A. Lời nói đầu
Di chúc đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại, với đủ các hình thức
khác nhau.Ngày nay, mỗi Nhà nước, mỗi hệ thống pháp luật trên thế giới lại có
những qui định khác biệt về cùng một vấn đề của pháp luật dân sự là “hình thức của
di chúc”. Hình thức của di chúc là phương thức biểu hiện ý chí của người lập di chúc;
là căn cứ pháp lí làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc, là chứng cứ để bảo vệ
quyền lợi cho người được chỉ định trong di chúc. Vì vậy, di chúc phải được lập dưới
một hình thức nhất định; mặt khác, hình thức của di chúc lại rất đa dạng và phong
phú, tùy thuộc vào qui định của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, thì hầu hết các nước trên
thế giới trong đó có cả Việt Nam chỉ công nhận hai hình thức chính của di chúc đó là
chúc thư và chúc ngôn hay còn gọi là di chúc bằng văn bản và di chúc miệng.
B. Nội dung
Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá
nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Di chúc do cá nhân
còn sống tự nguyện lập ra với mục đích dịch chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của
mình cho người còn sống khác. Di chúc phải dựa vào ý chí, tình cảm của cá nhân
người lập di chúc mà không phải bất cứ chủ thể nào khác và chỉ có hiệu lực sau khi
người đó chết. Do đó, người lập di chúc có tính độc lập, tự định đoạt khi lập di chúc
và cũng chính vì vậy mà di chúc được coi là một hành vi pháp lý đơn phương, phải
tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và điều kiện có
hiệu lực của di chúc nói riêng. Hình thức của di chúc cũng cần phải tuân thủ theo
những quy định của pháp luật. Hình thức di chúc là sự thể hiện ý chí của người để lại
tài sản ra bên ngoài thế giới khách quan, là sự chứa đựng nội dung của di chúc theo
một trình tự kết cấu nhất định. Vì vậy hình thức của di chúc là một phần rất cơ bản và
quan trọng trong việc thừa kế theo di chúc, nếu hình thức của di chúc không tuân thủ
đúng những điều kiện có hiệu lực được quy định trong luật thì di chúc được xem là
vô hiệu và không có bất kì một giá trị nào về mặt pháp lý. Bởi lý do đó, việc nghiên
cứu về hình thức của di chúc là rất quan trọng, sẽ giúp cá nhân hiểu rõ và có thể chọn
1
cho mình một hình thức để lại di chúc phù hợp, nhờ đó thực hiện được đầy đủ quyền
sở hữu, định đoạt đối với tài sản của mình ngay cả khi đã chết. Điều 649 Bộ luật Dân
sự năm 2005 quy định về hình thức của di chúc:
“Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản
thì có thể di chúc miệng.
Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của
dân tộc mình”.
Theo đó thì có hai hình thức di chúc được công nhận trong luật dân sự Việt Nam là
hình thức di chúc văn bản hay còn gọi là di chúc viết và hình thức di chúc miệng. Có
thể hiểu đơn giản hình thức văn bản là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết (
viết tay, đánh máy, in ) có chứng nhận hoặc không có chứng nhận của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Hình thức di chúc miệng là toàn bộ ý chí của người lập di chúc
thể hiện bằng lời nói.
I. Hình thức di chúc miệng:
1. Những qui định của pháp luật:
Di chúc miệng là một trong hai hình thức di chúc được pháp luật dân sự nước
ta ghi nhận trong bộ luật dân sự năm 2005. Bộ luật dân sự Việt Nam qui định về di
chúc miệng tại Điều 651 và tại khoản 5 Điều 652: “1. Trong trường hợp tính mạng
một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập
di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. 2. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc
miệng mà người di chúc miệng còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc
nhiên bị hủy bỏ”.
(Điều 651. BLDS)
“Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối
cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người
làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ
ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng
hoặc chứng thực.”
(Khoản 5. Điều 652. BLDS)
2
Như vậy, quyền lập di chúc miệng của công dân chỉ phát sinh trong những
trường hợp cực kì đặc biệt theo qui định của pháp luật. Trường hợp đặc biệt đó được
pháp luật qui định là: bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà
không thể lập di chúc bằng văn bản .Tính mạng một người bị đe doạ bởi cái chết ở
đây có thể hiểu là một người bị thương nặng do ốm đau, tai nạn, gần đến lúc hấp
hối… Những nguyên khác có thể là do người lập di chúc cụt tay, không biết chữ, bị
mù hai mắt… Do đó di chúc miệng có thể được coi là lời trăn trối cuối cùng của
người chết về việc để lại di sản, phân chia cho những người còn sống thừa kế. Có thể
thấy di chúc miệng được công nhận và có hiệu lực trong những trường hợp đặc biệt
phù hợp với phong tục tập quán nước ta.
Do vậy, nếu một người bị cái chết đe dọa nhưng họ vẫn có thể lập di chúc bằng
văn bản mà người đó lại di chúc miệng thì di chúc miệng đó không được pháp luật
công nhận (không có giá trị pháp lí).
Di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí
cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những
người làm chứng này ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ và phải đem đi công
chứng hoặc chứng thực trong thời hạn năm ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể
hiện ý chí cuối cùng. Như vậy, người làm chứng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng
đối với di chúc miệng; có thể nói người làm chứng có ý nghĩa quyết định đến hiệu
lực cũng như tính hợp pháp của di chúc miệng. Số lượng người làm chứng ít nhất
phải là hai người. Ngoài ra, những người làm chứng phải thực hiện các hành vi như:
ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ, đem đi công chứng hoặc chứng thực sau khi
được nghe di chúc miệng. Di chúc miệng sẽ không hợp pháp nếu người lập di chúc
miệng bằng cử trỉ, động tác, mấp máy môi hoặc những động tác không có ý nghĩa
thể hiện là không còn minh mẫn, sáng suốt. Trên thực tế, có nhiều trường hợp người
sắp chết chỉ nói lên ý chí của mình về việc phân chia tài sản trước nhiều người như
những lời dặn dò, căn dặn nhưng không ai ghi chép lại. Những lời căn dặn đó về mặt
pháp lý hoàn toàn không được coi là di chúc miệng.
3
Do là một hình thức di chúc đặc biệt nên pháp luật qui định về hình thức di
chúc miệng với thủ tục hết sức chặt chẽ. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng,
nếu người di chúc miệng còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì mặc nhiên di chúc miệng
bị hủy bỏ (coi như không có di chúc miệng). Như vậy, vấn đề về thời gian, vấn đề về
nhận thức cũng như vấn đề về trạng thái thể chất, trạng thái tinh thần của người di
chúc miệng sau khi có di chúc miệng là những vấn đề quan trọng, nó cũng quyết định
đến hiệu lực của di chúc miệng. Xét về mặt sinh học: nếu người di chúc miệng chỉ
sống được dưới ba tháng kể từ thời điểm di chúc miệng thì di chúc miệng có giá trị
(nếu đã thỏa mãn các điều kiện, các qui định khác của pháp luật). Sau ba tháng kể từ
thời điểm di chúc miệng mà người di chúc miệng còn sống thì giá trị cũng như hiệu
lực của di chúc miệng phụ thuộc vào khả năng nhận thức của người di chúc miệng;
cụ thể, có các khả năng sau có thể xảy ra:
- Nếu người di chúc miệng còn minh mẫn nhưng không sáng suốt thì di chúc
miệng không mặc nhiên bị hủy bỏ.
- Nếu người di chúc miệng sáng suốt nhưng không minh mẫn thì di chúc miệng
cũng không mặc nhiên bị hủy bỏ.
- Nếu người di chúc miệng còn minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng bị hủy
bỏ.
Tóm lại, theo các qui định của Bộ luật dân sự 2005 thì di chúc miệng được coi
là hợp pháp khi đáp ứng và đảm bảo được đầy đủ các điều kiện sau:
- Di chúc miệng chỉ được lập trong tình trạng một người bị cái chết đe dọa do
bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản được.
- Người di chúc miệng phải thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất
hai người làm chứng.
- Ngay sau khi nghe người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì những
người làm chứng phải ghi chép lại, kí tên hoặc điểm chỉ và đem đi công chứng hoặc
chứng thực trong thời hạn năm ngày kể từ có di chúc miệng.
4
- Di chúc miệng chỉ có giá trị khi mà người di chúc miệng sống không quá
được ba tháng kể từ ngày di chúc miệng hoặc người di chúc miệng sống trên ba tháng
nhưng không còn minh mẫn sáng suốt.
2. Nhận xét:
Sau khi đã phân tích những qui định chung của pháp luật về hình thức di chúc
miệng ở trên thì sau đây là một vài suy nghĩ của người viết về vấn đề này:
Khoản 1 Điều 651 BLDS có qui định “1. Trong trường hợp tính mạng một
người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di
chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.” Theo đó, một người bị cái chết đe dọa
do bệnh tật thì qui định như vậy là quá hiển nhiên và không có gì phải bàn cãi thế
nhưng về qui định một người bị cái chết đe dọa do “các nguyên nhân khác” thì có rất
nhiều cách hiểu và cũng chưa có hướng dẫn cụ thể của các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền.
Tại khoản 5 Điều 652 có qui định: “Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu
người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm
chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ.
Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì
di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.” Vậy, “ngay sau đó” được qui định
tại Điều luật này sẽ được hiểu như thế nào \? Vấn đề này cũng chưa được các cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền qui định. Tuy nhiên, theo cách hiểu chung thì “ngay sau đó”
được hiểu là khoảng thời gian rất gần; thế nhưng, khoảng thời gian đó là gần như thế
nào và có giới hạn là bao nhiêu thì cũng cần phải có những hướng dẫn, những qui
định cụ thể của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Ngoài ra, theo các qui định trong bộ luật dân sự 2005 thì có nhiều cách hiểu
liên quan đến việc: “Khi di chúc miệng đã được lập đúng theo các qui định của Bộ
luật dân sự thì di chúc đó có được coi là di chúc bằng văn bản được công chứng,
chứng thực hay không?”. Có quan điểm cho rằng di chúc miệng và di chúc bằng văn
bản được công chứng, chứng thực là như nhau bởi lẽ, xét về mặt nội dung thì di chúc
miệng và di chúc bằng văn bản được công chứng, chứng thực đều thể hiện quyền
5
định đoạt của chủ sở hữu tài sản nhằm chuyển tài sản cho người khác sau khi chết;
đều thể hiện ý chí tự nguyện của người có di chúc. Xét về mặt hình thức: trong số các
loại di chúc bằng văn bản chỉ có di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì
người lập di chúc mới phải tự tay viết di chúc; còn các loại di chúc bằng văn bản
khác thì pháp luật không bắt buộc điều này. Di chúc bằng văn bản được công chứng,
chứng thực chỉ khác di chúc miệng ở chỗ là đối với di chúc bằng văn bản được công
chứng, chứng thực thì người lập di chúc phải kí vào di chúc còn di chúc miệng thì
người di chúc miệng không thể kí vào di chúc bởi nguyên nhân khách quan (bị cái
chết đe dọa…). Hơn thế nữa, di chúc miệng đã được cơ quan công chứng chứng thực
nên độ tin cậy, bảo đảm của nó cũng tương đương như di chúc bằng văn bản được
công chứng, chứng thực.
Tuy nhiên, cách hiểu trên là chưa hoàn toàn hợp lí với tinh thần của điều luật
này nói riêng và tinh thần chung của Bộ luật dân sự 2005. Bản chất của vấn đề ở đây
chính là di chúc miệng là một loại di chúc đặc biệt, chỉ ra đời trong những trường hợp
cụ thể theo qui định của pháp luật. Chính vì vậy, bản thân nó có những qui định riêng
hết sức chặt chẽ để nhằm phân biệt với các hình thức khác của di chúc. Hơn thế nữa,
việc pháp luật qui định di chúc miệng phải được công chứng, chứng thực không có
nghĩa là di chúc miệng và di chúc bằng văn bản được công chứng, chứng thực có
hình thức như nhau; mà việc pháp luật qui định di chúc miệng phải được công chứng,
chứng thực chỉ nhằm mục đích xác nhận sự kiện pháp lí: “có di chúc miệng” mà thôi.
Ngoài ra, đối với di chúc bằng văn bản thì người lập di chúc phải đọc di chúc hoặc
được nghe đọc di chúc (nếu không biết chữ) và phải kí tên hoặc điểm chỉ vào di chúc.
Còn đối với di chúc miệng thì pháp luật không qui định người di chúc miệng phải
đọc hay nghe đọc di chúc. Chính vì thế độ tin cậy, đảm bảo thể hiện đúng ý chí của
người lập di chúc bằng văn bản cao hơn đối với di chúc miệng. Thêm vào đó, di chúc
bằng văn bản được công chứng, chứng thực không bị mất hiệu lực bởi thời gian, cũng
như nhận thức hay trạng thái thể chất, tinh thần của người lập di chúc kể từ thời điểm
lập di chúc. Còn yếu tố thời gian, nhận thức và trạng thái thể chất, tinh thần của
6
người di chúc miệng lại có ý nghĩa quyết định đến hiệu lực, giá trị của di chúc miệng
như đã phân tích ở trên.
Việc nhận thức đúng và hiểu đúng các qui định về di chúc miệng có ý nghĩa
hết sức quan trọng trong cả lí luận và thực tiễn bởi vì nó liên quan đến việc đánh giá
hiệu lực của di chúc để từ đó làm cơ sở cho việc giải quyết, phân chia di sản thừa kế
theo di chúc hay theo pháp luật. Chính vì vậy, cần có sự phân biệt rõ, tránh đồng nhất
giữa di chúc miệng và di chúc bằng văn bản được công chứng, chứng thực như quan
điểm đầu tiên.
Một điểm cần phải quan tâm nữa, đó chính là Bộ luật dân sự 2005 không qui
định cụ thể về phạm vi đối tượng được đem di chúc miệng đến cơ quan công chứng,
chứng thực. Phải chăng khi pháp luật không có qui định thì bất cứ người nào cũng có
thể đem di chúc miệng đi công chứng, chứng thực? Mặt khác, Bộ luật dân sự 2005
chỉ mới qui định về hình thức của di chúc miệng mà chưa qui định cụ thể về mặt nội
dung của di chúc miệng phải thể hiện như thế nào. Hiện nay, Bộ luật dân sự chỉ mới
qui định về nội dung của di chúc bằng văn bản tại điều 653 và có thể nói những qui
định này là khá chặt chẽ và cần thiết. Trong quá trình đi vào cuộc sống thì những qui
định đó đã là những cơ sở pháp lí quan trọng góp phần cho việc xác định đúng người
lập di chúc, người được thừa kế theo di chúc,… Vì vậy để đảm bảo thể hiện trung
thực, đúng ý chí của người để lại di sản đồng thời để di chúc miệng được rõ ràng,
tránh những cách hiểu khác nhau dẫn tới những tranh chấp không đáng có thì yêu cầu
cấp thiết là phải có những qui định cụ thể về mặt nội dung của di chúc miệng hay chí
ít thì cũng phải có thêm một vài dòng để qui định về nội dung của di chúc miệng khi
được những người làm chứng ghi chép lại phải đảm bảo các qui định về nội dung như
di chúc bằng văn bản được qui định tại điều 653 của Bộ luật này.
II. Hình thức di chúc bằng văn bản:
Là hình thức di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết (viết tay, đánh máy, in)
có chứng nhận hoặc không có chứng nhận của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Hình thức di chúc bằng văn bản bao gồm các loại sau:
- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng (Điều 655 BLDS).
7
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng (Điều 656 BLDS).
- Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực (Điều 657 BLDS).
1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng:
Đây là một trong các loại di chúc bằng văn bản được pháp luật dân sự nước ta
công nhận. Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 qui định về hình thức di chúc bằng văn bản
không có người làm chứng tại Điều 655: “Người lập di chúc phải tự tay viết và kí vào
bản di chúc. Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo
qui định tại Điều 653 của Bộ luật này”.
So với các bộ luật dân sự khác trên thế giới, Bộ luật dân sự Việt Nam cũng là
một trong số các bộ luật có các qui định và công nhận hình thức di chúc bằng văn bản
không có người làm chứng. Có lẽ, các nhà làm luật của nước ta đã dự liệu trước được
rằng: vì thiếu những điều kiện khách quan hoặc các điều kiện chủ quan khác mà công
dân không thể lập được di chúc bằng văn bản có chứng nhận của cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền. Hoặc là trên thực tế, có rất nhiều trường hợp do người lập di chúc
không am hiểu pháp luật hay có nhiều lí do khác nhau mà họ không thể đến cơ quan
công chứng, Ủy ban nhân dân để làm thủ tục chứng nhận. Cho nên pháp luật vẫn
công nhận việc họ lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng là hợp pháp,
nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện khác mà pháp luật qui định. Ví dụ: người lập di
chúc phải có năng lực chủ thể, người lập di chúc tự nguyện, nội dung và hình thức
của di chúc không trái với qui định pháp luật cũng như đạo đức xã hội.
Bởi các lí do như trên nên việc pháp luật có những qui định hết sức chặt chẽ và
khắt khe đối với hình thức di chúc bằng văn bản không có người làm chứng là
chuyện hết sức dễ hiểu. Đối với hình thức di chúc này thì pháp luật qui định rằng:
“người lập di chúc phải tự tay viết và kí vào bản di chúc”. Đây là một qui định hết
sức cô đọng, gọn nhẹ mà lại bao hàm đầy đủ những nội dung cần thiết. Do di chúc
này là loại di chúc không có người làm chứng nên yêu cầu đầu tiên là phải xác định
xem di chúc đó có đúng, có chính xác là di chúc của người chết để lại hay không?
Như vậy, việc xác định ai người lập ra di chúc này sẽ phải dựa trên cơ sở nào? Pháp
luật đã dự liệu, đã đưa ra một cơ sở duy nhất để xác định, đó chính là “chữ viết” và
8
“chữ kí” của người để lại di chúc. Có thể xem “chữ viết, chữ kí” của người để lại di
chúc là các dấu hiệu nhân thân quan trọng còn lại, làm cơ sở cho việc xác định người
lập ra di chúc. Theo đó, những ai muốn để lại di chúc bằng văn bản không có người
làm chứng mà lại không tự tay viết hay đánh máy thì bản di chúc đó không có giá trị
và không được pháp luật công nhận. Như đã trình bày ở trên thì “chữ viết và chữ kí”
là cơ sở duy nhất còn sót lại, là dấu hiệu nhân thân quan trọng cho việc xác định
người lập ra di chúc; bản di chúc viết tay đó sẽ được đem ra đối chiếu, so sánh với
chữ viết trong các tài liệu khác của người để lại di chúc, như vậy sẽ dễ dàng trong
việc xác định chủ nhân của di chúc.
Ngoài ra, một bản di chúc không có người làm chứng muốn hợp pháp và có giá
trị thì phải tuân theo qui định tại Điều 653 của Bộ luật dân sự. Đó chính là các qui
định về nội dung của di chúc bằng văn bản – di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập
di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ, tên người, cơ quan, tổ chức
được hưởng di sản…; di sản và nơi có di sản; chỉ định nghĩa vụ, nội dung nghĩa vụ;
di chúc không được viết tắt, kí hiệu…vv.
2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng:
Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 qui định về di chúc bằng văn bản có người
làm chứng tại điều 656: “Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết
bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm
chứng. Người lập di chúc phải kí hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những
người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ kí, điểm chỉ của người lập di
chúc và kí vào bản di chúc. Việc lập di chúc phải tuân theo qui định tại Điều 653 và
Điều 654 của Bộ luật này”.
Trong những trường hợp mà người lập di chúc không thể tự mình viết bản di
chúc vì một số lí do nhất định nào đó thì pháp luật vẫn công nhận họ có quyền lập di
chúc nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện khác theo luật định. Trên thực tế có rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến việc một người không thể tự mình viết bản di chúc; có thể do
không biết chữ (trình độ học vấn), do mù lòa hoặc do tay chân không lành lặn dẫn
9
đến không thể tự tay mình viết được bản di chúc (do yếu tố thể chất, sức khỏe)… Tuy
nhiên, họ vẫn được pháp luật công nhận cho quyền được lập di chúc của riêng mình.
Nếu họ không thể tự mình viết thì có thể nhờ người khác viết hộ nhưng phải có ít
nhất hai người làm chứng. Một lần nữa, chúng ta lại thấy được sự cần thiết, quan
trọng và cần phải có của những người làm chứng trong các hình thức di chúc nói
riêng và trong bộ luật dân sự nói chung. Hai người làm chứng này là cơ sở cho việc
thẩm định tính đúng đắn, tính xác thực của di chúc hay nói một cách chính xác thì họ
sẽ là những người kiểm tra xem người viết hộ di chúc có thể hiện lại đầy đủ, nguyên
văn ý chí của người lập di chúc hay không.
Ngoài hai người làm chứng ra thì pháp luật còn yêu cầu người lập di chúc phải
kí hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người
làm chứng xác nhận chữ kí, điểm chỉ của người lập di chúc và kí vào bản di chúc.
Như vậy, ngoài những điều kiện khách quan ra (những người làm chứng) thì pháp
luật còn yêu cầu thêm những nét chủ quan cần có của người lập di chúc, đó chính là
các dấu hiệu nhân thân tương đối riêng biệt của họ: chữ kí hoặc điểm chỉ.
Việc lập di chúc còn phải tuân thủ theo các qui định tại Điều 653 và Điều 654
của bộ luật này. Đó chính là các qui định về nội dung của di chúc bằng văn bản – di
chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di
chúc; họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản…; di sản và nơi có di sản;
chỉ định nghĩa vụ, nội dung nghĩa vụ; di chúc không được viết tắt, kí hiệu. Ở đây tiêu
chuẩn của người làm chứng cũng được pháp luật qui định. Những người sau đây sẽ
không thể làm chứng cho việc lập di chúc: người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp
luật của người lập di chúc; người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di
chúc; người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.
3. Di chúc bằng văn bản có công chứng, chứng thực:
Điều 650 Bộ luật dân sự đã chia ra bốn loại di chúc bằng văn bản; trong đó có
sự phân tách giữa hai hình thức di chúc bằng văn bản có công chứng và hình thức di
chúc bằng văn bản có chứng thực. Trong bài này, cá nhân người viết gộp hai loại di
chúc này lại bởi chúng có những nét tương đồng, những nét tương tự nhau.
10
Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực được qui định tại Điều
657 của Bộ luật dân sự: “Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng
thực bản di chúc”.
So với các hình thức di chúc khác thì có lẽ đây là hình thức di chúc phổ biến
nhất, hay gặp nhất trong đời sống xã hội. Thứ nhất, thủ tục của nó không rườm rà và
tốn nhiều công sức như các hình thức di chúc khác. Thứ hai, di chúc có công chứng
hoặc chứng thực bởi Ủy ban nhân dân dù sao đi chăng nữa vẫn mang tính pháp lí cao
hơn so với các hình thức di chúc khác khi bản thân nó đã có sự chứng nhận hoặc
chứng thực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (xét một cách tương đối) và nếu
có tranh chấp xảy ra thì hình thức di chúc này là cơ sở pháp lí vững chắc nhất, tin cậy
nhất để giải quyết sự việc.
Theo qui định của Điều 657: “Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng
hoặc chứng thực bản di chúc” thì sẽ có các khả năng sau có thể xảy ra:
Thứ nhất, người lập di chúc có thể lập di chúc tại nhà sau đó tự tay mình đem
di chúc của mình đến cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân để xác nhận.
Thứ hai, người lập di chúc lập di chúc ngay tại cơ quan công chứng hoặc tại
Ủy ban nhân dân.
Thứ ba, người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng viên tới chỗ của mình để
lập di chúc. (Thủ tục lập di chúc tại chỗ ở được tiến hành như thủ tục lập di chúc qui
định ở Điều 658 Bộ luật dân sự).
Khi người lập di chúc muốn công chứng hoặc chứng thực bản di chúc của
mình thì việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân phải tuân
theo những thủ tục được qui định tại Điều 658 Bộ luật dân sự:
- Người lập di chúc tuyên bố nội dung di chúc trước công chứng viên hoặc
người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân; công chứng viên hoặc người
có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên
bố. Người lập di chúc kí hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc
đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc
người có thẩm quyền chứng thực cũng phải kí vào bản di chúc.â- Trong trường hợp
11
người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không kí hoặc
không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải kí xác nhận
trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân
dân. Sau đó, công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban
nhân dân chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.
Ngoài các điều kiện và thủ tục trên, pháp luật còn có qui định về vấn đề: hạn
chế đối với người không được công chứng, chứng thực di chúc. Điều 659 qui định
những người sau đây không được công chứng, chứng thực di chúc: người thừa kế
theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người có cha, mẹ, vợ hoặc
chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật; người có quyền, nghĩa
vụ về tài sản liên quan đến nội dung di chúc.
Ngoài ra, theo Điều 660 Bộ luật dân sự qui định thì di chúc bằng văn bản có
giá trị như chúc đã được chứng nhận, chứng thực còn bao gồm:
- Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở
lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban
nhân dân chứng thực.
- Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy
phương tiện đó.
- Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng có xác
nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó.
- Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm do, nghiên cứu ở vùng rừng
núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị.
- Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh
sự, đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước đó.
- Di chúc của người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp
hành biện pháp xử lí hành chính tại cở giáo dục, cơ chữa bệnh có xác nhận của người
phụ trách cơ sở đó.
III. So sánh các qui định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về
hình thức của di chúc:
12
Bộ luật Dân sự Pháp (hay còn được gọi là Bộ luật Napoleon) qui định rất chi
tiết về hình thức di chúc, từ Điều 967 đến Điều 1001. Hình thức di chúc bao gồm ba
dạng, là: di chúc viết tay, công chứng thư và di chúc bí mật (Điều 969).
Di chúc viết tay chỉ có giá trị nếu người lập di chúc tự mình viết toàn bộ phần
nội dung, đề ngày, tháng, năm và kí tên. Di chúc này không bị bắt buộc về mặt hình
thức trình bày (Điều 970).
Công chứng thư phải do 2 công chứng viên hoặc 1 công chứng viên và 2 người
làm chứng thừa nhận. Người lập di chúc đọc cho công chứng viên viết tay, hoặc giao
cho người khác viết tay, hoặc đánh máy chữ. Sau khi viết xong thì phải đọc lại cho
người lập di chúc nghe (Điều 972). Sau đó, người lập di chúc kí tên trước mặt công
chứng viên và người làm chứng (Điều 973). Cuối cùng, công chứng viên và người
làm chứng phải ký tên vào văn bản (Điều 974). Chỉ khi nào tuân thủ đủ các điều kiện
cũng như các thủ tục nêu trên thì một di chúc dưới dạng công chứng thư mới có hiệu
lực.
Di chúc bí mật là di chúc mà tờ giấy ghi nội dung di chúc hoặc tờ giấy làm
phong bì (nếu có) phải được dán kín, đóng dấu và niêm phong. Người lập di chúc đưa
bản di chúc đã được dán kín, đóng dấu và niêm phong của mình cho công chứng viên
và 2 người làm chứng (hoặc dán kín, đóng dấu và niêm phong ngay trước mặt họ) và
tuyên bố rằng nội dung ghi trong tờ giấy đó là di chúc của mình, do tự mình viết hoặc
do nhờ người khác viết nhưng đã được mình kiểm tra nội dung. Trong mọi trường
hợp, người lập di chúc đều phải chỉ rõ lối chữ đã được dùng, là viết tay hay đánh
máy. Sau đó, công chứng viên sẽ viết bản chứng nhận ghi rõ ngày, tháng, năm, nơi
lập và mô tả rõ phong bì và con dấu cùng tất cả các thể thức trên đây. Cuối cùng,
người lập di chúc, công chứng viên và người làm chứng cùng kí vào một bản chứng
nhận. Nếu một di chúc bí mật không tuân thủ đủ các thể thức đã nêu trên thì nó
không phải là di chúc bí mật, nhưng nếu vẫn thỏa mãn điều kiện của di chúc viết tay
thì nó vẫn được công nhận là di chúc viết tay.
Ngoài ra, nhà làm luật còn dự liệu một số trường hợp đặc biệt về hình thức di
chúc, như di chúc của quân nhân, lính thủy và nhân viên quốc phòng, của người bị
13
ốm hoặc bị thương đang được điều trị trong bệnh viện hoặc các cơ sở quân y (giống
như qui định trong Điều 660 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005). Trong những trường
hợp này, cấp chỉ huy hoặc y sĩ trưởng có thể là người chứng nhận cho bản di chúc
(Điều 981, 982).
Và đặc biệt, trong mọi trường hợp, di chúc miệng đều không được công nhận.
Bộ luật dân sự Nhật Bản quy định về hình thức di chúc từ các Điều 967 đến
Điều 984. Di chúc có các hình thức là viết tay hoặc qua công chứng hoặc dưới một
dạng tài liệu bí mật trừ trong một số trường hợp đặc biệt thì pháp luật cho phép lập di
chúc theo thể thức khác (Điều 967).
Một di chúc viết tay là di chúc được người lập di chúc viết bằng chính bàn tay
mình, có toàn bộ ngày, tháng, năm, họ tên và đóng dấu vào đó (Điều 968).
Để lập di chúc thông qua công chứng thì cần phải có đủ các thể thức sau: có 2
người làm chứng, người lập di chúc đọc miệng nội dung di chúc cho công chứng viên
chép lại, và công chứng viên đọc nó lại cho người lập di chúc và các nhân chứng
nghe. Người lập di chúc và từng người làm chứng phải kí và đóng dấu vào bản chép
này sau khi tin chắc rằng nó được chép chính xác. Cuối cùng công chứng viên xác
nhận bổ sung để cho văn bản được xác lập phù hợp với các thủ tục được nêu ở trên và
kí tên đóng dấu ( Điều 969).
Để thực hiện việc lập di chúc dưới hình thức văn bản bí mật thì cần có các thể
thức sau: người lập di chúc phải kí tên, đóng dấu vào văn bản, rồi dán văn bản và
đóng dấu lên phong bì bằng chính con dấu đó, việc này phải được thực hiện trước
công chứng viên và ít nhất 2 người làm chứng, và tuyên bố rằng đây là văn bản di
chúc của mình cũng như tên họ, nơi thường trú của người viết di chúc này. Sau đó
công chứng viên viết lên phong bì đã được đóng dấu ngày, tháng lập văn bản và ngày
tháng mà người lập di chúc tuyên bố và đồng thời công chứng viên, người lập di chúc
và nhân chứng phải kí tên và đóng dấu của mình vào đó (Điều 970).
Trong một số các trường hợp đặc biệt theo luật định thì pháp luật chấp nhận
hình thức di chúc miệng. Điều 976 chỉ rõ: người nào bị bệnh nặng hay trong tình
trạng nguy hiểm đến tính mạng muốn để lại di chúc thì có thể để lại di chúc miệng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét