Lãi suất thoả thuận ở VN
2.2. Lãi suất với lạm phát
Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối qua hệ chặt chẽ giữa lãi suất và
lạm phát. Fisher chỉ ra rằng lãi suất tăng cao thời kỳ lạm phát cao, Những n-
ớc trải qua lạm phát cao cũng chính là những bnớc có mức lãi suất cao.Lạm
phát là hiênh tợng mất giá chung của đồng tiền; là tình trạng tăng liên tục của
mức giá chung của nền kinh tế do nhiều nguyên nhân khác nhau. Do vậy
cũng có nhiều biện pháp khác nhau để kiểm soát lạm phát, trong đó giải pháp
về lãi suất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Trong thời kỳ lạm phát, tăng lãi suất sẽ cho phép hệ thống ngân hàng
có thể thu hút phần lớn số tiền có nhiều trong lu thông khiến cho đồng tiền
trong lu thông giảm, cơ số tiền và lợng tiền cung ứng giảm, lạm phát đợc
kiềm chế. Nh vậy, lãi suất cũng góp phần chống lạm phát.
Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ lãi suất trong chống lạm phát không
thể duy trì lâu dài vì lãi suất tăng sẽ làm giảm đầu t, giảm tổng cầu và làm
giảm sản lợng. Do vậy lãi suất phải đợc sử dụng kết hợp với các công cụ khác
thì mới có thể kiểm soát đợc lạm phát ổn định giá cả, ổn định đồng tiền. Một
chính sách lãi suất phù hợp là sự cần thiết cho sự phát triển lành mạnh của
nền kinh tế.
2.3. Lãi suất tác động tới tiêu dùng và tiết kiệm.
Thu nhập của các hộ gia đình thờng đợc chia làm hai bộ phận: tiêu
dùng và tiết kiệm. Tỷ lệ phân chia nàyphụ thuộc vào nhiều nhân tố nh thu
nhập, vấn đề hàng lâu bền và tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của tiết kiệm trong
đó tiền tệ và lãi suất có tác dụng tích cực tới các nhân tố khác.
Khi lãi suất thấp, chi phí tín dụng tiêu dùng thấp, ngời ta vay nhiều
hơn cho việc mua sắm các hàng hoá, nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn. Ngợc lại,
khi lãi suất cao đem lại thu nhập từ khoản tiền để dành nhiều hơn sẽ khuyến
khích tiết kiệm, do đó tiết kiệm tăng.
5
Lãi suất thoả thuận ở VN
2.4. Lãi suất tác động đến đầu t.
Hoạt động đầu t chịu nhiều ảnh hởng của nhiều nhân tố nh thu nhập,
chi phí kỳ vọng trong kinh doanh. Trong đó lãi suất thể hiện chi phí đầu t là
yếu tố quan trọng quyết định đầu t.
Khi lãi suất ở mức cao, ít khoản đầu t vào vốn hiện vật sẽ mang lại thu
nhập nhiều hơn chi phí lãi trả cho các khoản đi vay, do vậy chi tiêu cho đầu
t giảm, ngợc lại khi lãi suất giảm các doanh nghiệp sẽ quyết định đầu t cho
vốn hiện vật nhiều hơn, chi tiêu đầu t sẽ tăng.
Ngay cả khi một doanh nghiệp có d thừa vốn và không muốn vay để
đầu t vào vốn hiện vật thì chi tiêu đầu t vẫn bị ảnh hởng của lãi suất do doanh
nghiệp có thể mua chứng khoán. Lãi suất cao, chi phí cơ hội của khoản đầu t
sẽ cao, chi tiêu đầu t giảm do doanh nghiệp mua chứng khoán sẽ tốt hơn vào
đầu t vốn hiện vật. Khi lãi suất chi phí cơ hội của đầu t giảm, chi tiêu đầu t sẽ
tăng lên vì đầu t vào vốn hiện vật rất có thể đem lại thu nhập lớn hơn cho
doanh nghiệp so với mua chứng khoán.
Đối với đầu t hàng dự trữ, chi phí của việc gửi hàng dự trữ là khoản lãi
trả cho khoản tiền đáng lẽ thu đợc do bán nhợng hàng hoá này đi hay khoản
vay để mua hàng. Lãi suất làm việc tăng lên, chi phí biên của việc giữ hàng
dự trữ so với lợi ích biên đã giả định trớc làm cho đầu t vào hàng dự trữ giảm.
Nh vậy lãi suất là nhân tố chủ yếu quyết định đầu t của các doanh nghiệp vào
vốn hiện vật và hàng dự trữ.
2.5. Lãi suất tác động tới tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu.
Tỷ giá là giá cả tiền tệ của nớc này thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của nớc
khác. Tỷ giá do quan hệ cung cầu trên thị trờng ngoại hối quyết định và chịu
ảnh hởng của nhiều nhân tố nh giá cả, thuế quan, sự a thích hàng nội, hàng
ngoại, năng suất lao động Ngoài ra tỷ giá trong ngắn hạn còn chịu ảnh h-
ởng của lãi suất: lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ. Sự thay đổi lãi suất tiền
gửi nội tệ ở đây là sự thay đổi lãi suất danh nghĩa. Nếu lãi suất danh nghĩa
6
Lãi suất thoả thuận ở VN
tăng do lãi suất tăng do tỷ lệ lạm phát dự tính tăng( lãi suất thực không đổi)
thì tỷ giá giảm. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất thực tế tăng (tỷ lệ
lạm phát không đổi) thì giá đồng tiền trong nớc tăng, tỷ giá tăng. Khi lãi suất
tiền gửi ngoại tệ tăng, đồng nội tệ giảm giá (tỷ giá giảm) và ngợc lại.
Tỷ giá rất quan trọng trong hoạt động xuất nhập khẩu. Nếu lãi suất
tăng làm tăng tỷ giá sẽ làm cho hoạt động xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng và
ngợc lại. Nh vậy thông qua tỷ giá hối đoái, lãi suất có ảnh hởng lớn tới xuất
nhập khẩu , xuất khẩu ròng của một quốc gia.
7
Lãi suất thoả thuận ở VN
Phần II
Quá trình tiến tới tự do hoá lãi suất ở nớc ta
và cơ chế lãi suất thoả thuận
Ngày 30/5/2002. thống đốc NHNN Việt Nam đã ban hành quyết định
số 546/2002/QĐNHNN về việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong
hoạt động tín dụng thơng mại bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối
với khách hàng. Rõ ràng, đây là một bớc chuyển đổi quan trọng, mạnh mẽ và
cần thiết trong chính sách tín dụng, phù hợp với nguyên tắc thị trờng nhằm
đảm bảo nguồn lực tài chính đợc sử dụng và phân bổ một cách có hiệu quả
hơn. Tuy nhiên trong điều kiện Việt Nam hiện nay thì việc áp dụng cơ chế lãi
suất thoả thuận đã thực sự thích hợp hay cha? cũng là một câu hỏi cần đặt ra.
Để làm rõ vấn đề này, trớc hết chúng ta sẽ nghiên cứu quá trình điều hành lãi
suất của NHNN nhằm hớng tới tự do hoá lãi suất trong thời gian qua.
I. Cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam trong thời
gian qua:
1.1 Trớc năm 1989: nền kinh tế nớc ta vận hành theo cơ chế kế hoạch
hoá tập trung quan liêu bao cấp dẫn đến khủng hoảng về mọi mặt, tài chính,
tiền tệ, Thời kỳ này là thời kỳ mà lãi suất đợc điều hành theo cơ chế lãi suất
âm, chính sách lãi suất cứng nhắc bị áp đặt theo kiểu hành chính, khiến cho
các ngân hàng (NH) làm ăn thua lỗ, nền kinh tế thì trì trệ kém phát triển,
thâm hụt ngân sách nặng nề,
1.2. Từ năm 1989 đến năm 1992 là quá trình chuyển dần từ chế độ
lãi suất âm sang chế độ lãi suất dơng, từng bớc xoá bỏ bao cấp qua lãi suất.
Năm 1991, hệ thống NH chuyển sang mô hình hai cấp: NHNN thực hiện
chức năng NHTW và quản lý nhà nớc, hệ thống NHTM thực hiện chức năng
của NHTM là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH theo cơ chế thị trờng. Trong
giai đoạn này, NHNN quy định các mức lãi suất tiền gửi, cho vay với mục
tiêu là chống khủng hoảng, chống lạm phát.
8
Lãi suất thoả thuận ở VN
1.3. Từ 1992 đến 1995: là giai đoạn thực hiện cơ chế lãi suất thực d-
ơng. NHNN vừa quy định sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi cho vay ngắn và
trung hạn, không phân biệt lãi suất cho vay đối với các thành phần kinh tế,
cho phép các tổ chức tín dụng tự ấn định mức lãi suất huy động băng nhiều
hình thức, chấm dứt bao cấp tín dụng thông qua lãi suất, lãi suất huy động
bằng lãi suất thực cộng với chỉ số trợt giá bình quân trên thị trờng. Lãi suất
cho vay bằng lãi suất huy động bình quân cộng thêm tỷ lệ chi phí hợp lý của
NH, lãi suất phải bảo toàn đợc vốn cho cả ngời vay, ngời gửi và có lãi thực.
Đối với lãi suất ngoại tệ, NHNN quy định trần lãi suất cho vy, còn lãi
suất huy động do các NHTM tự quyết định trêncơ sở lãi suất thị trờng quốc tế
và cung câù vốn ngoại tệ trên thị trờng tiền tệ trong nớc.
1.4. Thời kỳ từ năm 1996 đến tháng 7/2000: Đến cuối năm 1995,
chính sách lãi suất đã bộc lộ nhiều tồn tại không phù hợp với yêu cầu phát
triển của thị trờng tiền tệ. Vì vậy NHNN đã ban hành chính sách lãi suất mới
theo hớng nới lỏng hơn so với trớc đây. Cụ thể là NHNN bỏ quy định sàn lãi
suất tiền gửi chỉ quy định trần lãi suất cho vay trung và dài hạn cao hơn lãi
suất xho vay ngắn hạn, trần cho vay ở khu vực thành thị thấp hơn khu vực
nông thôn.
Trần lãi suất cho vay bằng ngoại tệ đợc điều chíh phù hợp với biến
động lãi suất trên, thị trờng quốc tế và cung cầu vốn ngoại tệ thị trờng tiền tệ
trong nớc.
1.5. Thời kỳ từ tháng 7/2000 đến tháng 5/2002:
Xuất phát yêu cầu đổi mới hoạt động NH phù hợp với nhịp độ và mục
tiêu phát triển kinh tế theo cơ chế thị trờng, thực hiện theo luật NHNN, chính
sách lãi suất cơ bản.
Lãi suất cơ bản đợc hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu vốn trên
thị trờng nhng vẫn có sự khống chế của NHNN bằng việc quy định biên độ
9
Lãi suất thoả thuận ở VN
nhất định để các NHTM xác địng lãi suất cho vay. Lãi suất cơ bản đợc
NHNN thông báo hàng tháng dựa trên các nhân tố chủ yếu sau:
Tham khảo lãi suất cho vay ngắn hạn thông thờng áp dụng đối với
khách hàng có uy tín của NHTM lớn, diễn biến về lãi suất và tiền tệ, diễn
biến kinh tế vĩ mô; quan hệ tỷ giá với chính sách tiền tệ.
Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ , bỏ quy định trần lãi suất cho
vay, mà áp dụng lãi suất linh hoạt theo tiền tệ quốc tế. Thời gian đầu còn bị
khống chế với giới hạn không vợt quá lãi suất Sibor cộng thêm tỷ lệ nhất
định. Tuy nhiên sau một thời gian thực hiện, NHNN đã tự do hoá lãi suất
huy động và cho vay bằng ngoại tệ.
II. Tính tất yếu của viêc chuyển sang một cơ chế
lãi suất theo hớng thị trờng :
Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2000 đến tháng 5/2002, lãi suất cơ
bản đợc điều chỉnh tơng đối phù hợp với việc thực thi chính sách lãi suất tiền
tệ nới lỏng một cách thận trọng, với biên độ khá rộng, tạo điều kiện cho các
TCTD ấn định lãi suất cho vay phù hợp với quan hệ cung cầu vốn ở thị trờng
thành thị và nông thôn.
Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản tự nó đã bộc lộ nhiều
nhợc điểm làm hạn chế quá trình phát triển của hoạt động kinh doanh NH và
không thích hợp với nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Cụ thể, mục đích đa
ra trần lãi suất để hạn chế các NHTM cho vay với lãi suất cao tránh ảnh hởng
hơn, vì bản thân các NHTM đã hoạt động trong môi trờng cạnh tranh tơng
đối quyết liệt mà bản thân lãi suất là công cụ quan trọng để tìm kiếm khách
hàng và nâng cao thị trờng tín dụng trong nền kinh tế. Mặt khác nhu cầu của
nền kinh tế trong những năm tới sẽ còn tiếp tục tăng cao đã đặt ra một yêu
cầu bức xúc đối với các NHTM phải huy động thêm nhiều nguồn vốn, mà
muốn vậy thì lãi suất cũng phải sử dụng nh một công cụ đòn bẩy quan trọng.
10
Lãi suất thoả thuận ở VN
Qua một năm thực hiện cơ chế tự do hoá lãi suất cho vay ngoại tệ cũng đã
cho thấy tỷ gía và thị trờng ngoại hối vẫn ổn định và hoạt động bình thờng,
không có tác động xấu đối với nền kinh tế. Đồng thời tạo điều kiện cho các
NHTM ấn định lãi suất huy động cho vay phù hợp với khả năng của NH, với
nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Trên thế giới, các nớc đang trong quá trình phát triển theo kinhtế thị tr-
ờng đều phấn đấu để tiến tới tự do hoá lãi suất, bởi vì tự do hoá lãi suất có tác
động mạnh mẽ tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân, có khả năng quyết định nhịp
độ của tăng trởng kinh tế. ở Việt Nam, việc chuyển đổi lãi suất theo hớng thị
trờng có nhiều tác động tích cực đối với kinh tế vĩ mô và thị trờng tài chính,
cụ thể nh sau:
Một là, việc nới lỏng cơ chế điều hành lãi suất theo hớng thị trờng đã
tạo khả năng cho thị trờng tài chính phát triển theo chiều sâu.
Hai là, sự thay đổi chính sách lãi suất là phù hợp với diễn biến kinh tế
vĩ mô, nhng cũng chính yêu cầu phát triển kinh tế, tiền tệ hoá các mối quan
hệ kinh tế và sự hình thành các nhân tố thị trờng đã buộc chính sách lãi suất
phải có sự nới lỏng để chuyển dần sang cơ chế lãi suất thoả thuận nhằm tạo
điều kiện cho việc huy động tối đa nguồn lực trong nớc phục vụ cho đầu t
phát triển và đồng bộ với tổng thể chính sách kinh tế - tài chính - đối ngoại.
Ba là, việc nới lỏng cơ chế lãi suất, làm cho lãi suất tự điều chỉnh linh
hoạt và phù hợp hơn với quan hệ cung cầu vốn thị trờng, các nguồn vốn đợc
lu chuyển đến nơi có lợi nhuận cao cới mức rủi ro thấp, nâng cao hiệu quả
đầu t thúc đẩy các NHTM phát triển nhanh chóng mạng lới chi nhánh ở
thành thị, nông thôn, đa ra các mức lãi suất, sản phẩm dịch vụ thích hợp với
khách hàng. Nếu không, việc kiểm soát lãi suất bằng biện pháp hành chính sẽ
rất hạn chế, nh thực tế năm 1991 - 1995, NHNN khống chế chặt chẽ mức trần
lãi suất cho vay ở mức thấp đã khuyến khích sự vay mợn lòng vongf, trốn
tránh sự kiểm soát, lãi suất tiền gửi tăng, nhng lãi suất cho vay lại không tăng
đợc và chênh lệch lãi suất chỉ đủ bù đắp chi phí kinh doanh, lợi nhuận rất
11
Lãi suất thoả thuận ở VN
thấp, khả năng tài chính của NHTM bị yếu đi, dễ gây xáo trộn tổn thơng cho
thị trờng tài chính.
Bốn là, quá trình chuyển dịch sang cơ chế lãi suất thoả thuận đi liền
với quá trình nới lỏng kiểm soát ngoại hối và thực hiện chế độ tỷ giá linh
hoạt làm chi lãi suất trong nớc bám sát hơn lãi suất quốc tế, việc huy động
vốn trong nớc và vốn từ nớc ngoài tăng lên để tài trợ cho nhu cầu tín dụng
trong nớc.
Năm là, quá trình chuyển dần sang cơ chế lãi suất thoả thuận làm cho
mức biến động ngày càng tăng của các luồng vốn đầu t, NHNN phải sử dụng
và phát huy nhiều hơn các công cụ gián tiếp để điều hành chính sách tiền tệ,
tăng cờng kiểm soát rủi ro tín dụng và phát triển đồng đều các bộ phận của
thị trờng tiền tệ.
Sáu là, sau mỗi giai đoạn nới lỏng cơ chế điều hành lãi suất, việc huy
động vốn và mở rộng cho vay của TCTD đợc thuận lợi hơn, ngời sản xuất và
tổ chức kinh tế ở nông thôn đợc vay vốn nhiều hơn do khối lợng vốn chuyển
về đầu t cho khu vực nông thôn tăng lên (tín dụng đối với với khu vực nông
thôn 5 năm gần đây tăng bình quân 23% đến 25%/năm, lớn hơn mức bình
quân chung.
Bảy là, NSNN có điều kiện huy động đợc tối đa nguồn lực trong nớc
để bù đắp thâm hụt, thay vì đi vay nớc ngoài quá lớn hoặc sử dụng tiền phát
hành.
Xuất phát từ những nhận định nêu trên và đối chiếu với các điều kiện
để các nớc có thể tự do hoá lãi suất, chúng ta có thể thấy đây cũng là thời
điểm thích hợp để thực hiện tự do hoá lãi suất.
Về kinh tế vĩ mô: trong những năm qua, chúng ta đã duy trì đợc một
nhịp độ tăng trởng kinh tế tơng đối cao và ổn định, lạm phát đợc kiểm soát ở
mức thấp, thâm hụt ngân sách luôn ở dới mức 5% so với GDP, bội thu cán
cân thanh toán: đây là điều kiện tiền đề và có ý nghĩa quan trọng để chọn thời
12
Lãi suất thoả thuận ở VN
điểm tự do hoá lãi suất. Hệ thống các TCTD đã và đang đợc củng cố, sắp xếp
lành mạnh hoá và khả năng ngày càng đợc nâng cao. Các công cụ của chính
sách tiền tệ ngày càng đợc hoàn thiện và vận hành linh hoạt theo cơ chế thị
trờng.
Nh vậy tự do hoá lãi suất là việc tất yếu cần phải tiến tới. Tuy nhiên,
việc chuyển sang áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận có phù hợp với điều kiện
của nớc ta hiện nay hay không? Chúng ta sẽ tiến hành lãm rõ điều này qua sự
phân tích dới đây.
III. Những thách thức đặt ra đối với việc thực hiện
cơ chế lãi suất thoả thuận:
Trớc hết, ta cần phải hiểu lãi suất thoả thuận là gì? Cơ chế lãi suất thị
trờng mà theo đó, lãi suất đợc hình thành và biến động chủ yếu do hệ cung
cầu vốn thị trờng, sự kiểm soát lãi suất của NHNN đợc thcj hiện thông qua
việc điều hành các công cụ của chính sách tiền tệ tác động lên cung cầu vốn
để hớng lãi suất thị trờng biến động phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền
tệ.
Theo quyết định số 546/QĐ-NHNN, kể từ ngày 1/6/2002, chính thức
thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận bằng đồng VN của các TCTD theo quyết
định này, các TCTD đợc quyền chủ động xác định lãi suất cho vay nội tệ trên
cơ sở cung cầu vốn và mức độ tín nhiệm đối với khách hàng. Tuy nhiên hàng
tháng, NHNN vẫn tiếp tục công bố lãi suất trên cơ sở tham khảo mức lãi suất
cho vay thơng mại đối khách hàng tốt nhất của nhóm TCTD đợc lựa chọn,
để các TCTD tham khảo và định hớng lãi suất thị trờng. Đồng thời, NHNN
chủ động á dụng các biện pháp để kiểm soát biến động lãi suất thị trờng, đảm
bảo yêu cầu là mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
Rõ ràng, thực hiện cơ chế lãi suất thị trờng trong hoạt động tín dụng
thơng mại rõ ràng là một bớc chuyển đổi quản trọng, mạnh mẽ về chính sách
13
Lãi suất thoả thuận ở VN
lãi suất và chính sách tín dụng theo nguyên tắc thị trơng hơn. Lãi suất thoả
thuận về bản chất kinh tế chính là lãi suất thị trờng. Vì vậy nó chỉ hoạt động
và phát huy tác dụng trong điều kiện thị trờng tài chính phát triển. Những
điều kiện cơ bản bao gồm:
- Thị trờng tài chính phát triển có chiều sâu.
- Hệ thống NHTM hoạt động trên nguyên tắc thị trờng có hiệu quả.
- NHNN có đủ năng lực điều hành chính sách tiền tệ và kiểm soát thị
trờng tài chính.
Với những điều kiện nh vậy, việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận
hiện nay ở Việt Nam đặt ra không ít thách thức, cụ thể nh sau:
3.1. Thị trờng tài chính Việt Nam vốn còn hết sức kém phát triển
và lạc hậu so với các nớc trong khu vực.
Xét về độ sâu tài chính, mức độ tiền tệ hoá nền kinh tế thị trờng tài
chính Việt Nam vẫn còn lạc hậu so với các nớc trong khu vực. Sự nông cạn
của thị trờng làm cho các công cụ thị trờng tài chính Việt Nam đợc phản ánh
qua các chỉ số tài chính cơ bản, các chỉ số M2/GDP, tín dụng/GDP, tiền
gửi/GDP, đều ở mức thấp so với các chỉ số của các nớc trong khu vực. Điều
đó đợc thể hiên qua bảng sau:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét