: Nguyễn Đức Lưu Trang:7
CĐ Tin 2-K11 Môn: QLDAPM
lập tổ dự án
phân bổ tài nguyên
viết đề xuất dự án
công bố dự án
triển khai, theo dõi
phân tích, đánh giá
GVHD: Nguyễn Đức Lưu Trang:8
CĐ Tin 2-K11 Môn: QLDAPM
xử lý, quyết định
cập nhật, lập lịch
kết thúc dự án
Xd dự án
Lập kế hoạch
Tổ chức dự án
Triển khai, kiểm soát
Kết thúc dự án
VII, Tại sao lại phải quản lý dự án?
Vì mỗi một dự án thông thường không hoàn thành đúng hạn ,chi phí vượt quá dự án ,chất
lượng ko đảm bảo .
GVHD: Nguyễn Đức Lưu Trang:9
CĐ Tin 2-K11 Môn: QLDAPM
-Theo thống kê của Standish Group (2006)
 có tới 50% trong tổng số các dự án phần mềm thất bại
 Chỉ có 16,2% dự án là hoàn thành đúng hạn và lằm trong giới hạn ngân
sách ,đáp ứng tất cả tính năng và đặc tính như cam kết ban đầu
 Có 52,7% dự án được hoàn thành và đi vào hoạt động nhưng không hoàn
thành đúng thời hạn và bội chi ,thêm nữa không đáp ứng đầy đủ tính năng và đặc tính như
thiết kế ban đầu
 Và có 31,1% dự án thất bại trước khi hoàn thành
 Hơn 83,8% dự án thất bại và không đáp ứng những yêu cầu ban đầu
Do vậy chúng ta phải quản lý dự án .Quản lý dự án đem lại cho chúng ta nhiều lợi ích và
giải quyết các mục tiêu mà dự án đã đề ra .
Mục tiêu của quản lý dự án :là hoàn thành các công việc dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật
và chất lượng ,trong phạm vi ngân sách được duyệt và theo đúng tiến độ thời gian cho
phép
Quản lý các yếu tố :
 Thời gian :đúng thời hạn
 Chi phí :không vượt quá dự toán
 Sản phẩm đầy đủ các chức năng đã định
 Thỏa mãn về yêu cầu khách hàng : thỏa mãn về nhu cầu và thỏa mãn về tiến
trình
Lợi ích của quản lý dự án :
 Liên kết tất cả các hoạt động, các công việc của dự án
 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa các
nhóm quản lý dự án với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án
 Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các
thành viên tham gia dự án
 Tạo điều kiện sớm phát hiện những khó khăn, vướng mắc phát sinh và điều
chỉnh kịp thời
 Tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao.
VIII, Các nguyên lý chung của phương pháp luận quản lý dự án (QLDA):
 Linh hoạt
 Hướng kết quả, không hướng nhiệm vụ (nhằm thoả mãn các thượng đế -
khách hàng)
 Huy động sự tham gia của mọi người (tính chất dân chủ)
 Làm rõ trách nhiệm (chữ ký)
 Phân cấp có mức độ (không nên chia thành quá nhiều mức )
 Tài liệu cô đọng và có chất lượng (quá nhiều tài liệu tức là có quá ít thông
tin!!!)
 Kết quả quan trọng hơn công cụ hay kĩ thuật (thực dụng)
 Tạo ra các độ đo tốt (để có đánh giá đúng)
 Suy nghĩ một cách nhìn xa trông rộng
 Cải tiến liên tục (kế hoạch không xơ cứng)
GVHD: Nguyễn Đức Lưu Trang:10
CĐ Tin 2-K11 Môn: QLDAPM
IX, Lập kế hoạch quản lý dự án là gì ?
1.Định nghĩa:
Lập kế hoạch là giai đoạn thứ nhất của quy trình quản lý dự án và là sự khởi đầu cần
thiết để xác định các phương pháp ,tài nguyên và các công việc cần thiết để đạt được mục
tiêu của dự án .Giai đoạn này diễn ra trong suốt quá trình từ khi bắt đầu thực hiện dự án
cho đến khi bàn giao sản phẩm với nhiều loại kế hoạch khác nhau nhằm hỗ trợ kế hoạch
chính của dự án về lịch trình và ngân sách.
2. Các loại kế hoạch quản lý dự án:
 Kế hoạch đảm bảo chất lượng: Mô tả các chuẩn, các qui trình được sử dụng
trong dự án.
 Kế hoạch thẩm định: Mô tả các phương pháp, nguồn lực, lịch trình thẩm
định hệ thống.
 Kế hoạch quản lý cấu hình: Mô tả các thủ tục, cấu trúc quản lý cấu hình
được sử dụng.
 Kế hoạch bảo trì: Dự tính các yêu cầu về hệ thống, chi phí, nỗ lực cần thiết
cho bảo trì.
 Kế hoạch phát triển đội ngũ: Mô tả kĩ năng và kinh nghiệm của các thành
viên trong nhóm dự án sẽ phát triển như thế nào.
3.Quy trình lập kế hoạch quản lý dự án:
 Thiết lập các ràng buộc của dự án: thời gian, nhân lực, ngân sách
 Đánh giá bước đầu về các "tham số" của dự án: quy mô, độ phức tạp, nguồn
lực
 Xác định các mốc thời gian trong thực hiện dự án và sản phẩm thu được ứng
với mỗi mốc thời gian
 Trong khi dự án chưa hoàn thành hoặc chưa bị hủy bỏ thì thực hiện lặp đi
lặp lại các công việc sau:
- Lập lịch thực hiện dự án
- Thực hiện các hoạt động theo lịch trình
- Theo dõi sự tiến triển của dự án, so sánh với lịch trình
- Đánh giá lại các tham số của dự án
- Lập lại lịch thực hiện dự án cho các tham số mới
- Thỏa thuận lại các ràng buộc và sản phẩm bàn giao của mỗi mốc thời gian
- Nếu có vấn đề nảy sinh thì xem xét lại các kĩ thuật khởi đầu đưa ra các biện
pháp cần thiết
4 Cấu trúc kế hoạch quản lý dự án:
 Tổ chức dự án
 Phân tích các rủi ro
 Yêu cầu về tài nguyên phần cứng, phần mềm
 Phân công công việc
 Lập lịch dự án
 Cơ chế kiểm soát và báo cáo
X, Các phong cách quản lý dự án:
GVHD: Nguyễn Đức Lưu Trang:11
CĐ Tin 2-K11 Môn: QLDAPM
 Quản lý theo kiểu đối phó: Là hình thức sau khi vạch kế hoạch rồi phó mặc
cho anh em thực hiện không quan tâm, theo dõi. Sau khi có chuyện gì xảy ra mới nghĩ
cách đối phó.
 Quản lý theo kiểu mất phương hướng: Khi thực hiện nghiên cứu một đề tài
khoa học mà không có sáng kiến mới, cứ quanh quản với phương pháp cũ, công nghệ cũ.
Quản lý theo kiểu mất phương hướng
 Quản lý theo kiểu nước đến chân mới nhảy: Không lo lắng đến thời gian
giao nộp sản phẩm, đến khi gần hết hạn mới huy động thật đông người làm cho xong.
Quản lý theo kiểu nước đến chân mới nhảy
Quản lý chủ động, tích cực: Suốt quá trình thực hiện dự án không bị động về kinh phí, nhân
lực, tiến độ đảm bảo ( Đây là cách quản lý lý tưởng nhất.).
Quản lý chủ động, tích cực
Các tiêu chí thành công của dự án:
Các thông số kỹ thuật
các mục tiêu
Chi phí
Thời gian
Sự chấp thuận
của các bên liên quan

GVHD: Nguyễn Đức Lưu Trang:12
Quản lý theo kiểu đối phó
CĐ Tin 2-K11 Môn: QLDAPM
Các thuộc tính của dự án IT:
 Kết quả bàn giao có thể là hữu hình
 Phạm vi có thể khó kiểm soát
 Kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ và kỳ vọng trái ngược nhau.
 Có thể bất đồng về mục tiêu kinh doanh.
 Thay đổi quan trọng về tổ chức.
 Các yêu cầu, phạm vi, và lợi nhuận chính xác có thể rất khó xác định.
 Sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ.
Nội dung chính của việc triển khai một dự án:
 Khởi thảo, xác định dự án:
- Viết bản đề xuất: Bản đề xuất cần mô tả các đối tượng của dự án, cách thức
triển khai dự án. Thường thì nội dung phải bao gồm các ước lượng sơ bộ chi phí và lịch
trình thực hiện dự án qua các mốc. Có thể phải trình bày rõ vì sao hợp đồng dự án được
trình ra cho một tổ chức hay một đội cụ thể.
- Viết bản đề xuất là một công việc quan trọng. Nó phụ thuộc vào việc có đủ
cơ sở hay không để dự án được chấp nhận và hợp đồng đưa ra được ký kết. Không có một
hướng dẫn cụ thể và đầy đủ nào cho nhiệm vụ này. Công việc này đòi hỏi những kỹ năng
thu nhận được từ kinh nghiệm của người viết.
-
- Thiết lập quan hệ với khách hàng
- Xây dựng dự án sơ bộ
- Thiết lập thủ tục quản lý
- Thiết lập môi trường quản lý và tài liệu dự án.
 Lập kế hoạch dự án: được bắt đầu bằng mục tiêu đã được xác định sau cùng.Trong
giai đoạn này, mỗi nhiệm vụ chính và phụ đều phải được sắp xếp một khoảng thời gian
hợp lý để tiến hành. Cả nhà quản lý và các thành viên trong nhóm sẽ phân tích các nhiệm
vụ đẻ đấy nhanh tiến độ và giảm chi phí.
 Tổ chức thực hiện
 Kết thúc dự án: Những vấn đề chính liên quan đến việc kết thúc dự án là:
- Tranh chấp giữa khách hàng và nhà phát triển về việc lý giải và cung ứng
mọi đặc điểm được yêu cầu.
- Ý đồ đưa vào những thay đổi ở phút chót.
- Thất bại của hệ thống và khuyết tật thiết kế xác định trong quá trình cài đặt
và kiểm thử hệ thống.
- Khó khăn trong việc cho đội ngủ phát triển hợp lực lại với nhau và năng
động.
- Như vậy trách nhiệm của nhà quản lý dự án là đảm bảo cho việc kết thúc
được có trật tự và thắng lợi. Muốn thực hiện được điểu này cần qui hoạch chi tiết lúc ban
đầu dự án và quản lý có hiệu quả xuyên suốt dự án.
GVHD: Nguyễn Đức Lưu Trang:13
CĐ Tin 2-K11 Môn: QLDAPM
XI, Quản lý nhân sự dự án :
1. Người quản lí dự án (PM-Project Manager) hay còn gọi là giám đốc
dự án:
- Chịu trách nhiệm chính về kết quả của dự án, làm việc với các đối tượng
liên quan để dịnh nghĩa dự án, chỉ huy nhóm dự án thực thi kế hoạch
- Có vai trò chủ chốt trong việc xác định các mục đích và mục tiêu, lập kế
hoạch sắp xếp lịch trình dự thảo ngân sách các hoạt động của dự án
- Xây dựng các kế hoạch dự án, đảm bảo dự án được thực hiện có hiệu lực
và hiệu quả , luôn giám sát hiệu quả hoạt động và thực hiện các hoạt động hiệu chỉnh
- Thường xuyên thông báo cho nhà tài trợ và các đối tượng liên quan dự án,
đưa ra yêu cầu và trình bày những thay đổi về phạm vi
- Đóng vai trò là người trung gian giữa nhóm dự án và các đối tượng liên
quan
2. Người tài trợ:
- Cấp tiền cho dự án hoạt động thông qua hình thức hợp đồng, để đảm bảo
dự án đạt được mục tiêu để ra
- -phê duyệt cho dự án, chịu trách nhiệm cuối cùng đối với sự thành công
của dự án
- Trong quá trình thực hiện dự án, nhà tài trợ có them các trach nhiệm xem
xét các yếu tố khả thi của các tiến trình và chất lượng để quyết định xem cho dự án đi
tiếp hay cho chết giữa chừng
- Đồng thời cho phép nhóm quản lý dự án, sử dụng các nguồn lực, bảo vệ và
cố vấn cho nhóm quản lý dự án
3. Tổ dự án:
- Hỗ trợ cho người quản lý dự án để thực hiện thành công dự án, bao gồm
những người vừa có kỹ năng vừa có năng lực
4. Khách hàng :
- Thu hưởng kết quả của dự án, xác định nhu cầu đầu ra cho dự án
- Nêu yêu cầu, cử người hỗ trợ dự án, thanh toán cho đầu ra dự án
- Là người chủ yếu nghiệm thu kết quả dự án
Trong trường hợp nhà tài trợ không phải là đơn vị triển khai sản phầm của dự án
thì nhà tài trợ chính là khách hang
5. Ban lãnh đạo
- Bổ nhiệm người quản lý dự án và tổ dự án, tham gia vào việc hình thành
GVHD: Nguyễn Đức Lưu Trang:14

Xem chi tiết: Dự án là gì?


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét