Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Luận văn thạc sĩ về Kinh tế Trang trại tỉnh Bình Dương- Hiệu quả Kinh tế và giải pháp phát triển

- 4 -
trại dựa vào kết quả của mô hình kinh tế lượng ứng dụng trong đề tài nghiên
cứu.
Qua đó, xác định mô hình kinh tế trang trại nổi lên với vai trò tích cực thông
qua hiệu quả hoạt động được đúc kết bởi thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm của
Thế giới. Thông qua việc đánh giá các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động
của kinh tế trang trại ở địa phương và sự phù hợp của mô hình này trong điều
kiện Việt Nam là thành viên thứ 150 của tổ chức WTO, từ đó đề xuất một số
giải pháp để tập trung chính sách nhằm phát triển mô hình kinh tế trang trại,
thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.























- 5 -
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong quá trình phát triển kinh
tế của một quốc gia, đặc biệt đối với nước ta với hơn 75% dân số ở khu vực nông
thôn và chiếm 67,3% lực lượng lao động xã hội. Tỷ trọng sản lượng nông nghiệp
vẫn chiếm tỷ lệ cao đóng góp khoảng 24,5% trong GDP. Khoảng cách thu nhập
giữa khu vực thành thị và nông thôn là rất lớn (hơn 3,7 lần).
Công cuộc Đổi mới của nước ta đã tạo bước chuyển lớn trong nông nghiệp
làm cho nông nghiệp phát triển nhanh, từ chổ thiếu lương thực thực phẩm vào
những năm 80 thì đến nay Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu lương thựcxếp
thứ hạng cao trên thế giới. Tuy nhiên trong quá trình phát triển, nông nghiệp vẫn là
ngành sản xuất chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, với những vấn đề nổi lên như sản
lượng nông nghiệp nhìn chung có tăng nhưng lợi tức cho người làm nông nghiệp thì
bấp bênh, cung - cầu mất cân đối với điệp khúc “được mùa rớt giá”, chất lượng sản
phẩm kém, không đồng đều, tính cạnh tranh không cao, môi trường thiên nhiên bị
khai thác quá mức,
Đề tài với cách tiếp cận từ những cơ sở lý thuyết, các mô hình nghiên cứu
của các nhà kinh tế gắn với thực tiễn phát triển ở Việt Nam, đồng thời kết hợp với
kết quả khảo sát, thu thập điều tra khu vực nghiên cứu để củng cố về mặt lý luận và
đề xuất chính sách.
1. Các lý thuyết liên quan trong quá trình phân tích của đề tài
1.1. Lý thuyết lợi thế theo qui mô
Theo lý thuyết hiệu suất theo quy mô, Robert S.Pindyck và Daniel
L.Rubinfeld, việc đo lường sản lượng gia tăng tương ứng với sự gia tăng của tất
cả các yếu tố đầu vào là vấn đề cốt lõi để tìm ra bản chất của quá trình sản xuất
trong dài hạn. Hiệu suất tăng dần theo quy mô khi sản lượng tăng hơn hai lần
trong khi các yếu tố đầu vào tăng gấp đôi. Điều này xảy ra khi quy mô sản xuất
lớn hơn, cho phép công nhân và nhà quản lý chuyên môn hoá các nhiệm vụ của
họ và khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất như
đất đai, máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển,
- 6 -
Sự tồn tại của các xí nghiệp có hiệu suất tăng dần theo quy mô sẽ có lợi thế
kinh tế hơn là để nhiều cơ sở sản xuất nhỏ tồn tại, bởi lẽ chi phí cho từng hộ cá
thể cho việc tổ chức sản xuất cùng một loại nông sản sẽ cao hơn thay vì với quy
mô lớn hơn, tạo điều kiện ứng dụng cơ giới hoá, tổ chức sản xuất đồng loạt, tiết
kiệm chi phí hơn.
Điều này thể hiện rất rõ trong thực tế, với quy mô diện tích đất đai lớn hơn,
hộ nông dân dễ dàng áp dụng cơ giới hoá, thủy lợi hoá cũng như việc tổ chức
sản xuất hàng hoá có lợi thế hơn rất nhiều với các hộ nông dân có diện tích đất
đai nhỏ lẻ, manh mún. Chẳng hạn, chỉ cần 1 ca máy thì có thể cày xong 10 hecta
đất nhưng nếu hộ nông dân chỉ có 2 hecta thì vẫn phải thuê 1 ca máy để cày
đất,
Tại những mức sản lượng tương đối thấp, hàm sản xuất thường thể hiện hiệu
suất tăng dần theo quy mô. Khi phương án kết hợp đầu vào là 5 giờ lao động
kèm với 1 giờ vận hành máy, sản lượng là 10 đơn vị; khi cả hai đầu vào tăng gấp
đôi thì sản lượng tăng lên gấp ba lần;
Tuy nhiên không phải ngành nghề nào hoặc hãng nào đều có hiệu suất tăng
dần theo quy mô. Đối với các xí nghiệp có năng suất trung bình và năng suất
biên của các yếu tố đầu vào không thay đổi theo quy mô sản xuất thì hiệu suất
không đổi theo quy mô. Hoặc đối với các xí nghiệp có quy mô sản xuất lớn, với
các yếu tố đầu vào tăng gấp đôi nhưng sản lượng có thể chưa tăng tới hai lần,
khi đó hiệu suất giảm dần theo quy mô. Trường hợp này xảy ra khi có những
khó khăn về quản lý xuất phát từ tính chất phức tạp của quá trình tổ chức và tiến
hành sản xuất lớn.
Trong giai đoạn phát triển của nông nghiệp Việt Nam hiện nay, quá trình tích
tụ tập trung đất đến một quy mô nhất định là cần thiết nhằm tận dụng lợi thế
theo quy mô. Tuy nhiên với tốc độ tăng trưởng kinh tế như hiện nay cùng với
quá trình công nghiệp hoá đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, với nguồn lực đất đai
hữu hạn thì việc gia tăng các yếu tố đầu vào (đặc biệt là đất đai) được hiểu là
nâng cao hiệu suất sử dụng các nguồn lực này.
1.2. Lý thuyết mô hình kinh tế hai khu vực:
Mô hình được giải thích bởi Lewis, các nhà kinh tế học thuộc trường phái
Tân Cổ Điển và Oshima. Theo các nhà kinh tế này thì nguồn gốc của tăng
- 7 -
trưởng kinh tế chính là khả năng thu hút lao động nông nghiệp của khu vực công
nghiệp.
1.2.1. Mô hình Lewis (1955):
Theo Lewis, do đất đai trong nông nghiệp ngày càng khan hiếm trong
khi lao động ngày càng tăng. Hệ quả là có tình trạng dư thừa lao động trong
khu vực nông nghiệp. Lao động có thể giảm đi nhưng không ảnh hưởng đến
tổng sản phẩm nông nghiệp. Trong khi mức tiền lương của khu vực công
nghiệp cao hơn mức tiền lương của khu vực nông nghiệp. Vì tiền lương
trong ngắn hạn không đổi, tổng sản phẩm tăng làm cho lợi nhuận nhà sản
xuất công nghiệp tăng, từ đó giúp gia tăng tích lũy và thúc đẩy tái sản xuất
mở rộng. Nhưng nếu khu vực công nghiệp tiếp tục thu hút lao động từ khu
vực nông nghiệp đến một lúc nào đó thì tiền lương sẽ tăng. Lợi nhuận của
khu vực công nghiệp sẽ giảm. Để mở rộng tổng sản phẩm nhà sản xuất công
nghiệp sẽ lựa chọn yếu tố khác thay thế lao động (công nghiệp thâm dụng
vốn),
Mô hình Lewis cho thấy tăng trưởng của nền kinh tế được thực hiện
trên cơ sở tăng trưởng của công nghiệp thông qua tích lũy vốn từ thu hút lao
động dư thừa của khu vực nông nghiệp. Do đó, trong nông nghiệp cần phát
triển theo hướng nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, Kinh tế trang trại
là hình thức đáp ứng được yêu cầu này.
1.2.2. Mô hình Harry T. Oshima:
Oshima cho rằng, khu vực nông nghiệp có dư thừa lao động nhưng
chỉ lúc thời vụ không căng thẳng. Và đầu tư chiều sâu cho cả nông nghiệp và
công nghiệp là không khả thi, vì nguồn lực và trình độ lao động có hạn của
các nước đang phát triển. Theo ông:
Giai đoạn 1, đầu tư cho nông nghiệp phát triển theo chiều rộng nhằm
đa dạng hoá sản xuất, thu hút lao động tại nông nghiệp. Hướng này phù hợp
vì đòi hỏi vốn không lớn, trình độ kỹ thuật nông nghiệp không cao và không
đòi hỏi đầu tư lớn như đầu tư cho công nghiệp. Đồng thời, nông nghiệp mở
rộng sản lượng và xuất khẩu tạo ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, thiết bị cho
các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Kết thúc giai đoạn 1, nông
- 8 -
nghiệp có chủng loại nông sản đa dạng với quy mô lớn, đòi hỏi phát triển
công nghiệp chế biến với quy mô lớn.
Giai đoạn 2, đồng thời đầu tư phát triển theo chiều rộng các ngành
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ là tiếp tục đa dạng hoá sản xuất nông
nghiệp, ứng dụng công nghiệp sinh học, sản xuất theo quy mô lớn nhằm mở
rộng quy mô sản lượng. Phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp cung
cấp đầu vào cho nông nghiệp và các ngành công nghiệp thâm dụng lao động.
Như vậy phát triển nông nghiệp tạo điều kiện để mở rộng thị trường công
nghiệp, tăng thêm quy mô sản xuất công nghiệp và nhu cầu về các hoạt động
dịch vụ. Kết thúc giai đoạn 2, tốc độ tăng trưởng việc làm lớn hơn tốc độ
tăng trưởng lao động.
Giai đoạn 3, phát triển các ngành kinh tế theo chiều sâu nhằm giảm
nhu cầu lao động. Sự phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch
vụ của giai đoạn 2 làm cho hiện tượng thiếu lao động ngày càng phổ biến.
Do đó, trong nông nghiệp cần đẩy mạnh cơ giới hoá và ứng dụng công nghệ
sinh học để tăng nhanh năng suất lao động. Từ đó, có thể giảm số lao động
trong nông nghiệp chuyển sang khu vực công nghiệp mà không ảnh hưởng
đến tổng sản phẩm nông nghiệp. Trong lĩnh vực công nghiệp thì tiếp tục phát
triển theo hướng thay thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu, thu hẹp ngành
công nghiệp thâm dụng lao động và mở rộng ngành công nghiệp thâm dụng
vốn để nâng sức cạnh tranh và giảm nhu cầu về lao động.
Mô hình cho thấy: phát triển sản xuất quy mô lớn, với hình thức kinh
tế trang trại, hợp tác là cần thiết cho quá trình phát triển nông nghiệp.
1.3. Lý thuyết tăng trưởng nông nghiệp theo các giai đoạn TODARO –
SS.PARK
1.3.1. Mô hình ba giai đoạn phát triển nông nghiệp (TODARO, 1990)
Theo Todaro, phát triển nông nghiệp trải qua ba giai đoạn tuần tự từ
thấp đến cao, đó là: nền nông nghiệp tự cấp tự túc → Chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá → Nông nghiệp hiện đại.
Ở giai đoạn tự cấp tự túc, phần lớn các sản phẩm sản xuất ra được tiêu
dùng nội bộ trong khu vực nông nghiệp; sản phẩm chưa đa dạng, chủ yếu là
các loại cây lương thực và một số con vật nuôi truyền thống; Công cụ sản
- 9 -
xuất thô sơ, phương pháp sản xuất truyền thống giản đơn, chủ yếu là độc
canh; Đất, lao động là những yếu tố sản xuất chủ yếu, đầu tư vốn còn thấp do
đó xu hướng lợi nhuận giảm dần được thể hiện rõ khi sản xuất mở rộng trên
diện tích đất không màu mỡ; Sản lượng nông nghiệp vẫn gia tăng nhưng chủ
yếu là do mở rộng diện tích và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.
Giai đoạn chuyển dịch cơ cấu theo hướng đa dạng hoá, từ sản xuất tự
cấp tự túc sang chuyên môn hoá. Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là cơ
cấu cây trồng, vật nuôi phát triển theo hướng hỗn hợp và đa dạng, thay thế
cho hình thức canh tác độc canh trước kia; sử dụng giống mới kết hợp với
phân bón hoá học và tưới tiêu làm tăng năng suất nông nghiệp; Sản lượng
lương thực tăng đồng thời tiết kiệm được diện tích đất sản xuất và sản xuất
hướng tới thị trường, thoát khỏi tự cung, tự cấp.
Giai đoạn phát triển cao nhất của nông nghiệp đó là một nền nông
nghiệp hiện đại. Đặc trưng cơ bản trong giai đoạn này là trong các trang trại
được chuyên môn hoá, sản xuất được cung ứng hoàn toàn cho thị trường và
lợi nhuận thương mại là mục tiêu của người sản xuất; Yếu tố vốn và công
nghệ trở thành các yếu tố quyết định đối với việc tăng sản lượng nông
nghiệp; Dựa vào lợi thế về quy mô, áp dụng tối đa công nghệ mới, hướng
vào sản xuất một vài loại sản phẩm chuyên biệt.
Mô hình cho thấy, quá trình phát triển nông nghiệp đi từ thấp đến cao
mà cơ sở của một nền nông nghiệp hiện đại đó là các trang trại nông nghiệp
được chuyên môn hoá sản xuất, dựa vào lợi thế quy mô và gắn với thị
trường.
1.3.2. Mô hình Hàm sản xuất tăng trưởng nông nghiệp theo các giai đoạn
phát triển (Sung Sang Park, 1992)
S.S.Park phân chia quá trình phát triển nông nghiệp thành ba giai
đoạn: Sơ khai, đang phát triển và phát triển. Mỗi giai đoạn phát triển, sản
lượng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau và được mô tả dưới
dạng hàm sản xuất.
- Giai đoạn sơ khai:
Sản xuất nông nghiệp chưa sử dụng các yếu tố đầu vào được sản xuất
từ khu vực công nghiệp. Giai đoạn này, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc
- 10 -
vào các yếu tố tự nhiên như đất đai, thời tiết, khí hậu và lao động. Trong giai
đoạn sơ khai, quy luật năng suất biên giảm dần thể hiện trong sản xuất.
Lúc đầu, khi tăng thêm một đơn vị lao động, năng suất đất sẽ tăng hơn
một đơn vị. Sau đó phần gia tăng của năng suất đất sẽ giảm dần khi số lao
động tiếp tục tăng thêm. Nguyên nhân của năng suất biên giảm dần chủ yếu
là do không chuyển được số lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp
sang khu vực công nghiệp - dịch vụ.
- Giai đoạn đang phát triển: sản lượng nông nghiệp còn phụ thuộc vào các
yếu tố đầu vào được sản xuất từ khu vực công nghiệp (phân bón, thuốc
hoá học).
Trong giai đoạn đang phát triển, năng suất đất tăng lên tương ứng với
lượng phân bón và thuốc hoá học sử dụng tăng lên. Năng suất đất ở giai đoạn
đang phát triển cao hơn nhiều so với giai đoạn sơ khai. Thay vì chỉ tăng lao
động trên một hecta đất thì thêm vào đó là sử dụng phân bón hoá học nhiều
hơn làm cho sản lượng tăng nhanh, rồi sau đó giảm xuống theo quy luật năng
suất biên giảm dần.
Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp đã
đưa giống mới năng suất cao với đòi hỏi lượng phân bón, thuốc hoá học phải
sử dụng nhiều hơn. Do đó trong giai đoạn này sản lượng nông nghiệp tăng
còn nhờ vào tác động từ cuộc cách mạng xanh đem lại. Park nhấn mạnh năng
suất đất phụ thuộc vào khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào (R) từ khu vực
công nghiệp.
- Giai đoạn phát triển: Nền kinh tế đạt mức toàn dụng, không còn tình
trạng bán thất nghiệp trong nông nghiệp. Sản lượng nông nghiệp phụ
thuộc vào công nghệ thâm dụng vốn sử dụng trong nông nghiệp.
Trong giai đoạn phát triển, sản lượng trên một lao động (năng suất lao
động) tăng lên tương ứng với lượng vốn sản xuất sử dụng tăng thêm và thu
nhập của một lao động cũng tăng lên tương ứng.
Mô hình cho thấy, một trong các yếu tố ảnh hưởng tăng trưởng nông
nghiệp chính là lợi thế về quy mô, khả năng cung ứng các yếu tố đầu vào để
nâng cao năng suất đất, mở rộng sản lượng trong nông nghiệp. Phát triển
kinh tế trang trại đáp ứng được yêu cầu này.
- 11 -
1.3.3. Các mô hình phân tích bất bình đẳng về thu nhập và nghèo đói trong
quá trình phát triển kinh tế:
1.3.3.1. Mô hình kuznets:
Kuznets (1995) đã đưa ra mô hình chữ U ngược, thể hiện mối liên hệ
giữa GNP/người và sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.
Hình 1.1. Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
1


0,3
0,6
0,9
Gini Ratio
Per Capita GNP
Ông cho rằng, trong giai đoạn đầu khi GNP/người tăng, hệ số Gini
tăng, tình trạng bất bình đẳng tăng. Tuy nhiên, ở trình độ phát triển cao, khi
GNP/người tăng thì tình trạng bất bình đẳng giảm dần.Thể hiện xu hướng
mang tính tất yếu của quá trình phát triển.
Do vậy, đối với các nước đang phát triển, trong giai đoạn nền kinh tế
tăng trưởng nhanh, GNP/người đang tăng dần thì phải chấp nhận mức độ
phân hoá cách biệt trong phân phối thu nhập. Vấn đề là cần tập trung chính
sách vào mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
1.3.3.2. Mô hình Lewis:
Lewis đồng tình với Kuznets về mô hình chữ U ngược, và tập trung lý
giải nguyên nhân dẫn đến việc xảy ra xu hướng chữ U ngược.


1
Đinh Phi Hổ (chủ biên), năm 2006, Kinh tế phát triển – lý thuyết và thực tiễn, NXB Thống kê.
- 12 -
Theo Lewis, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, tồn tại hai
khu vực: khu vực công nghiệp với tiền lương cao và khu vực nông nghiệp
với tiền lương thấp và đang dư thừa lao động. Khu vực công nghiệp không
ngừng gia tăng tích lũy và tái sản xuất mở rộng từ việc thu hút lao động với
mức lương thấp và dồi dào từ khu vực nông nghiệp. Xuất hiện tình trạng bất
bình đẳng trong phân phối thu nhập tăng nhanh cùng với sự gia tăng của tốc
độ tăng trưởng kinh tế. Quá trình tích lũy và tái sản xuất mở rộng của các
nhà tư bản công nghiệp đến một lúc lao động trở thành nguồn lực khan hiếm,
tiền lương gia tăng và lợi nhuận của nhà tư bản giảm đi. Trong bối cảnh đó,
nhà tư bản sẽ lựa chọn yếu tố đầu vào khác thay thế yếu tố lao động nhằm
gia tăng tích lũy và mở rộng sản lượng. Từ đó, tình trạng bất bình đẳng có xu
hướng giảm đi tương ứng.
Luận điểm của Lewis cho thấy tình trạng bất bình đẳng trong phân
phối thu nhập không những là hệ quả cần thiết của tăng trưởng kinh tế mà
còn là nguyên nhân ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Do vậy, bất kỳ sự
hấp tấp, vội vã trong chính sách nhằm xoá bỏ bất bình đẳng trong phân phối
thu nhập của giai đoạn đầu phát triển kinh tế sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng
kinh tế của quốc gia.
1.3.3.3. Mô hình phân phối lại trước, tăng trưởng sau:
Nhà nước tiến hành công hữu hoá các nguồn lực chủ yếu, sau đó phân
phối lại cho các đơn vị nhà nước và người sản xuất nhỏ trong công nghiệp
cũng như trong nông nghiệp dưới các hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu
tập thể. Phương thức này làm cho tình trạng bất bình đẳng trong phân phối
thu nhập không còn đáng kể. Tuy nhiên, trong dài hạn có hai hệ quả có thể
xảy ra:
Nếu những chủ thể mới (sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể) quản lý
có hiệu quả các nguồn lực sản xuất tốt hơn các chủ thể cũ thì tăng trưởng và
phát triển kinh tế được thực hiện. Như vậy, thực hiện được đồng thời công
bằng trong phân phối thu nhập và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Ngược lại, nếu những người chủ mới không thể quản lý có hiệu quả
thì tăng trưởng và phát triển kinh tế không được bảo đảm thực hiện. Như
- 13 -
vậy, thực hiện được công bằng trong phân phối thu nhập nhưng không thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thực tiễn cho thấy, hệ quả thứ hai thường xuất hiện vì thường những
người chủ mới chưa đủ kinh nghiệm cũng như năng lực quản lý kinh tế và
khả năng tích lũy từ khu vực công và tập thể rất chậm.
1.3.3.4. Mô hình phân phối lại cùng với tăng trưởng của Ngân hàng thế
giới
Theo Worlbank, nguồn lợi từ tăng trưởng kinh tế cần được phân phối
lại sao cho cùng với thời gian thực hiện tăng trưởng, phân phối lại thu nhập
được cải thiện hoặc ít nhất là không xấu đi trong khi quá trình tăng trưởng
vẫn tiến lên.
Nhiều nước đã ứng dụng mô hình này, với các chính sách được thực
hiện như: quy định mức tiền lương tối thiểu, hỗ trợ về vốn và khuyến khích
các dự án giải quyết nhiều lao động, tài trợ cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ; đầu tư cơ sở hạ tầng và tài trợ vốn vào những lĩnh vực mà người nghèo
làm chủ tài sản trong sản xuất; Đầu tư cho giáo dục và đào tạo nghề nhằm cải
thiện trình độ văn hoá, kỹ năng lao động và tạo cơ hội tìm kiếm việc làm;
Đầu tư và mở rộng mạng lưới dịch vụ cộng đồng: nước sạch, y tế, cung cấp
hàng hoá thiết yếu ở nông thôn,
Nhiều chính sách do Worlbank khuyến nghị từ mô hình trên đã được
chính phủ áp dụng trong thực tiễn đổi mới của nước ta, tuy nhiên hiệu quả
trong thực tiễn còn tồn tại một số hạn chế nhất định.
Có thể nói, trong giai đoạn đầu phát triển trong nông nghiệp theo quy luật
cũng không thể tránh khỏi bất bình đẳng trong phân phối thu nhập trong quá trình
tăng trưởng và phát triển. Trong một chừng mực nhất định, chấp nhận có sự tồn tại
bất bình đẳng trong thu nhập để thúc đẩy sản xuất phát triển. Do đó, phát triển kinh
tế trang trại tác động tới tăng trưởng đồng thời bất bình đẳng xuất hiện. Nếu có
chính sách điều tiết tăng trưởng đồng thời quan tâm phát triển lĩnh vực mà người
nghèo có thể tiếp cận thì giải quyết được vấn đề phát triển và giảm bất bình đẳng
nhưng vẫn đảm bảo phát triển bền vững.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét