Nguồn nhân lực là lực lợng con ngời trong một quốc gia. Đây là lực lợng trực
tiếp sản xuất ra sản phẩm nên nó ảnh hởng rất lớn đến điều kiện sản xuất, đặc biệt
là lao động có kỹ năng cao. Lực lợng lao động của một nớc càng có kỹ năng cao
thì nớc đó càng có nhiều khả năng để trở thành nớc xuất khẩu các sản phẩm chế
tạo, đặc biệt là các sản phẩm có hàm lợng kỹ thuật cao giá cả phải chăng trên thị
trờng thế giới. Những thập kỷ qua đã nói lên điều này, nhờ dựa vào lực lợng lao
động dồi dào, giá nhân công rẻ mạt mà các nớc Đông Nam á đã thành công chiến
lợc hớng vào xuất khẩu các sản phẩm có sử dụng nhiều lao động. Hạ tầng cơ sở
của một nớc nh: giao thông vận tải với truyền thông, hệ thống cung cấp điện năng
và các phơng tiện công cộng đóng một vai trò quan trọng về việc có thể thúc đẩy
hoặc kìm hãm sự phát triển thơng mại của một nớc đó đối với thế giới. Ví dụ nh đ-
ờng sá, bến cảng không thích hợp có thể làm tăng chi phí lu thông hàng hoá,
không có điều kiện để phát triển các hoạt động dịch vụ. Ngợc lại, cơ sở hạ tầng tốt
là một nguồn lực phục vụ cho xuất khẩu, nh hệ thống truyền thông tin phát triển
giúp cho các bên liên lạc trao đổi dễ dàng, nhanh, xúc tiến quá trình thơng mại
giữa các nớc.
Hai là, hiệu quả kinh tế theo qui mô, nghĩa là hầu hết các hàng hoá đợc sản
xuất ra đắt hơn khi sản xuất với khối lợng nhỏ, và trở nên rẻ hơn khi qui mô sản
xuất tăng lên. Do vậy mà một nền sản xuất có qui mô lớn ngời ta có thể tiết kiệm
trong việc sử dụng máy móc thiết bị và nguyên liệu. Hơn nữa, do sự phân công
công việc ra giữa nhiều ngời khác nhau, mỗi ngời có thể trở thành chuyên gia
trong một lĩnh vực của quá trình sản xuất thông qua kinh nghiệm và đào tạo
chuyên môn. Hiệu quả kinh tế theo qui mô có ý nghĩa quan trọng cho lĩnh vực
TMQT của các nớc nhỏ, và bị giới hạn nhiều hơn so với các nớc lớn. Điều này cho
thấy tại sao các nớc nhỏ thờng mở rộng thơng mại hơn so với các nớc lớn (khi đo
lờng, chẳng hạn bằng tỷ lệ xuất khẩu/GDP). Đối với các nớc nhỏ việc cố gắng để
sản xuất ra mọi hàng hoá trong nớc chắc chắn là phi hiệu quả. Hiệu quả kinh tế
theo quy mô là lý do quan trọng giải thích TMQT về những hàng hoá nhất định
nào đó.
Ba là, sự khác nhau về thị hiếu, sở thích, phong tục tập quán, sự độc quyền về
bản quyền, bằng phát minh sáng chế, tri thức chuyên môn của một số ngời. Thị
hiếu rất khác nhau cả giữa các nớc và mọi ngời. Điều này nói lên việc buôn bán
các sản phẩm rất khác nhau giữa các nớc tơng tự. Một tác động khác là sự tồn tại
những bằng phát minh sáng chế, quyền sở hữu công nghiệp. Công ty có quyền sở
hữu về một phát minh sáng chế có thể từ chối cấp giấy phép sản xuất hoặc gia
công chế biến đối với các công ty ở nớc khác hoặc chỉ cho phép với điều kiện là
các sản phẩm ấy không đợc xuất khẩu. Điều này tạo cho nớc sở hữu phát minh có
một sự độc quyền thực sự về loại sản phẩm này. Trên thị trờng thế giới.
5
Cuối cùng là, do nhu cầu kinh tế hay sở thích làm giầu mà bất cứ một quốc
gia nào trên thế giới cũng muốn. Muốn đất nớc giàu có thì TMQT phải phát triển.
Những lợi ích mà TMQT đem lại đã làm cho thơng mại và thị trờng thế giới
trở thành nguồn lực của nền kinh tế quốc dân, là nhân tố kích thích sự phát triển
của lực lợng sản xuất, của khoa học công nghệ, là một phơng tiện để thúc đẩy tăng
trởng kinh tế. TMQT vừa là cầu nối kinh tế của mỗi quốc gia với các nớc khác trên
thế giới, vừa là nguồn hậu cần cho sản xuất và đời sống của toàn xã hội văn minh
hơn, thịnh vợng hơn.
Trong thế giới hiện đại không một quốc gia nào bằng chính sách "đóng cửa
với nớc ngoài lại phát triển có hiệu quả nền kinh tế trong nớc". Muốn phát triển
nhanh, mỗi nớc không thể đơn độc dựa vào nguồn lực của mình mà phải tận dụng
có hiệu quả tất cả những thành tựu kinh tế, khoa học kỹ thuật của loài ngời đã đạt
đợc. Nền kinh tế "mở cửa" sẽ mở ra những tiềm năng sẵn có của một nớc nhằm sử
dụng sự phân công lao động quốc tế một cách có lợi nhất.
Nhận thức đợc vấn đề này, Đảng và Nhà nớc ta đã có những bớc đi đúng đắn
trong đờng lối đối ngoại của mình. Với chính sách đa dạng hoá và đa phơng hoá
các quan hệ quốc tế, mở cửa và hớng mạnh ra xuất khẩu đã làm cho nền kinh tế n-
ớc ta sống dậy, hoạt động ngoại thơng trong 10 năm đổi mới đã đạt đợc những
thành tựu đáng kể, nh hoạt động xuất khẩu hàng hoá ở nớc ta không ngừng gia
tăng, từ năm 1986 đến năm 1996 trung bình hàng năm tăng 25-27% đóng góp một
phần không nhỏ cho quá trình phát triển kinh tế của đất nớc. Do vậy, tại Đại hội
Đảng lần thứ VIII, Đảng ta khẳng định: "Tiếp tục thực hiện đờng lối đối ngoại độc
lập tự chủ, mở rộng, đa phơng hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh
thần Việt Nam muốn làm bạn của tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn
đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Hợp tác nhiều mặt song phơng và đa phơng
với các nớc các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ
quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau,
bình đẳng cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và tranh chấp bằng thơng lợng.
2. Khái niệm và các loại hình kinh doanh xuất nhập khẩu chủ yếu.
2.1. Khái niệm
Kinh doanh xuất nhập khẩu là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nớc
thông qua hành vi mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã
hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những ngời sản xuất hàng
hoá riêng biệt của các quốc gia.
6
Kinh doanh xuất nhập khẩu là sự mở rộng của các quan hệ mua bán
trong nớc và ngoài nớc. Trớc đây, khi cha có quan hệ trao đổi hàng hoá, cá nhân
mỗi con ngời cũng nh mỗi quốc gia đều tự thoả mãn lấy các nhu cầu của mình, lúc
đó mọi nhu cầu của con ngời cũng nh của quốc gia bị hạn chế. Quan hệ mua bán
trao đổi hàng hoá xuất hiện khi có sự ra đời cuả quá trình phân công lao động xã
hội và chuyên môn hoá, sở hữu t nhân về t liệu sản xuất. Cùng với sự tiến bộ của
khoa học kỹ thuật và tác động của những quy luật kinh tế khách quan, phạm vi
chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội ngày càng rộng, nó vợt ra khỏi một
nớc và hình thành nên các mối quan hệ giao dịch quốc tế. Chuyên môn hoá và
phân công lao động quốc tế càng sâu sắc, các mối quan hệ quốc tế càng đợc mở
rộng, các nớc càng có sự phụ thuộc lẫn nhau và hình thành các mối quan hệ buôn
bán với nhau.
Tóm lại kinh doanh xuất nhập khẩu là quá trình buôn bán giữa các nớc với
nhau, là lĩnh vực phân phối, lu thông hàng hoá với nớc ngoài .
2.2. Các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu chủ yếu
a/ Các hình thức nhập khẩu
- Nhập khẩu uỷ thác
- Nhập khẩu trực tiếp
- Nhập khẩu hàng đổi hàng
- Tái nhập khẩu
- Tạm nhập, tái xuất
b/ Các hình thức xuất khẩu
- Xuất khẩu hàng hoá dới các hình thức trao đổi hàng hoá, hợp tác sản
xuất và gia công quốc tế.
- Xuất khẩu trực tiếp.
- Xuất khẩu thiết bị toàn bộ, thiết bị lẻ, vật t phụ tùng cho sản xuất.
- Chuyển khẩu- tạm nhập tái xuất.
- Tái xuất khẩu.
7
- Các dịch vụ xuất khẩu nh làm đại lý, uỷ thác cho các tổ chức nớc
ngoài.
- Hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế Việt Nam ở nớc ngoài.
3. Nội dung công tác kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá ở các doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu .
3.1 Nội dung hoạt động xuất nhập khẩu .
Thông thờng nội dung hoạt động bao gồm các nội dung sau:
3.1.1. Nghiên cứu thị trờng
Vấn đề nghiên cứu thị trờng là một việc làm cần thiết đầu tiên với bất cứ
công ty nào muốn tham gia vào thị trờng thế giới. Nghiên cứu thị trờng theo nghĩa
rộng là quá trình điều tra để tìm triển vọng bán hàng cho một sản phẩm cụ thể hay
một nhóm sản phẩm. Quá trình nghiên cứu thị trờng là quá trình thu thập thông
tin, số liệu về thị trờng, so sánh phân tích những số liệu đó và rút ra kết luận để
lập kế hoạch marketing. Khi nghiên cứu thị trờng phải tìm hiểu nớc nào là thị tr-
ờng có triển vọng nhất đối với sản phẩm của công ty? Khả năng số lợng bán ra đợc
bao nhiêu? Sản phẩm cần có những thích ứng gì trớc những đòi hỏi của thị trờng?
Nên chọn phơng pháp bán hàng nào cho phù hợp.
a/ Nghiên cứu thị trờng trong nớc
Trớc hết doanh nghiệp phải nắm chắc tình hình trong nớc về các mặt có
liên quan đến việc xuất nhập khẩu
- Nhận biết hàng hoá xuất nhập khẩu
- Doanh nghiệp nắm chắc các chính sách, chế độ tập quán của nớc liên quan
đến việc xuất nhập khẩu hàng hoá.
b/ Nghiên cứu thị trờng nớc ngoài
Nghiên cứu thị trờng nớc ngoài theo các khía cạnh chủ yếu: đặc tính
hàng hoá, thị hiếu của khách hàng, chính sách tập quán thơng mại, tình hình tài
8
chính, tín dụng, điều kiện chuyên chở và bốc xếp, nắm chắc các điều kiện về phẩm
chất và chủng loại hàng, đặc tính thị trờng nh dung lợng thị trờng, giá thị trờng.
c/ Lựa chọn đối tợng giao dịch.
Trên cùng một thị trờng, cùng một loại hàng có rất nhiều nhà kinh doanh
khác nhau, vì vậy khi lựa chọn cần tìm hiểu về: thái độ chính trị của đối tợng giao
dịch, khả năng kinh tế , loại hình doanh nghiệp, phạm vi kinh doanh, vốn và cơ sở
vật chất kỹ thuật của đối tác , uy tín của đối tác trên thị trờng đó. Lựa chọn đối t-
ợng giao dịch nên dùng các phơng pháp nh qua sách báo, tài liệu, qua t vấn của
nhà nớc , qua điều tra trực tiếp hoặc buôn bán thử để tìm hiểu dần.
3.1.2. Các bớc giao dịch
Sau giai đoạn nghiên cứu tiếp cận thị trờng là giai đoạn giao dịch, thơng l-
ợng với nhau về các điều kiện để đi đến ký kết hợp đồng. Lập kế hoạch cụ thể để
tiến hành hoạt động giao dịch gồm nhiều chi tiết trong đó có các vấn đề sau:
- Hỏi giá: Ngời mua đề nghị ngời bán báo cho mình biết giá cả và các điều
kiện để mua hàng. Nội dung của mục hỏi giá gồm: Tên hàng, quy cách, phẩm
chất, số lợng, thời gian giao hàng.
- Chào hàng: Trong chào hàng nêu rõ: Tên hàng, quy cách phẩm chất, số l-
ợng, giá cả, điều kiện cơ sở giao hàng, thời hạn giao hàng, điều kiện thanh toán,
bao bì, ký mã hiệu, thể thức giao nhận hàng trờng hợp hai bên đã có quan hệ
mua bán với nhau hoặc có điều kiện chung giao hàng điều chỉnh thì chào hàng có
khi nêu những nội dung cần thiết cho lần giao dịch đó nh tên hàng, quy cách,
phẩm chất, số lợng, giá, thời hạn giao hàng. Những điều kiện còn lại sẽ áp dụng
nh những hợp đồng đã ký trớc đó hoặc theo điều kiện chung giao hàng giữa hai
bên.
- Đặt hàng: Trong đặt hàng, ngời mua nêu cụ thể về hàng hoá định mua và
tất cả những nội dung cần thiết cho việc ký kết hợp đồng.
- Hoàn giá: Khi ngời nhận đợc chào hàng (hoặc đặt hàng) không chấp nhận
hoàn toàn chào hàng ( đặt hàng), mà đa ra một đề nghị mới thì đề nghị mới này là
9
hoàn giá. Khi có hoàn giá, chào hàng trớc coi nh huỷ bỏ. Trong buôn bán quốc tế,
mỗi lần giao dịch thờng trải qua nhiều lần hoàn giá mới đi đến kết thúc.
- Chấp nhận: Là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều kiện của chào hàng
(hoặc đặt hàng) mà phía bên kia đa ra. Khi đó hợp đồng đợc thành lập.
- Xác nhận: Hai bên mua và bán, sau khi đã thống nhất thoả thuận với nhau
về điều kiện giao dịch, có khi cẩn thận ghi lại mọi điều đã thoả thuận, gửi đối ph-
ơng. Đó là văn kiện xác nhận. Văn kiện do bên bán gửi thờng gọi là giấy xác nhận
bán hàng, do bên mua gửi là giấy xác nhận mua hàng.
3.1.3. Giao dịch, đàm phán trớc khi ký kết hợp đồng.
- Đàm phán giao dịch qua th tín.
- Đàm phán giao dịch qua điện thoại.
- Giao dịch đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp.
3.1.4. Ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hoá
Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn tới việc ký kết hợp đồng mua
bán ngoại thơng. Hình thức văn bản của hợp đồng là bắt buộc đối với các đơn vị
xuất nhập
khẩu của nớc ta trong quan hệ với nớc ngoài
3.1.5. Tổ chức thực hiện hợp đồngxuất nhập khẩu
Sau khi đã ký kết hợp đồng, các bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo
đúng những điều khoản đã ký trong hợp đồng.
10
11
3.2. Trình tự thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hoá.
* Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá bao gồm các bớc sau:
12
Ký hợp đồng xuất khẩu
Kiểm tra L/C
Xin giấy phép xuất khẩu
Chuẩn bị hàng xuất khẩu
Giao hàng lên tàu
Uỷ thác thuê tàu
Mua bảo hiểm
Làm thủ tục hải quan
Kiểm nghiệm hàng hoá
Làm thủ tục thanh toán
Giải quyết khiếu nại
* Trình tự nhập khẩu hàng hoá bao gồm các bớc sau:
4. Vai trò của xuất nhập khẩu .
13
Ký kết kinh doanh nhập
khẩu
Xin giấy phép nhập khẩu
Mở L/C khi bên bán báo
Đôn đốc bên bán giao hàng
Thuê tàu
Mua bảo hiểm hàng hoá
Làm thủ tục hải quan
Nhận hàng
Kiểm tra hàng hoá
Giao hàng cho đơn vị đặt hàng
Làm thủ tục thanh toán
Khiếu nại về hàng hoá (nếu có)
Xuất nhập khẩu hàng hoá là một hoạt động nằm trong lĩnh vực phân phối
và lu thông hàng hoá của một quá trình tái sản xuất mở rộng nhằm mục đích liên
kết sản xuất với tiêu dùng của nớc này với nớc khác. Hoạt động đó không chỉ diễn
ra giữa các cá thể riêng biệt mà là có sự tham gia của toàn bộ hệ thống kinh tế với
sự điều hành của Nhà nớc.
Chính vì vậy, xuất nhập khẩu có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế
xã hội của mỗi quốc gia. Nền sản xuất xã hội một nớc phát triển nh thế nào phụ
thuộc rất lớn vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh này. Thông qua xuất nhập khẩu
có thể làm tăng ngoại tệ thu đợc, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu cho ngân
sách nhà nớc, kích thích đổi mới công nghệ, tiếp cận đợc phơng thức quản lý và
kinh doanh mới, cải biến cơ cấu kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm, tạo sự cạnh
tranh của hàng hoá nội và ngoại, nâng cao mức sống của ngời dân.
Đối với những nớc mà trình độ phát triển kinh tế còn thấp nh nớc ta,
những nhân tố tiềm năng : tài nguyên thiên nhiên, lao động. Những yếu tố thiếu
hụt : vốn, kỹ thuật, thị trờng và khả năng quản lý. Chiến lợc xuất nhập khẩu có vai
trò quan trọng đối với nớc ta, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại
hoá hiện nay. Về thực chất chiến lợc này là giải pháp mở cửa nền kinh tế nhằm
tranh thủ vốn và kỹ thuật của nớc ngoài, kết hợp chúng với tiềm năng trong nớc về
lao động và tài nguyên thiên nhiên để tạo ra sự tăng trởng mạnh cho nền kinh tế
góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch với các nớc giàu.
Với định hớng phát triển kinh tế xã hội của Đảng, chính sách kinh tế đối
ngoại nói chung và thơng mại nói riêng phải đợc coi là một chính sách cơ cấu có
tầm quan trọng chiến lợc nhằm phục vụ quá trình phát triển của nền kinh tế quốc
dân. Chính sách xuất nhập khẩu phải tranh thủ đợc tới mức cao nhất nguồn vốn kỹ
thuật, công nghệ tiên tiến của nớc ngoài nhằm thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát
triển, giải quyết việc làm cho ngời lao động.
II- những nhân tố chủ yếu ảnh hởng đến xuất nhập khẩu
A. Các nhân tố thuộc môi trờng bên ngoài.
1. Nhân tố kinh tế - xã hội trong nớc.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét